Nhu cầu tín dụng nhích tăng nhờ cầu phục hồi và nỗ lực bơm vốn rẻ

Thái Duy
Đến ngày 10/3, tăng trưởng tín dụng đạt 3,11%, cao hơn khoảng 2 điểm phần trăm so với cùng kỳ năm ngoái và 0,6 điểm phần trăm so với mức tăng trưởng ghi nhận vào 25/2. Điều này phản ánh nhu cầu tín dụng tăng dần của doanh nghiệp sau dịch bệnh, cùng với nỗ lực hỗ trợ bơm vốn rẻ của các ngân hàng qua những chương trình cho vay ưu đãi.
aa

Tín dụng tiếp tục phục hồi

Theo số liệu từ SSI Research, tuần qua, Ngân hàng Nhà nước (NHNN) bơm 411 tỷ đồng vào hệ thống ngân hàng thông qua nghiệp vụ mua kỳ hạn 14 ngày với lãi suất 2,5%/năm, trong khi đó có 678 tỷ đồng tín phiếu đáo hạn. Tổng lượng tín phiếu đang lưu hành ghi nhận ở mức 1,43 nghìn tỷ đồng.

Lãi suất VND trên thị trường liên ngân hàng hầu như đi ngang xuyên suốt tuần qua và kết tuần, kỳ hạn qua đêm ở mức 2,26% (tăng 1 điểm cơ bản) và kỳ hạn 1 tuần 2,44% (tăng 5 điểm cơ bản).

Các chuyên gia SSI Research cho rằng, nhiều khả năng mặt bằng lãi suất này đang thiết lập mới, cao hơn nhiều so với bình quân trong năm 2021 dưới áp lực của tín dụng hồi phục.

Nhu cầu tín dụng nhích tăng nhờ cầu phục hồi và nỗ lực bơm vốn rẻ

Theo kết quả điều tra xu hướng tín dụng của NHNN, các tổ chức tín dụng ước tính tín dụng tăng 5,3% trong quý I/2022 và 14,1% cả năm 2022 so với cuối năm 2021. Trên thực tế, theo số liệu từ NHNN, đến ngày 10/3, tăng trưởng tín dụng đạt 3,11%, cao hơn khoảng 2 điểm phần trăm so với cùng kỳ năm ngoái và 0,6 điểm phần trăm so với mức tăng trưởng ghi nhận vào 25/2.

Các chuyên gia của SSI Research cho rằng, sự phục hồi mạnh mẽ của tín dụng trong giai đoạn đầu năm 2022 phản ánh nhu cầu tín dụng tăng dần của doanh nghiệp sau khi bị gián đoạn do dịch bệnh, cùng với nỗ lực hỗ trợ bơm vốn rẻ của hệ thống ngân hàng thông qua các chương trình cho vay ưu đãi.

Cụ thể, Vietcombank đang triển khai chương trình lãi suất ưu đãi với quy mô 49 nghìn tỷ đồng dành cho doanh nghiệp vừa và nhỏ trong thời gian từ 15/3/2022 đến hết ngày 31/3/2023 và lãi suất từ 5,6% - 8,3%/năm. Tương tự, BIDV cũng thực hiện chương trình ưu đãi tín dụng với quy mô 200.000 tỷ đồng, trong đó 100.000 tỷ đồng dành cho khách hàng cá nhân vay vốn sản xuất kinh doanh ngắn hạn với lãi suất ưu đãi chỉ từ 5%/năm (kỳ hạn dưới 6 tháng) và 5,5%/năm cho kỳ hạn 6 - 12 tháng.

“Chúng tôi duy trì quan điểm mặt bằng lãi suất trên thị trường đã tạo đáy và kỳ vọng nhích tăng dần về cuối năm. Mức tăng lãi suất sẽ phụ thuộc nhiều vào khả năng hồi phục của nền kinh tế và diễn biến của lạm phát” – Chuyên gia SSI Research nhấn mạnh.

Tỷ giá vẫn ổn định dù FED tăng lãi suất

Trong tuần qua, thị trường tập trung chú ý vào cuộc họp chính sách tháng 3 của Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (FED). Theo đó, FED đã quyết định nâng lãi suất cơ bản lần đầu tiên trong vòng hơn 3 năm qua và có dự kiến sẽ có thêm 6 lần tăng lãi suất trong năm nay.

