Phần lớn doanh nghiệp đủ điều kiện không quan tâm đến hỗ trợ lãi suất

Hoàng Yến
(TBTCO) - Theo Thống đốc Ngân hàng Nhà nước (NHNN) Nguyễn Thị Hồng, qua khảo sát ở địa phương, trong số 183 khách hàng đủ điều kiện vay vốn hỗ trợ, có tới 126 khách hàng không quan tâm đến hỗ trợ lãi suất và 46 khách hàng chưa có phản hồi.
aa
Ngân hàng hoang mang về khái niệm “khả năng phục hồi” Tốc độ giải ngân gói hỗ trợ lãi suất không phụ thuộc vào room tín dụng Ngân hàng Nhà nước tiếp tục yêu cầu các ngân hàng báo cáo gói cho vay hỗ trợ lãi suất 2%

Chiều 28/10, Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Nguyễn Thị Hồng đã báo cáo trước Quốc hội một số nhóm vấn đề đã được đại biểu thảo luận trong hai ngày nay.

Phải đánh đổi giữa các mục tiêu

Về điều hành lãi suất tín dụng và tỷ giá, Thống đốc cho biết, bối cảnh năm 2022 biến động rất lớn và khó khăn hơn nhiều so với dự kiến cuối năm 2021. Đến nay có đến 80 nước trên thế giới có mức lạm phát từ 2 con số trở lên. FED và ngân hàng trung ương các nước đã tăng mạnh lãi suất nhanh hơn dự kiến. Đặc biệt là đồng USD tăng mạnh làm cho các đồng tiền trên thế giới và khu vực mất giá rất mạnh, dự trữ ngoại hối các nước đều suy giảm mạnh.

Điều này khiến cho ngân hàng trung ương các nước đều rất khó khăn. Ở trong nước, diễn biến của thị trường trái phiếu doanh nghiệp, bất động sản, chứng khoán cũng tác động rất mạnh đến hoạt động tiền tệ và ngân hàng. Trong 9 tháng đầu năm, NHNN đã bám sát diễn biến kinh tế vĩ mô tiền tệ và điều hành linh hoạt, đồng bộ, góp phần kiểm soát lạm phát ở mức bình quân 9 tháng là 2,73%, thấp hơn rất nhiều so với các nước trên thế giới và khu vực.

Tuy nhiên, đến tháng 10, thị trường tiền tệ và ngoại hối biến động rất mạnh mà chủ yếu là do tác động bởi tâm lý kỳ vọng. Đặc biệt có những thông tin không đúng sự thật tác động tới hoạt động của các tổ chức tín dụng cũng như thị trường.

Phần lớn doanh nghiệp đủ điều kiện không quan tâm đến hỗ trợ lãi suất

Thống đốc NHNN Nguyễn Thị Hồng

Về phía NHNN, Thống đốc cho biết trọng tâm, trọng điểm thời gian này là ổn định được hoạt động của hệ thống ngân hàng và sẵn sàng thanh khoản đáp ứng nhu cầu chi trả cho các tổ chức tín dụng. Đối với thị trường ngoại hối, NHNN chủ động cho phép tỷ giá biến động linh hoạt hơn, phải tăng lãi suất để kiểm soát tỷ giá. “Bởi vì nếu như ổn định lãi suất thì không thể nào góp phần kiểm soát được thị trường ngoại hối, mà thị trường ngoại hối ổn định là vô cùng quan trọng đối với niềm tin của nhà đầu tư nước ngoài vào Việt Nam” - Thống đốc Nguyễn Thị Hồng khẳng định.

