Ngân hàng ngại triển khai gói 2% lãi suất vì sợ “phiền”: Thực hư ra sao?

Chí Tín
(TBTCO) - Việc triển khai gói hỗ trợ 2% lãi suất thời gian qua có những vướng mắc nhất định và thực tế cũng có những yếu tố xuất hiện do tâm lý e ngại từ phía các ngân hàng, hoặc nhân viên ngân hàng. Tuy nhiên, một số ngân hàng cũng đang có giải pháp giải tỏa những e ngại về tâm lý trong nhân viên, đồng thời đề xuất các giải pháp khắc phục các điểm nghẽn hiện tại.
aa

Có thể còn những e ngại

Gói hỗ trợ lãi suất thực hiện trong 2 năm 2022 và 2023 là một trong những nội dung được đề cập tại Nghị quyết 43/2022/QH15 của Quốc hội (về chính sách tài khóa, tiền tệ hỗ trợ chương trình phục hồi và phát triển kinh tế - xã hội) và Nghị quyết 11 /NQ-CP 2022 của Chính phủ về triển khai Nghị quyết 43.

Theo đó, Nghị quyết 43 và Nghị quyết 11 nêu ra một trong các giải pháp là thực hiện hỗ trợ lãi suất (2%/năm) tối đa 40 nghìn tỷ đồng thông qua hệ thống các ngân hàng thương mại cho một số ngành, lĩnh vực quan trọng. Đó là các đối tượng gồm các doanh nghiệp, hợp tác xã, hộ kinh doanh có khả năng trả nợ, có khả năng phục hồi; cho vay cải tạo chung cư cũ, xây dựng nhà ở xã hội, nhà cho công nhân mua, thuê và thuê mua…

Nguồn: Ngân hàng Nhà nước.
Nguồn: Ngân hàng Nhà nước.

Để cụ thể hóa Nghị quyết 43 và Nghị quyết 11, Chính phủ ban hành Nghị định 31/2022/NĐ-CP, Ngân hàng Nhà nước đã ban hành Thông tư 03/2022/TT-NHNN ngày 20/5/2022 hướng dẫn ngân hàng thương mại hỗ trợ lãi suất theo nghị định.

Tuy nhiên, việc thực tế thời gian qua đã có một số vướng mắc phát sinh. Tốc độ triển khai chưa đạt như kỳ vọng. Trong đó, cũng có những ý kiến cho rằng, một số ngân hàng cũng còn có tâm lý ngần ngại về thủ tục thanh, quyết toán sau này. Theo đánh giá của TS. Nguyễn Hữu Huân - Trưởng bộ môn Tài chính thuộc Trường đại học Kinh tế TP. Hồ Chí Minh, sự chậm trễ triển khai gói hỗ trợ 2% lãi suất có nhiều nguyên nhân, nhưng cũng không ngoại trừ nguyên nhân chậm do chính các ngân hàng vẫn có tâm lý “ngại” triển khai do lợi ích từ việc này không lớn, trong khi chi phí vận hành và trách nhiệm đeo nặng trên vai.

Những nhận định này không phải không có căn cứ, bởi thực tế theo phản ánh của đại diện Ngân hàng TMCP Tiên Phong (TPBank), tại cuộc họp tháo gỡ khó khăn gói hỗ trợ 2% lãi suất do NHNN tổ chức hồi tháng 8/2022, ngân hàng này đến nay thậm chí vẫn còn mắc kẹt vài tỷ đồng từ hồi triển khai gói hỗ trợ lãi suất từ năm 2009 mà chưa quyết toán xong.

Băn khoăn là có, nhưng không phải phổ biến

Thực chất tâm lý lo ngại cũng có xuất hiện ở đâu đó trong hệ thống ngân hàng, bà Phạm Thị Thu Ngà - Phó Tổng giám đốc Ngân hàng TMCP Quân đội (MB), cho biết ngay tại MB, trong một số cán bộ cũng có thể có tâm lý e ngại sợ nếu thẩm định không đúng thì có thể gặp những rắc rối về sau. Để khắc phục vấn đề này, Hội sở MB cũng đã động viên cam kết đồng hành với chi nhánh để họ mạnh dạn hơn trong việc tiếp cận các khách hàng đúng đối tượng.