Bên cạnh đó, FED đã điều chỉnh lại một số dự báo đối với kinh tế Mỹ trước những diễn biến bất ngờ của thị trường hàng hóa và ảnh hưởng của cuộc xung đột Nga - Ukraine. Cụ thể, FED dự báo tăng trưởng của nền kinh tế Mỹ trong năm 2022 sẽ đạt 2,8%, giảm khá nhiều so với dự báo 4% hồi tháng 12/2021 và lạm phát vào cuối năm nay sẽ ở mức khoảng 4,3%, cao hơn nhiều tỷ lệ lạm phát mục tiêu 2%.

Nhìn chung, các chuyên gia của SSI Research cho biết, các thông báo của FED không gây ra nhiều bất ngờ và giúp diễn biến thị trường tương đối ổn định. Ngoại trừ lợi suất trái phiếu chính phủ Mỹ tăng 15 điểm cơ bản, lên 2,15%. Đồng USD hầu như không có nhiều biến động sau phiên họp và kết tuần chỉ số Dollar-Index giảm 0,9%. Các đồng tiền chủ chốt khác đều tăng giá như EUR +1,2%, GBP +1,1%.

Nhu cầu tín dụng nhích tăng nhờ cầu phục hồi và nỗ lực bơm vốn rẻ

Đối với thị trường ngoại hối trong nước, trong tuần qua, đồng VND giao dịch tương đối ổn định. Trên thị trường liên ngân hàng, USD/VND giao dịch ổn định quanh mức 22.870 đồng/USD, trong khi tỷ giá niêm yết tại các ngân hàng thương mại giảm 10 đồng, kết tuần ở mức 22.690/23.000 đồng (mua vào/bán ra). Tỷ giá trên thị trường tự do cũng giảm nhiệt, giao dịch ở 23.440/23.520 đồng.

Giá vàng trong nước đã nhanh chóng hạ nhiệt, tuy nhiên tốc độ chậm hơn nhiều so với giá vàng thế giới. Cụ thể, giá vàng thế giới giảm mạnh 3,4% trong tuần qua sau lo ngại về Trung Quốc đóng cửa, trong khi đó giá vàng trong nước chỉ giảm 0,4%, giao dịch quanh mức 68 - 69 triệu đồng/lượng./.

Thái Duy

Đọc thêm

Giải mã nhận diện mới của SHB: Khi thiết kế kể câu chuyện ngân hàng đồng hành cùng đất nước, hòa nhịp cùng thời đại trong vận hội mới

Giải mã nhận diện mới của SHB: Khi thiết kế kể câu chuyện ngân hàng đồng hành cùng đất nước, hòa nhịp cùng thời đại trong vận hội mới

(TBTCO) - Ngay khi Ngân hàng TMCP Sài Gòn – Hà Nội (SHB) công bố bộ nhận diện thương hiệu mới tại Đại hội đồng cổ đông thường niên 2026, cộng đồng khách hàng và giới quan sát thị trường đã nhanh chóng bày tỏ nhiều phản hồi tích cực.
Giá vàng hôm nay ngày 6/5: Giá vàng thế giới tăng lên ngưỡng 4.586 USD/ounce

Giá vàng hôm nay ngày 6/5: Giá vàng thế giới tăng lên ngưỡng 4.586 USD/ounce

(TBTCO) - Giá vàng thế giới sáng 6/5 giao dịch quanh mức 4.586 USD/ounce, tăng 31 USD/ounce so với hôm qua và thấp hơn giá vàng miếng trong nước gần 20 triệu đồng/lượng.
Thanh toán không dùng tiền mặt tiếp đà tăng tốc, số máy ATM giảm hơn 3%

Thanh toán không dùng tiền mặt tiếp đà tăng tốc, số máy ATM giảm hơn 3%

(TBTCO) - Thông tin từ Ngân hàng Nhà nước cho thấy, hoạt động thanh toán không dùng tiền mặt tiếp tục phát triển mạnh. Giá trị thanh toán không dùng tiền mặt gấp khoảng 28 lần GDP, trong quý I/2026, số lượng giao dịch tăng 37,98% và giá trị tăng 14,22% cùng kỳ. Đáng chú ý, nhiều tổ chức tín dụng ghi nhận hơn 90% giao dịch thực hiện qua kênh số, phản ánh xu hướng số hóa ngày càng rõ nét.
Hệ thống SIMO triển khai tại 149 đơn vị, chặn hơn 4.300 tỷ đồng giao dịch rủi ro qua ngân hàng

Hệ thống SIMO triển khai tại 149 đơn vị, chặn hơn 4.300 tỷ đồng giao dịch rủi ro qua ngân hàng