Qua diễn biến thực tiễn điều hành, lãnh đạo NHNN cho rằng với nền kinh tế có độ mở lớn, chúng ta phải sẵn sàng chuẩn bị tâm thế để ứng phó với những biến động như vậy. “Trong ngắn hạn, khi lựa chọn thì đương nhiên là phải đánh đổi giữa các mục tiêu, ví dụ ổn định thị trường ngoại hối thì tỷ giá phải chấp nhận tăng cao. Khi lãi suất tăng cao thì có thể ảnh hưởng một chút đến sản xuất của doanh nghiệp, tăng trưởng của kinh tế chậm lại một chút, nhưng với sự ổn định của thị trường tiền tệ, ngoại hối và hoạt động ngân hàng thì sau khi ổn định ta sẽ có điều kiện để tăng tốc phát triển sau” - Thống đốc NHNN chia sẻ.

Còn hạn mức 44.000 tỷ đồng cho doanh nghiệp xăng dầu

Việc nới room tín dụng cũng được đánh giá sẽ áp lực đối với thị trường tỷ giá và ngoại hối. Theo Thống đốc, “rất may là trước đây NHNN chưa tăng room tín dụng, bởi vì nếu khi đó tăng room tín dụng thì với sự kiện tháng 10 vừa qua thanh khoản sẽ rất khó khăn”.

Một vấn đề khác được Thống đốc trình bày là về tín dụng cho lĩnh vực xăng dầu. Sau khi Bộ Công thương có văn bản, NHNN tổng hợp nhanh số liệu từ các ngân hàng cho thấy, tổng hạn mức cấp cho 16 doanh nghiệp xăng, dầu hiện nay là 103.000 tỷ đồng và mới sử dụng đến khoảng 58.000 tỷ đồng. Hạn mức chưa sử dụng còn lại là 44.000 tỷ đồng. Đối với việc cung ứng ngoại tệ, NHNN vừa qua cũng đảm bảo ổn định sản xuất trong nước, can thiệp ngoại tệ kịp thời. Đơn cử như với Nhà máy lọc dầu Nghi Sơn, Tập đoàn Xăng dầu Việt Nam và Nhà máy lọc dầu Bình Sơn, lượng ngoại tệ bán ra cho các doanh nghiệp này phải tới 10 tỷ USD.

Cuối cùng, liên quan đến chương trình hỗ trợ lãi suất 2%, Thống đốc cho biết thực tế thực hiện chương trình này đạt rất thấp. NHNN đã tổ chức các cuộc khảo sát liên ngành đến các địa phương. Trong đó, khảo sát tại một địa phương cho thấy trong số 183 khách hàng đủ điều kiện vay vốn hỗ trợ có tới 126 khách hàng không quan tâm đến hỗ trợ lãi suất và 46 khách hàng chưa có phản hồi. “Đây là vấn đề cần phải quan tâm và trong thời gian tới chúng tôi sẽ phối hợp để đánh giá và có báo cáo tổng thể” - Thống đốc Nguyễn Thị Hồng nói.

Doanh nghiệp đang thực sự khát vốn

Phát biểu trước đó trong phiên thảo luận chiều 28/10, đại biểu Nguyễn Mạnh Hùng (đoàn Cần Thơ) đã đề xuất các giải pháp để khơi thông dòng vốn cho doanh nghiệp

Theo đại biểu, khi chúng ta vẫn giữ được lạm phát rất thấp so với thế giới, các nhà đầu tư đã rất kỳ vọng dòng vốn trên thị trường sẽ dồi dào hơn. Tuy nhiên, trên thực tế doanh nghiệp đang thực sự khát vốn. Nhiều dự án bị đình trệ vì không thể tiếp cận vốn từ các ngân hàng trong bối cảnh thị trường chứng khoán và thị trường trái phiếu doanh nghiệp nhiều khó khăn sau 2 sự cố của FLC và Tân Hoàng Minh.

Nguyễn Mạnh Hùng
Đại biểu Nguyễn Mạnh Hùng

Trong lúc chờ đợi sự phục hồi của thị trường chứng khoán và thị trường trái phiếu doanh nghiệp, các doanh nghiệp cũng rất kỳ vọng NHNN sẽ nới room tín dụng từ 1 - 2% trong thời gian tới. Tuy nhiên, trong bối cảnh hiện nay, đại biểu cho rằng khả năng nới room tín dụng là rất khó khăn.