Ngoài ra, bà Ngà cũng đã đề xuất một số giải pháp để khắc phục những vướng mắc nhằm khơi thông gói tín dụng trong thời gian tới. Chẳng hạn nên mở rộng đối tượng là doanh nghiệp lĩnh vực xây lắp, vì đây cũng nhóm doanh nghiệp gặp khó khăn về vốn trong thời gian qua.

Một số kết quả cập nhật về triển khai gói hỗ trợ 2% lãi suất

Theo Ngân hàng Nhà nước (NHNN), đến nay đã 59/63 tỉnh, thành phát sinh các khoản vay có hỗ trợ lãi suất; 63/63 chi nhánh NHNN tại các tỉnh, thành đã thiết lập đường dây nóng để tiếp nhận những phản ánh phát sinh; 15/63 chi nhánh NHNN đã phối hợp với các sở, ngành, hiệp hội, địa phương tổ chức các hội nghị kết nối ngân hàng - doanh nghiệp về hỗ trợ lãi suất.

Tại các ngân hàng thương mại, 16/44 ngân hàng phát sinh dư nợ có hỗ trợ lãi suất, chủ yếu ở các nhóm ngành có thỏa thuận cho vay từ 1/1/2022. Từ thực tế nhu cầu và hấp thụ chính sách hỗ trợ lãi suất, NHNN đã có văn bản đề nghị các ngân hàng thương mại báo cáo kết quả triển khai vào cuối tháng 9/2022 và rà soát khách hàng để triển khai gói hỗ trợ lãi suất, khả năng hỗ trợ dự kiến… Đến hết tháng 8/2022, doanh số cho vay được hỗ trợ lãi suất khoảng 10.700 tỷ đồng với gần 580 khách hàng.

Thực tế trên cho thấy, tâm lý e ngại trong các ngân hàng, hoặc nhân viên ngân hàng là có, nhưng theo phản ánh phần lớn ngân hàng đang có triển khai gói hỗ trợ lãi suất, những khó khăn làm chậm quá trình triển khai gói 2% lãi suất thời gian qua đến từ các lý do khách quan nhiều hơn.

Còn phía các ngân hàng đang đồng thuận triển khai, đơn cử TPBank, các thông tin chia sẻ gần đây cũng cho thấy ngân hàng này cũng không phải vì còn mắc kẹt một ít tiền trong thanh quyết toán gói hỗ trợ lãi suất lần trước, mà tỏ ra “dửng dưng” trong việc triển khai lần này. Trao đổi với phóng viên TBTCVN mới đây, đại diện TPBank cho biết, đã tiếp cận và tư vấn gần 500 khách hàng và hiện có khoảng 50 khách hàng đang bổ sung hồ sơ để chờ phê duyệt, tổng dư nợ TPBank đã hỗ trợ khách hàng theo gói hỗ trợ lãi suất này đạt gần 23 tỷ đồng.

NHNN cho biết, tình hình chung các ngân hàng thương mại đã vào cuộc rất tích cực, thể hiện như việc khẩn trương ban hành quy định nội bộ; tổ chức tập huấn toàn hệ thống, rà soát đối tượng thụ hưởng, chủ động thông tin tuyên truyền… Thời gian tới, NHNN sẽ tiếp tục chỉ đạo các ngân hàng thương mại triển khai trên cơ sở tuân thủ quy định pháp luật; tiếp tục phối hợp chặt chẽ với các bộ, ngành liên quan kịp thời tháo gỡ vướng mắc phát sinh trong triển khai chương trình.

