Rộng cửa cho tín dụng ngân hàng đến với học sinh, sinh viên

Chí Tín
(TBTCO) - Thủ tướng Chính phủ vừa cho phép tăng hạn mức cho vay đối với học sinh, sinh viên đã mở rộng cánh cửa cho đối tượng này tiếp cận tốt hơn dòng vốn ngân hàng, tháo gỡ bớt khó khăn do học phí và chi phí sinh hoạt đã tăng lên qua các năm. Theo đó, thế hệ trẻ có thể có thêm cơ hội được học tập tốt hơn, góp phần cải thiện chất lượng nguồn lực lao động cho xã hội trong tương lai.
aa

Giảm nhẹ khó khăn vốn cho học tập

Theo Quyết định số 05/2022/QĐ-TTg (Quyết định 05) về việc sửa đổi, bổ sung một số điều của Quyết định 157/2007/QĐ-TTg (Quyết định 157) của Thủ tướng Chính phủ về tín dụng đối với học sinh, sinh viên, mức cho vay tối đa sẽ được điều chỉnh nâng lên 4 triệu đồng/tháng/học sinh sinh viên. Quyết định 05 dự kiến sẽ có hiệu lực từ ngày 19/5/2022.

Rộng cửa cho tín dụng ngân hàng đến với học sinh, sinh viên

Như vậy, so với mức cũ đã áp dụng từ 1/12/2019 (2,5 triệu đồng/tháng/học sinh, sinh viên) thì mức cho vay tối đa đối với học sinh, sinh viên tăng thêm 1,5 triệu đồng/tháng/học sinh, sinh viên kể từ khi Quyết định 05 có hiệu lực. Theo đánh giá của giới chuyên môn, mức vay vốn tối đa được điều chỉnh như trên là khá phù hợp với lộ trình tăng học phí, khả năng huy động vốn của Ngân hàng Chính sách xã hội, khả năng cấp bù chênh lệch lãi suất và phí quản lý của ngân sách nhà nước.

Chính sách tín dụng cho học sinh, sinh viên vay vốn học tập là một chủ trương của Chính phủ đã được thực hiện suốt 15 năm qua kể khi Quyết định 157 được ban hành, góp phần tạo chỗ dựa, niềm tin cho các gia đình học sinh, sinh viên nghèo. Theo Ngân hàng Chính sách xã hội, hiện nay, hệ thống công nghệ thông tin quản lý dữ liệu của ngân hàng chính sách đã được hiện đại hóa và liên thông trên toàn quốc, giúp việc chuyển trả nợ thuận tiện, qua đó có thể cung cấp các thông tin liên quan đến sinh viên vay vốn cho các nhà trường để cùng phối hợp thực hiện, cũng như quản lý đối tượng vay vốn và sử dụng vốn tốt hơn trong thời gian tới.

Theo đánh giá của Bộ Giáo dục và Đào tạo, điều kiện mức học phí hiện nay (theo Nghị định số 86/2015/NĐ-CP), mức cho vay hiện hành (2,5 triệu đồng/tháng/học sinh, sinh viên) mới chỉ đáp ứng 49% học phí của nhóm ngành có học phí cao nhất và 38,5% nhu cầu chi phí học tập cho học sinh, sinh viên (bao gồm học phí và chi phí sinh hoạt). Theo đó, việc nâng mức vốn vay được kỳ vọng sẽ hỗ trợ tốt hơn cho học sinh, sinh viên trang trải chi phí học tập, qua đó góp phần ổn định đời sống, tư tưởng cho hộ gia đình và học sinh sinh viên, nâng cao khả năng tiếp cận giáo dục của thế hệ trẻ.

Đã chuẩn bị đầy đủ về nguồn vốn

Trao đổi với phóng viên TBTCVN mới đây, bà Hoàng Thị Chương - Phó Giám đốc Ban Tín dụng sinh viên và các đối tượng chính sách khác thuộc Ngân hàng Chính sách xã hội cho biết, ngân hàng đã có sự chuẩn bị đầy đủ về nguồn vốn cho việc thực hiện tăng hạn mức cho vay đối với học sinh, sinh viên theo tinh thần Quyết định 05. Ngoài ra thời gian tới, ngân hàng cũng sẽ ban hành thêm những quy trình cụ thể để hướng dẫn các đơn vị triển khai khi Quyết định 05 có hiệu lực từ tháng 5 tới.