Do đó, đại biểu đề nghị tập trung 5 giải pháp, trong đó cần có cơ chế điều chỉnh dòng vốn đi vào các lĩnh vực sản xuất hiệu quả, ổn định, bền vững. Trong bối cảnh lãi suất huy động tiếp tục tăng lên, các tổ chức tín dụng cần chia sẻ khó khăn chung của nền kinh tế, chấp nhận thu hẹp biên lãi ròng bằng cách nâng cao năng lực quản trị tài chính và đẩy mạnh đầu tư để cắt giảm chi phí và đảm bảo ổn định lãi suất cho vay.

Đồng thời, tập trung triển khai hiệu quả các gói Nghị quyết 43 như đã nêu; sớm có giải pháp phục hồi, phát triển thị trường trái phiếu doanh nghiệp và thị trường chứng khoán để cung ứng vốn trung và dài hạn cho nền kinh tế.

Hoàng Yến

Đọc thêm

Giá vàng hôm nay ngày 4/8: Giá vàng thế giới giảm hơn 20 USD/ounce, vàng trong nước diễn biến trái chiều

Giá vàng hôm nay ngày 4/8: Giá vàng thế giới giảm hơn 20 USD/ounce, vàng trong nước diễn biến trái chiều

(TBTCO) - Giá vàng thế giới sáng nay giảm hơn 20 USD/ounce, lùi về 4.051 USD/ounce. Trong khi đó, thị trường vàng trong nước ghi nhận diễn biến trái chiều khi giá vàng miếng tăng nhẹ ở chiều mua vào, còn vàng nhẫn điều chỉnh khác nhau giữa các doanh nghiệp.
Rẽ dòng tín dụng bất động sản, dịch chuyển vốn khỏi phân khúc đầu cơ

Rẽ dòng tín dụng bất động sản, dịch chuyển vốn khỏi phân khúc đầu cơ

(TBTCO) - Tín dụng bất động sản tiếp đà tăng trưởng nửa đầu năm 2026, nhưng phân hóa rõ giữa các phân khúc và chiến lược giải ngân từng ngân hàng. Nhà điều hành kiên định kiểm soát chặt tín dụng bất động sản, song ưu tiên dòng vốn cho các lĩnh vực thiết yếu, hướng thị trường từ đầu cơ ngắn hạn sang an cư, phát triển bền vững.
SJ Group ghi nhận lợi nhuận 526 tỷ đồng trong 6 tháng đầu năm

SJ Group ghi nhận lợi nhuận 526 tỷ đồng trong 6 tháng đầu năm

(TBTCO) - SJ Group ghi nhận lợi nhuận trước thuế 526,3 tỷ đồng sau nửa đầu năm, tăng 143,1% so với cùng kỳ. Doanh thu trong kỳ chủ yếu đến từ các hợp đồng đã ký và khoản thanh toán theo tiến độ tại dự án Nam An Khánh trong năm 2025.
Bảo hiểm BIC báo lãi tăng mạnh trong quý II, mở rộng danh mục đầu tư lên gần 7.500 tỷ đồng

Bảo hiểm BIC báo lãi tăng mạnh trong quý II, mở rộng danh mục đầu tư lên gần 7.500 tỷ đồng

(TBTCO) - Bảo hiểm BIC báo lãi trước thuế quý II/2026 đạt 169,6 tỷ đồng, tăng mạnh 42,3% so với quý trước, song lũy kế 6 tháng mới đạt 288,8 tỷ đồng, chịu tác động khi không còn khoản chốt lời chứng khoán lớn như cùng kỳ. Dù vậy, phí bảo hiểm gốc của BIC duy trì đà tăng 5,7% lên 2.832,8 tỷ đồng cùng kỳ; danh mục đầu tư được mở rộng lên gần 7.500 tỷ đồng.
Prudential Việt Nam: Trong kỷ nguyên AI, con người và niềm tin vẫn là trọng tâm của tương lai bảo hiểm