(TBTCO) - Theo Ngân hàng Nhà nước, công tác đảm bảo an ninh, an toàn trong hoạt động thanh toán luôn được quan tâm chú trọng, song hành với chuyển đổi số. Hệ thống SIMO đã triển khai tới 149 đơn vị, cảnh báo hơn 3,8 triệu lượt khách hàng, giúp ngăn chặn giao dịch rủi ro trị giá trên 4,3 nghìn tỷ đồng. Đồng thời, dữ liệu từ 156,6 triệu hồ sơ khách hàng đã được đối chiếu, làm sạch.
Ngân hàng lãi lớn vượt 94.000 tỷ đồng quý I/2026, vẫn có 8 nhà băng "đi ngược"

Ngân hàng lãi lớn vượt 94.000 tỷ đồng quý I/2026, vẫn có 8 nhà băng "đi ngược"

(TBTCO) - Bức tranh lợi nhuận quý I/2026 của 27 ngân hàng niêm yết đã lộ diện, với tổng lợi nhuận trước thuế đạt 94.200 tỷ đồng, tăng 14,1% cùng kỳ. Tuy nhiên, sự phân hóa diễn ra rõ nét khi 19 ngân hàng giữ đà tăng trưởng, có nơi bứt phá bằng lần; ngược lại, không ít nhà băng giảm sâu, kéo theo biến động mạnh trên bảng xếp hạng toàn ngành.
Tỷ giá USD hôm nay (5/5): Tỷ giá trong nước cùng lùi nhẹ, USD giữ sức chờ tín hiệu đàm phán Mỹ - Iran

Tỷ giá USD hôm nay (5/5): Tỷ giá trong nước cùng lùi nhẹ, USD giữ sức chờ tín hiệu đàm phán Mỹ - Iran

(TBTCO) - Sáng ngày 5/5, tỷ giá trung tâm giảm nhẹ 1 đồng xuống 25.111 đồng, tỷ giá USD tự do lùi nhẹ 10 đồng, trong khi DXY nhích lên 98,49 điểm. Đồng bạc xanh duy trì sức mạnh khi căng thẳng tại eo biển Hormuz chưa hạ nhiệt, đe dọa nguồn cung dầu toàn cầu, dù đàm phán Mỹ - Iran có tín hiệu tiến triển giúp giá dầu tạm điều chỉnh giảm.
Moody’s nâng Triển vọng HDBank lên “Tích cực”, mở ra khả năng tiếp tục nâng hạng tín nhiệm

Moody’s nâng Triển vọng HDBank lên “Tích cực”, mở ra khả năng tiếp tục nâng hạng tín nhiệm

(TBTCO) - Tổ chức xếp hạng tín nhiệm toàn cầu Moody’s Ratings vừa công bố kết quả rà soát định kỳ đối với Ngân hàng TMCP Phát triển TP. Hồ Chí Minh (HDBank - HOSE: HDB), trong đó duy trì các mức xếp hạng chủ chốt và nâng Triển vọng xếp hạng từ “Ổn định” lên “Tích cực”.
Tập đoàn Bảo Việt (BVH): Lợi nhuận trước thuế hợp nhất quý I/2026 đạt 1.006 tỷ đồng, tăng trưởng 18,7%

Tập đoàn Bảo Việt (BVH): Lợi nhuận trước thuế hợp nhất quý I/2026 đạt 1.006 tỷ đồng, tăng trưởng 18,7%

(TBTCO) - Tập đoàn Bảo Việt công bố kết quả kinh doanh quý I/2026 (trước soát xét), theo đó công ty mẹ và các đơn vị thành viên ghi nhận mức tăng trưởng khả quan với tổng doanh thu hợp nhất đạt 15.610 tỷ đồng, tăng 9,1% so với cùng kỳ năm 2025.
Xem thêm