Về nguồn vốn từ ngân sách, tín dụng học sinh, sinh viên cũng nằm trong gói tín dụng chung của Ngân hàng Chính sách xã hội. Trong đó, đầu tháng 3/2021, Thủ tướng Chính phủ chấp thuận tăng dư nợ tín dụng 8% cho Ngân hàng Chính sách xã hội so với năm 2021 đối với các chương trình tín dụng chính sách được Thủ tướng Chính phủ giao hàng năm (không bao gồm kế hoạch tăng dư nợ tín dụng các chính sách cho vay ưu đãi thực hiện theo Nghị quyết số 11/NQ-CP ngày 30/1/2022 của Chính phủ).

Ngoài ra, trong thời gian triển khai chính sách cho vay học sinh sinh viên thời gian trước đây, Ngân hàng Chính sách xã hội cũng đã phối hợp với một số ngân hàng thương mại khác như VietinBank, Agribank… tiến hành mở tài khoản qua thẻ cho học sinh, sinh sinh viên. Do vậy hộ gia đình có thể hoàn thiện hồ sơ nhận tiền vay vốn với Ngân hàng Chính sách xã hội, nhưng tiền có thể chuyển trực tiếp qua thẻ cho học sinh, sinh viên. Ông Tô Đình Tơn - Phó Tổng giám đốc Agribank cho biết, thời gian qua Agribank phát triển sản phẩm thẻ cho các đối tượng là sinh viên, học sinh, trở thành một trong những phương tiện cho sinh viên có thể đóng học phí, ngoài ra sản phẩm thẻ này cũng có thể phục vụ cho các sinh hoạt chi tiêu hàng ngày.

Bên cạnh đó, nguồn vốn cho học sinh, sinh viên cũng đang được hỗ trợ một số hoạt động khác từ các trường đại học. Chẳng hạn, một số trường kết hợp với ngân hàng thỏa thuận hỗ trợ lãi vay từ Ngân hàng Chính sách xã hội để hỗ trợ cho học sinh, sinh viên; hoặc phối hợp với các ngân hàng thương mại có chương trình vay vốn ngắn hạn để đóng học phí dành cho sinh viên có khó khăn về tài chính.

Học sinh, sinh viên là thành viên của hộ gia đình được vay vốn

1. Hộ nghèo theo chuẩn quy định của pháp luật.

2. Hộ cận nghèo theo chuẩn quy định của pháp luật.

3. Hộ có mức sống trung bình theo chuẩn quy định của pháp luật.

Quyết định 05 cũng quy định kể từ ngày học sinh, sinh viên kết thúc khóa học 12 tháng theo quy định, đối tượng được vay vốn phải trả nợ gốc và lãi tiền vay lần đầu tiên. Đối tượng được vay vốn có thể trả nợ trước hạn mà không chịu lãi phạt trả nợ trước hạn.

Chí Tín

Đọc thêm

Prudential Việt Nam nâng tầm môi trường làm việc cho giai đoạn phát triển mới

Prudential Việt Nam nâng tầm môi trường làm việc cho giai đoạn phát triển mới

(TBTCO) - Prudential Việt Nam vừa chính thức mở rộng quy mô hoạt động tại tòa nhà Phú Mỹ Hưng - số 8 Hoàng Văn Thái, phường Tân Mỹ, TP. Hồ Chí Minh và đưa toàn bộ khối văn phòng về cùng một địa điểm, đồng thời xác lập nơi đây là trụ sở chính của công ty, đánh dấu bước tiến mới trong hành trình xây dựng một tổ chức kết nối hơn, linh hoạt hơn và sẵn sàng cho giai đoạn phát triển tiếp theo.
VDSC: Mặt bằng lãi suất khó hạ nhiệt trong 3 tháng tới

VDSC: Mặt bằng lãi suất khó hạ nhiệt trong 3 tháng tới

Dù thị trường đang đặt cược khoảng 50% khả năng Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed) sẽ tăng lãi suất vào cuối năm, nhưng Chứng khoán Rồng Việt (VDSC) cho rằng, kịch bản này khó xảy ra và mặt bằng lãi suất tại Việt Nam khó hạ nhiệt trong 3 tháng tới, do áp lực tỷ giá, mức chênh lệch hoán đổi VND - USD vẫn cao và nguồn tiền gửi Kho bạc hỗ trợ thanh khoản khá hạn chế.
“Trọn Vạn Dặm An” - chương trình tri ân lớn nhất năm của Bảo Việt Nhân thọ với cơ hội trúng ô tô VinFast hấp dẫn