Prudential Việt Nam: Trong kỷ nguyên AI, con người và niềm tin vẫn là trọng tâm của tương lai bảo hiểm

(TBTCO) - Hội nghị Cấp cao Bảo hiểm Việt Nam 2026 vừa diễn ra tại Đà Nẵng với chủ đề "Tái định hình tương lai bảo hiểm với dữ liệu, AI và chuyển đổi bền vững" do Hiệp hội Bảo hiểm Việt Nam phối hợp tổ chức. Đây là diễn đàn thường niên quy tụ các nhà hoạch định chính sách, lãnh đạo doanh nghiệp cùng đông đảo chuyên gia uy tín trong và ngoài nước nhằm trao đổi về những xu hướng định hình động lực tăng trưởng mới của thị trường.
Dữ liệu và AI tái định hình ngành bảo hiểm, mở ra chu kỳ tăng trưởng mới

Dữ liệu và AI tái định hình ngành bảo hiểm, mở ra chu kỳ tăng trưởng mới

Dữ liệu và AI đang trở thành động lực tăng trưởng mới và năng lực cốt lõi của ngành bảo hiểm. Tại Hội nghị cấp cao Bảo hiểm Việt Nam 2026, các đại biểu nhấn mạnh, việc tạo môi trường thuận lợi để nghiên cứu, ứng dụng AI và các công nghệ mới trong hoạt động bảo hiểm được đặt trong yêu cầu phải đi đôi với quản trị rủi ro và niềm tin làm nền tảng.
Giá vàng hôm nay ngày 3/8: Vàng thế giới neo quanh 4.041 USD/ounce, vàng trong nước đi ngang

Giá vàng hôm nay ngày 3/8: Vàng thế giới neo quanh 4.041 USD/ounce, vàng trong nước đi ngang

(TBTCO) - Vàng thế giới duy trì quanh mốc 4.041 USD/ounce, còn giá vàng trong nước không ghi nhận biến động so với phiên trước. Chênh lệch giữa giá vàng trong nước và thế giới hiện ở khoảng 12 triệu đồng/lượng.
"Động cơ" mới gắn liền điểm tựa cốt lõi, tạo chuyển biến cho thị trường bảo hiểm

"Động cơ" mới gắn liền điểm tựa cốt lõi, tạo chuyển biến cho thị trường bảo hiểm

(TBTCO) - Không chỉ đặt mục tiêu mở rộng độ bao phủ bảo hiểm, Đề án Cải cách tổng thể thị trường tài chính đến năm 2045 còn định hướng tái cấu trúc thị trường theo chiều sâu. Ông Nguyễn Đức Thắng - Chủ tịch GAMA Global-Vietnam kỳ vọng, việc xây dựng Trung tâm Dữ liệu Bảo hiểm quốc gia và triển khai sandbox sẽ tạo động lực đổi mới, song muốn chuyển biến bền vững phải gắn chặt hai “điểm tựa” cốt lõi của thị trường.
Xem thêm