Chí Tín

Đọc thêm

Tỷ giá USD hôm nay (29/9): USD “lặng sóng” trong nước, thị trường dõi theo khả năng Úc và Ấn Độ tăng lãi suất

Tỷ giá USD hôm nay (29/9): USD “lặng sóng” trong nước, thị trường dõi theo khả năng Úc và Ấn Độ tăng lãi suất

(TBTCO) - Sáng 29/9, tỷ giá trung tâm giảm 2 đồng xuống 25.630 đồng, trong khi USD tại ngân hàng và thị trường tự do đi ngang. Chỉ số DXY nhích nhẹ 0,02% lên 101,21 điểm, duy trì vùng cao hai tháng. Thị trường hướng sự chú ý tới các quyết định chính sách sắp tới, khi kỳ vọng ngân hàng trung ương Ấn Độ và Úc đều tăng lãi suất thêm 25 điểm cơ bản.
PVcomBank tăng vốn sau hơn một thập kỷ và “ẩn số” nhà đầu tư khi chào bán cổ phiếu cao hơn 50% thị giá

PVcomBank tăng vốn sau hơn một thập kỷ và “ẩn số” nhà đầu tư khi chào bán cổ phiếu cao hơn 50% thị giá

(TBTCO) - PVcomBank chốt giá chào bán riêng lẻ 300 triệu cổ phiếu ở mức 13.628 đồng/cổ phần, cao hơn 53% thị giá PCB kết phiên ngày 28/9. Trong bối cảnh hoạt động kinh doanh còn nhiều áp lực, danh tính nhà đầu tư và tỷ lệ cổ phần được phân phối là những điểm đáng chú ý.
Việt Nam giữ vững “tay lái” chính sách tiền tệ

Việt Nam giữ vững “tay lái” chính sách tiền tệ

(TBTCO) - Chỉ trong hơn một tuần, ba ngân hàng trung ương lớn đồng loạt tăng lãi suất 0,25 điểm phần trăm khi nỗi lo lạm phát dai dẳng. USD mạnh lên gây áp lực tỷ giá, đặt ra câu hỏi liệu Việt Nam có “nối gót” xu hướng thắt chặt. Tuy nhiên, mục tiêu tăng trưởng hai con số và dư địa điều hành tỷ giá đang tạo cơ sở để duy trì chính sách tiền tệ hỗ trợ nền kinh tế.
Từ dữ liệu đến dòng tiền, rút ngắn đường tiếp cận vốn cho doanh nghiệp vừa và nhỏ

Từ dữ liệu đến dòng tiền, rút ngắn đường tiếp cận vốn cho doanh nghiệp vừa và nhỏ

(TBTCO) - Thay vì phụ thuộc vào tài sản thế chấp hay hồ sơ tín dụng mỏng vốn khiến nhiều doanh nghiệp vừa và nhỏ khó tiếp cận vốn, ngành ngân hàng đang đẩy mạnh số hóa và liên thông dữ liệu các ngành. Bước đi này giúp nhà băng "đọc vị" chính xác sức khỏe tài chính và dòng tiền doanh nghiệp, rút ngắn đường tiếp cận vốn cho doanh nghiệp vừa và nhỏ.
Vietcombank nối dài hành trình chuyển đổi số cùng tiểu thương trên cả nước

Vietcombank nối dài hành trình chuyển đổi số cùng tiểu thương trên cả nước

(TBTCO) - Từ Thái Nguyên, Đồng Tháp, Đắk Lắk đến Hưng Yên, Vietcombank đã đồng hành cùng chuỗi Chương trình Hỗ trợ tiểu thương ứng dụng thương mại điện tử, đưa các giải pháp tài chính số đến gần hơn với hoạt động kinh doanh hằng ngày, góp phần hình thành hệ sinh thái thương mại hiện đại, minh bạch và bền vững.
Giá vàng hôm nay ngày 27/9: Giá vàng thế giới và trong nước ít biến động