“Trọn Vạn Dặm An” - chương trình tri ân lớn nhất năm của Bảo Việt Nhân thọ với cơ hội trúng ô tô VinFast hấp dẫn

(TBTCO) - Nhân dịp kỷ niệm 30 năm thành lập, Bảo Việt Nhân thọ chính thức triển khai chương trình tri ân lớn nhất năm - “Trọn Vạn Dặm An”, với tổng giá trị quà tặng lên đến 11 tỷ đồng cùng hàng loạt giải thưởng hấp dẫn như ô tô và xe máy điện VinFast dành cho khách hàng trên toàn quốc.
Mở dư địa phát triển, quỹ bảo hiểm hưu trí bổ sung tăng sức hút nhờ “lãi kép”

Mở dư địa phát triển, quỹ bảo hiểm hưu trí bổ sung tăng sức hút nhờ “lãi kép”

(TBTCO) - Trao đổi với phóng viên Báo Tài chính - Đầu tư, bà Lê Vân - Giám đốc Ban Phát triển Kinh doanh Công ty TNHH Quản lý Quỹ Vietcombank (VCBF) nhấn mạnh những thay đổi mang tính định hình lại “luật chơi”, phát triển bảo hiểm hưu trí bổ sung. Trong đó, việc mở rộng danh mục đầu tư có thể giúp quỹ đạt lợi suất ròng dài hạn cạnh tranh hơn, tăng sức hấp dẫn nhờ hiệu ứng “lãi kép” từ đầu tư dài hạn và ưu đãi thuế.
Đề xuất gỡ “giấy phép con” với vàng trang sức, siết quản lý vàng nguyên liệu tạm nhập tái xuất

Đề xuất gỡ “giấy phép con” với vàng trang sức, siết quản lý vàng nguyên liệu tạm nhập tái xuất

(TBTCO) - Ngân hàng Nhà nước đề xuất đưa hoạt động sản xuất, gia công, kinh doanh mua bán vàng trang sức, mỹ nghệ ra khỏi danh mục ngành, nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện. Đồng thời, siết chặt quản lý hoạt động tạm nhập vàng nguyên liệu để tái xuất, không được bán, chuyển giao, sử dụng vào mục đích khác trên thị trường trong nước.
Giá vàng hôm nay ngày 30/5: Giá vàng trong nước và thế giới đồng loạt tăng

Giá vàng hôm nay ngày 30/5: Giá vàng trong nước và thế giới đồng loạt tăng

(TBTCO) - Giá vàng thế giới tăng 43 USD/ounce, lên mức 4.538 USD/ounce. Sáng 30/5, giá vàng trong nước tiếp tục tăng trở lại tại nhiều doanh nghiệp lớn. Ở phân khúc vàng miếng, Bảo Tín Mạnh Hải, PNJ, DOJI và Bảo Tín Minh Châu cùng tăng 500.000 đồng/lượng ở cả hai chiều mua vào và bán ra, đưa mặt bằng giá giao dịch phổ biến lên quanh ngưỡng 156 - 159 triệu đồng/lượng.
PGBank sắp chốt quyền chia cổ tức 7,5%, tiếp tục hành trình tăng vốn lên 10.000 tỷ đồng

PGBank sắp chốt quyền chia cổ tức 7,5%, tiếp tục hành trình tăng vốn lên 10.000 tỷ đồng

(TBTCO) - PGBank vừa chốt ngày 10/6 là ngày đăng ký cuối cùng để thực hiện quyền trả cổ tức bằng cổ phiếu tỷ lệ 7,5%, đồng thời tiếp tục triển khai kế hoạch tăng vốn điều lệ lên 10.000 tỷ đồng còn dang dở.
Ngân hàng Nhà nước lên tiếng về chương trình sử dụng vàng để giao dịch bất động sản

Ngân hàng Nhà nước lên tiếng về chương trình sử dụng vàng để giao dịch bất động sản

(TBTCO) - Chiều ngày 29/5, Ngân hàng Nhà nước đã có những thông tin liên quan đến chương trình doanh nghiệp hỗ trợ khách hàng sử dụng vàng để giao dịch bất động sản.
Xem thêm