Mới nhất Đọc nhiều

PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 136,200 ▲100K 140,200 ▼700K
Hà Nội - PNJ 136,200 ▲100K 140,200 ▼700K
Đà Nẵng - PNJ 136,200 ▲100K 140,200 ▼700K
Miền Tây - PNJ 136,200 ▲100K 140,200 ▼700K
Tây Nguyên - PNJ 136,200 ▲100K 140,200 ▼700K
Đông Nam Bộ - PNJ 136,200 ▲100K 140,200 ▼700K
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 13,750 14,050 ▼100K
Miếng SJC Nghệ An 13,750 14,050 ▼100K
Miếng SJC Thái Bình 13,750 14,050 ▼100K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 13,750 14,050 ▼100K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 13,750 14,050 ▼100K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 13,750 14,050 ▼100K
NL 99.99 12,900
Nhẫn Tròn Thái Bình 12,800
Trang sức 99.9 13,360 ▼30K 13,960 ▼30K
Trang sức 99.99 13,370 ▼30K 13,970 ▼30K
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,375 1,405 ▲1264K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,375 14,052 ▼50K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,375 14,053 ▼50K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,365 140 ▼1265K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,365 1,401 ▼5K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 134 ▼1201K 1,385
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 130,129 137,129
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 94,235 104,035
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 84,539 94,339
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 74,843 84,643
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 71,104 80,904
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 4,811 5,791
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,375 1,405 ▲1264K
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,375 1,405 ▲1264K
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,375 1,405 ▲1264K
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,375 1,405 ▲1264K
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,375 1,405 ▲1264K
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,375 1,405 ▲1264K
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,375 1,405 ▲1264K
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,375 1,405 ▲1264K
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,375 1,405 ▲1264K
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,375 1,405 ▲1264K
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,375 1,405 ▲1264K
Cập nhật: 04/08/2026 22:30
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17930 18204 18783
CAD 18170 18446 19065
CHF 31775 32156 32805
CNY 0 3848 3941
EUR 29606 29827 30908
GBP 34499 34890 35828
HKD 0 3218 3420
JPY 159 163 170
KRW 0 17 19
NZD 0 15131 15716
SGD 19924 20206 20781
THB 702 765 818
USD (1,2) 25998 0 0
USD (5,10,20) 26039 0 0
USD (50,100) 26068 26077 26447
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,080 26,080 26,460
USD(1-2-5) 25,037 - -
USD(10-20) 25,037 - -
EUR 29,638 29,662 31,065
JPY 161.92 162.21 172
GBP 34,663 34,757 35,954
AUD 18,105 18,170 18,853
CAD 18,355 18,414 19,092
CHF 32,029 32,129 33,079
SGD 20,041 20,103 20,889
CNY - 3,815 3,961
HKD 3,282 3,292 3,429
KRW 16.91 17.63 19.18
THB 749.71 758.97 812.52
NZD 15,082 15,222 15,671
SEK - 2,700 2,795
DKK - 3,975 4,115
NOK - 2,709 2,808
LAK - 0.89 1.23
MYR 5,993.67 - 6,764.12
TWD 731.12 - 885.63
SAR - 6,874.63 7,240.41
KWD - 83,204 88,523
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,080 26,100 26,480
EUR 29,700 29,819 31,015
GBP 34,673 34,812 35,844
HKD 3,284 3,297 3,414
CHF 31,902 32,030 32,958
JPY 162.64 163.29 171.23
AUD 18,083 18,156 18,754
SGD 20,140 20,221 20,816
THB 767 770 806
CAD 18,381 18,455 19,039
NZD 15,173 15,720
KRW 17.65 19.62
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26085 26085 26445
AUD 18098 18198 19123
CAD 18357 18457 19471
CHF 32009 32039 33621
CNY 3828.7 3853.7 3989.1
CZK 0 1190 0
DKK 0 4000 0
EUR 29769 29799 31522
GBP 34788 34838 36601
HKD 0 3355 0
JPY 162.77 163.27 173.81
KHR 0 6.097 0
KRW 0 17.9 0
LAK 0 1.1677 0
MYR 0 6645 0
NOK 0 2750 0
NZD 0 15217 0
PHP 0 395 0
SEK 0 2710 0
SGD 20078 20208 20931
THB 0 730.4 0
TWD 0 805 0
SJC 9999 13750000 13750000 14050000
SBJ 12500000 12500000 14050000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,110 26,160 26,480
USD20 26,060 26,160 26,599
USD1 24,111 26,160 26,649
AUD 18,141 18,241 19,348
EUR 29,593 29,693 31,349
CAD 18,310 18,410 19,716
SGD 20,183 20,333 20,945
JPY 163.73 165.23 170.76
GBP 34,678 34,828 35,890
XAU 13,698,000 0 14,002,000
CNY 0 3,739 0
THB 0 766 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 04/08/2026 22:30
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80