Giá vàng hôm nay ngày 27/9: Giá vàng thế giới và trong nước ít biến động

(TBTCO) - Vàng thế giới gần như đi ngang ở mức 4.284 USD/ounce. Trong nước, vàng miếng ổn định, vàng nhẫn giảm nhẹ tại một số doanh nghiệp.
Vietcombank khánh thành nhà bán trú Trường Tiểu học Co Mạ, tiếp sức học sinh vùng cao Sơn La

Vietcombank khánh thành nhà bán trú Trường Tiểu học Co Mạ, tiếp sức học sinh vùng cao Sơn La

(TBTCO) - Ngày 19/9/2026, tại điểm trường Po Mậu, Trường Tiểu học Co Mạ, xã Co Mạ, tỉnh Sơn La, Ngân hàng TMCP Ngoại thương Việt Nam (Vietcombank) phối hợp với Ủy ban Chứng khoán Nhà nước (UBCKNN) và UBND xã Co Mạ tổ chức Lễ khánh thành công trình Nhà bán trú Trường Tiểu học Co Mạ. Công trình có tổng mức đầu tư 2 tỷ đồng do Vietcombank phối hợp với UBCKNN tài trợ, góp phần cải thiện điều kiện sinh hoạt, học tập cho học sinh vùng cao.
Chi phí vốn ngân hàng ngày càng đắt đỏ, khó quay lại vùng thấp