Mới nhất Đọc nhiều

DOJI Giá mua Giá bán
SJC -Bán Lẻ 16,300 ▲100K 16,600 ▲100K
Kim TT/AVPL 16,300 ▲100K 16,600 ▲100K
NHẪN TRÒN 9999 HƯNG THỊNH VƯỢNG 16,300 ▲100K 16,600 ▲100K
Nguyên Liệu 99.99 15,250 ▲160K 15,450 ▲160K
Nguyên Liệu 99.9 15,200 ▲160K 15,400 ▲160K
NỮ TRANG 9999 - BÁN LẺ 16,050 ▲160K 16,450 ▲160K
NỮ TRANG 999 - BÁN LẺ 16,000 ▲160K 16,400 ▲160K
Nữ trang 99 - Bán Lẻ 15,930 ▲160K 16,380 ▲160K
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 163,000 ▲1300K 166,000 ▲1300K
Hà Nội - PNJ 163,000 ▲1300K 166,000 ▲1300K
Đà Nẵng - PNJ 163,000 ▲1300K 166,000 ▲1300K
Miền Tây - PNJ 163,000 ▲1300K 166,000 ▲1300K
Tây Nguyên - PNJ 163,000 ▲1300K 166,000 ▲1300K
Đông Nam Bộ - PNJ 163,000 ▲1300K 166,000 ▲1300K
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 16,300 ▲100K 16,600 ▲100K
Miếng SJC Nghệ An 16,300 ▲100K 16,600 ▲100K
Miếng SJC Thái Bình 16,300 ▲100K 16,600 ▲100K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 16,300 ▲100K 16,600 ▲100K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 16,300 ▲100K 16,600 ▲100K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 16,300 ▲100K 16,600 ▲100K
NL 99.90 14,950 ▲150K
NL 99.99, Nhẫn Tròn Thái Bình 15,000 ▲150K
Trang sức 99.9 15,790 ▲100K 16,490 ▲100K
Trang sức 99.99 15,800 ▲100K 16,500 ▲100K
SJC Giá mua Giá bán
Cập nhật: 06/05/2026 13:00
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 18529 18805 19386
CAD 18832 19110 19732
CHF 33103 33489 34139
CNY 0 3819 3912
EUR 30257 30531 31556
GBP 34956 35350 36292
HKD 0 3229 3430
JPY 162 166 172
KRW 0 16 18
NZD 0 15336 15932
SGD 20152 20435 20963
THB 727 790 843
USD (1,2) 26056 0 0
USD (5,10,20) 26097 0 0
USD (50,100) 26126 26145 26368
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,128 26,128 26,368
USD(1-2-5) 25,083 - -
USD(10-20) 25,083 - -
EUR 30,429 30,453 31,736
JPY 162.98 163.27 172.19
GBP 35,207 35,302 36,336
AUD 18,723 18,791 19,405
CAD 19,060 19,121 19,719
CHF 33,382 33,486 34,292
SGD 20,314 20,377 21,069
CNY - 3,793 3,917
HKD 3,303 3,313 3,433
KRW 16.71 17.43 18.86
THB 776.17 785.76 836.73
NZD 15,293 15,435 15,808
SEK - 2,812 2,897
DKK - 4,072 4,193
NOK - 2,810 2,899
LAK - 0.92 1.27
MYR 6,249.65 - 7,017.37
TWD 756.3 - 911.27
SAR - 6,919.3 7,248.53
KWD - 83,885 88,771
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,118 26,138 26,368
EUR 30,290 30,412 31,593
GBP 35,110 35,251 36,263
HKD 3,292 3,305 3,420
CHF 33,107 33,240 34,183
JPY 163.10 163.75 171.17
AUD 18,663 18,738 19,336
SGD 20,326 20,408 20,992
THB 792 795 830
CAD 19,010 19,086 19,667
NZD 15,335 15,870
KRW 17.30 19.03
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26120 26120 26368
AUD 18658 18758 19683
CAD 19004 19104 20115
CHF 33273 33303 34890
CNY 3793.2 3818.2 3953.4
CZK 0 1220 0
DKK 0 4140 0
EUR 30391 30421 32146
GBP 35218 35268 37036
HKD 0 3355 0
JPY 163.45 163.95 174.46
KHR 0 6.097 0
KRW 0 17.4 0
LAK 0 1.165 0
MYR 0 6840 0
NOK 0 2772 0
NZD 0 15376 0
PHP 0 400 0
SEK 0 2840 0
SGD 20293 20423 21145
THB 0 756.3 0
TWD 0 820 0
SJC 9999 16200000 16200000 16700000
SBJ 14000000 14000000 16700000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,155 26,205 26,368
USD20 26,155 26,205 26,368
USD1 26,155 26,205 26,368
AUD 18,754 18,854 19,963
EUR 30,553 30,553 31,964
CAD 18,957 19,057 20,365
SGD 20,370 20,520 21,075
JPY 163.75 165.25 169.81
GBP 35,118 35,468 36,600
XAU 16,448,000 0 16,752,000
CNY 0 3,710 0
THB 0 790 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 06/05/2026 13:00
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80