Mới nhất Đọc nhiều

DOJI Giá mua Giá bán
SJC -Bán Lẻ 15,550 15,850
Kim TT/AVPL 15,550 15,850
NHẪN TRÒN 9999 HƯNG THỊNH VƯỢNG 15,550 15,850
Nguyên Liệu 99.99 14,550 14,750
Nguyên Liệu 99.9 14,500 14,700
NỮ TRANG 9999 - BÁN LẺ 15,150 15,550
NỮ TRANG 999 - BÁN LẺ 15,100 15,500
Nữ trang 99 - Bán Lẻ 15,030 15,480
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 155,500 158,500
Hà Nội - PNJ 155,500 158,500
Đà Nẵng - PNJ 155,500 158,500
Miền Tây - PNJ 155,500 158,500
Tây Nguyên - PNJ 155,500 158,500
Đông Nam Bộ - PNJ 155,500 158,500
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 15,550 15,850
Miếng SJC Nghệ An 15,550 15,850
Miếng SJC Thái Bình 15,550 15,850
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 15,550 15,850
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 15,550 15,850
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 15,550 15,850
NL 99.90 14,200
NL 99.99, Nhẫn Tròn Thái Bình 14,250
Trang sức 99.9 15,040 15,740
Trang sức 99.99 15,050 15,750
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,555 1,585
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,555 15,852
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,555 15,853
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,553 1,583
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,553 1,584
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,533 1,568
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 148,748 155,248
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 108,862 117,762
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 97,885 106,785
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 86,908 95,808
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 82,674 91,574
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 56,642 65,542
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,555 1,585
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,555 1,585
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,555 1,585
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,555 1,585
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,555 1,585
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,555 1,585
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,555 1,585
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,555 1,585
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,555 1,585
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,555 1,585
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,555 1,585
Cập nhật: 02/06/2026 07:30
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 18347 18623 19204
CAD 18509 18786 19405
CHF 32896 33281 33941
CNY 0 3849 3942
EUR 30023 30296 31327
GBP 34617 35009 35947
HKD 0 3227 3430
JPY 158 162 168
KRW 0 16 18
NZD 0 15357 15945
SGD 20054 20337 20867
THB 723 786 840
USD (1,2) 26051 0 0
USD (5,10,20) 26092 0 0
USD (50,100) 26121 26135 26394
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,114 26,114 26,394
USD(1-2-5) 25,070 - -
USD(10-20) 25,070 - -
EUR 30,200 30,224 31,546
JPY 160.8 161.09 170.14
GBP 34,868 34,962 36,028
AUD 18,585 18,652 19,282
CAD 18,740 18,800 19,419
CHF 33,259 33,362 34,218
SGD 20,211 20,274 20,995
CNY - 3,821 3,952
HKD 3,296 3,306 3,431
KRW 16.16 16.85 18.26
THB 772.31 781.85 833.59
NZD 15,392 15,535 15,935
SEK - 2,802 2,889
DKK - 4,041 4,167
NOK - 2,801 2,889
LAK - 0.92 1.27
MYR 6,214.15 - 6,986.39
TWD 759.38 - 916.39
SAR - 6,905.92 7,245.6
KWD - 83,643 88,650
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,104 26,124 26,394
EUR 30,081 30,202 31,404
GBP 34,768 34,908 35,942
HKD 3,289 3,302 3,420
CHF 33,047 33,180 34,129
JPY 161.14 161.79 169.21
AUD 18,550 18,624 19,228
SGD 20,242 20,323 20,920
THB 788 791 826
CAD 18,712 18,787 19,370
NZD 15,477 16,026
KRW 16.67 18.29
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26172 26172 26394
AUD 18543 18643 19568
CAD 18696 18796 19810
CHF 33164 33194 34777
CNY 3830.7 3855.7 3990.8
CZK 0 1220 0
DKK 0 4140 0
EUR 30214 30244 31967
GBP 34923 34973 36731
HKD 0 3355 0
JPY 161.54 162.04 172.58
KHR 0 6.097 0
KRW 0 16.9 0
LAK 0 1.165 0
MYR 0 6920 0
NOK 0 2850 0
NZD 0 15464 0
PHP 0 400 0
SEK 0 2840 0
SGD 20217 20347 21075
THB 0 752.6 0
TWD 0 820 0
SJC 9999 15550000 15550000 15850000
SBJ 13500000 13500000 15850000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,147 26,197 26,394
USD20 26,147 26,197 26,394
USD1 23,882 26,197 26,394
AUD 18,598 18,698 19,799
EUR 30,357 30,357 31,767
CAD 18,662 18,762 20,069
SGD 20,300 20,450 21,013
JPY 161.99 163.49 168.05
GBP 34,815 35,165 36,031
XAU 15,598,000 0 15,902,000
CNY 0 3,739 0
THB 0 790 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 02/06/2026 07:30
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80