Chi phí vốn ngân hàng ngày càng đắt đỏ, khó quay lại vùng thấp

(TBTCO) - Chi phí lãi của 27 ngân hàng niêm yết tăng mạnh 49% nửa đầu năm, khi nhiều nguồn vốn trở nên đắt đỏ hơn. Trước sức ép này, các ngân hàng tìm cách mở rộng kênh huy động, giữ chân, thu hút thêm CASA bằng các sản phẩm "lai". Tuy nhiên, chi phí vốn được dự báo khó sớm trở lại vùng thấp.
Xem thêm
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 139,000 ▼400K 142,000 ▼400K
Hà Nội - PNJ 139,000 ▼400K 142,000 ▼400K
Đà Nẵng - PNJ 139,000 ▼400K 142,000 ▼400K
Miền Tây - PNJ 139,000 ▼400K 142,000 ▼400K
Tây Nguyên - PNJ 139,000 ▼400K 142,000 ▼400K
Đông Nam Bộ - PNJ 139,000 ▼400K 142,000 ▼400K
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 13,900 ▼40K 14,200 ▼40K
Miếng SJC Nghệ An 13,900 ▼40K 14,200 ▼40K
Miếng SJC Thái Bình 13,900 ▼40K 14,200 ▼40K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 13,850 ▼40K 14,250 ▼40K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 13,850 ▼40K 14,250 ▼40K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 13,850 ▼40K 14,250 ▼40K
NL 99.99 13,300 ▼100K
Nhẫn Tròn Thái Bình 13,200 ▼100K
Trang sức 99.9 13,560 ▼40K 14,160 ▼40K
Trang sức 99.99 13,570 ▼40K 14,170 ▼40K
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 139 ▼1255K 142 ▼1282K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 139 ▼1255K 14,202 ▼40K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 139 ▼1255K 14,203 ▼40K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,385 ▼4K 1,415 ▼4K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,385 ▼4K 1,416 ▲1274K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 136 ▼1228K 1,405 ▼4K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 132,109 ▼396K 139,109 ▼396K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 95,736 ▼300K 105,536 ▼300K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 859 ▼85313K 957 ▼95015K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 76,064 ▼244K 85,864 ▼244K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 7,227 ▼65276K 8,207 ▼74096K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 48,944 ▼167K 58,744 ▼167K
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 139 ▼1255K 142 ▼1282K
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 139 ▼1255K 142 ▼1282K
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 139 ▼1255K 142 ▼1282K
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 139 ▼1255K 142 ▼1282K
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 139 ▼1255K 142 ▼1282K
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 139 ▼1255K 142 ▼1282K
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 139 ▼1255K 142 ▼1282K
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 139 ▼1255K 142 ▼1282K
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 139 ▼1255K 142 ▼1282K
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 139 ▼1255K 142 ▼1282K
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 139 ▼1255K 142 ▼1282K
Cập nhật: 29/09/2026 12:30
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17683 17957 18538
CAD 17793 18067 18680
CHF 30562 30938 31586
CNY 0 3831 3926
EUR 28897 29115 30194
GBP 33615 34003 34938
HKD 0 3180 3382
JPY 158 162 169
KRW 0 18 20
NZD 0 14413 15001
SGD 19781 20063 20639
THB 688 751 805
USD (1,2) 25712 0 0
USD (5,10,20) 25751 0 0
USD (50,100) 25779 25793 26159
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 25,790 25,790 26,170
USD(1-2-5) 24,759 - -
USD(10-20) 24,759 - -
EUR 28,950 28,973 30,345
JPY 160.63 160.92 170.65
GBP 33,794 33,885 35,063
AUD 17,877 17,942 18,628
CAD 17,977 18,035 18,699
CHF 30,817 30,913 31,847
SGD 19,909 19,971 20,754
CNY - 3,797 3,942
HKD 3,244 3,254 3,391
KRW 17.61 18.36 19.98
THB 736.96 746.06 798.83
NZD 14,380 14,514 14,948
SEK - 2,562 2,653
DKK - 3,883 4,020
NOK - 2,675 2,771
LAK - 0.88 1.23
MYR 5,945.89 - 6,714.59
TWD 736.8 - 892.67
SAR - 6,801.44 7,164.49
KWD - 82,145 87,410
AED - 6,817 7,346
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 25,760 25,790 26,170
EUR 28,988 29,104 30,304
GBP 33,802 33,938 34,958
HKD 3,244 3,257 3,374
CHF 30,695 30,818 31,745
JPY 161.21 161.86 169.84
AUD 17,879 17,951 18,542
SGD 19,983 20,063 20,655
THB 754 757 794
CAD 17,992 18,064 18,651
NZD 14,464 15,004
KRW 18.30 20.28
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 25780 25780 26160
AUD 17856 17956 18878
CAD 17959 18059 19074
CHF 30796 30826 32400
CNY 3810.1 3835.1 3970.3
CZK 0 1170 0
DKK 0 3970 0
EUR 29063 29093 30819
GBP 33893 33943 35704
HKD 0 3315 0
JPY 161.45 161.95 172.49
KHR 0 6.097 0
KRW 0 18.8 0
LAK 0 1.0945 0
MYR 0 6470 0
NOK 0 2745 0
NZD 0 14494 0
PHP 0 380 0
SEK 0 2635 0
SGD 19940 20070 20795
THB 0 717 0
TWD 0 810 0
SJC 9999 14050000 14050000 14320000
SBJ 12000000 12000000 14320000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 25,676 25,796 26,170
USD20 25,646 25,796 26,170
USD1 25,626 25,796 26,170
AUD 17,902 18,002 19,121
EUR 28,868 28,968 30,645
CAD 17,913 18,013 19,330
SGD 20,018 20,168 20,736
JPY 161.99 163.49 169.15
GBP 33,800 33,950 35,286
XAU 13,938,000 0 14,242,000
CNY 0 3,721 0
THB 0 753 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 29/09/2026 12:30
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
BIDV 0,10 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
VietinBank 0,10 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
Agribank 0,20 - - - 2,60 2,60 2,90 4,00 4,00 5,90 6,00
ACB 0,50 - - - 4,00 4,20 4,40 4,50 4,70 5,30 5,40
Sacombank 0,50 - - - 4,75 4,75 4,75 6,30 6,30 6,10 6,80
Techcombank 0,05 - - - 4,20 4,20 4,50 6,20 6,20 6,40 5,50
LPBank 0,20 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 4,60 4,60
Vikki Bank 0,49 0,49 - - 4,64 4,64 4,64 5,75 5,52 5,76 5,43
Eximbank 0,20 0,20 0,20 0,20 2,80 3,00 3,10 4,20 4.00 4,70 5,30