SHB đặt kế hoạch lợi nhuận tăng 22%, chia cổ tức tỷ lệ 16% bằng tiền và cổ phiếu

(TBTCO) - Ngân hàng SHB đặt kế hoạch lợi nhuận trước thuế 2024 đạt 11.286 tỷ đồng, tăng 22% so với năm trước. Bên cạnh đó, tỷ lệ cổ tức 2023 dự kiến là 16%, trong đó có 5% bằng tiền mặt và 11% bằng cổ phiếu.
aa

Ngân hàng được Moody's đánh giá là an toàn, hiệu quả

Ngân hàng Sài Gòn - Hà Nội (HoSE: SHB) công bố tài liệu đại hội thường niên 2024. Ngân hàng xác định năm nay là một năm bản lề của chuyển đổi, tăng cường nội lực và duy trì đà tăng trưởng theo hướng bền vững, hiệu quả.

SHB đặt mục tiêu lợi nhuận trước thuế đạt 11.286 tỷ đồng, tăng 22%. Tổng tài sản đạt 701.000 tỷ đồng, vốn điều lệ 40.658 tỷ đồng, tăng gần 12%; kiểm soát chặt chẽ tỷ lệ nợ xấu dưới 3%.

Mục tiêu của SHB khẳng định bước tiến mạnh mẽ, mở rộng quy mô để đáp ứng nhu cầu vốn ngày càng lớn của nền kinh tế; đồng thời gia tăng khả năng cạnh tranh trong quá trình hội nhập quốc tế và đáp ứng lợi ích, mong muốn của cổ đông.

SHB đặt kế hoạch lợi nhuận tăng 22%, chia cổ tức tỷ lệ 16% bằng tiền và cổ phiếu

Năm 2023, tình hình kinh tế thế giới và trong nước đối mặt khó khăn do bất ổn địa chính trị, nhu cầu giảm, lạm phát cao, chính sách tiền tệ thắt chặt… Dù vậy, ngân hàng đã ghi nhận kết quả khả quan. Lợi nhuận trước thuế đạt 9.239 tỷ đồng. Tính đến 31/12/2023, tổng tài sản đạt 630.501 tỷ đồng, tăng 16%; vốn điều lệ 36.194 tỷ đồng. Hiệu quả kinh doanh ổn định, chỉ số CIR ở mức 23,7% - đặc biệt, SHB là ngân hàng quản lý chi phí tốt nhất thị trường nhờ chú trọng công tác quản trị rủi ro, tiết giảm chi phí, thường xuyên rà soát cơ chế kinh doanh theo hướng linh hoạt thích ứng.

Tổ chức xếp hạng tín nhiệm Moody's giữ nguyên đánh giá B1 với SHB minh chứng tính an toàn, hiệu quả, khẳng định sức mạnh nội tại của ngân hàng, là nền tảng để tiếp tục tăng trưởng bứt phá trong giai đoạn tiếp theo.

“Ngân hàng đồng hành” cùng cổ đông, khách hàng và đất nước

Một trong những nội dung quan trọng tại đại hội, SHB trình cổ đông trả cổ tức 2023 tỷ lệ 16%, trong đó 5% bằng tiền mặt và 11% bằng cổ phiếu. Ngân hàng đã duy trì chính sách trả cổ tức đều đặn cho cổ đông trong nhiều năm qua, đồng hành trong những thời điểm khó khăn của nền kinh tế. Đây cũng là điều tạo nên sự tin tưởng và gắn bó của cổ đông với ngân hàng.

Năm nay, phương án trả cổ tức một phần bằng tiền là nỗ lực của ngân hàng chia sẻ hỗ trợ cổ đông trong bối cảnh kinh tế đang ở giai đoạn hồi phục.

Bên cạnh đó, duy trì chia cổ tức một phần bằng cổ phiếu cũng giúp ngân hàng tiếp tục củng cố nền tảng vốn điều lệ. Trong 10 năm qua, vốn điều lệ của SHB nâng lên gấp gần 4 lần và chạm mức 36.629 tỷ đồng vào đầu tháng 4.

SHB đặt kế hoạch lợi nhuận tăng 22%, chia cổ tức tỷ lệ 16% bằng tiền và cổ phiếu

Vừa qua, Phó Chủ tịch HĐQT SHB, ông Đỗ Quang Vinh đã đăng ký mua hơn 100,2 triệu cổ phiếu SHB trong thời gian 19/4 - 17/5, dự kiến nâng sở hữu lên 101,1 triệu cổ phiếu, tương ứng với 2,79% vốn SHB. Nếu giao dịch thành công, ông Vinh sẽ là người có tỷ lệ sở hữu cổ phần SHB cao nhất trong HĐQT ngân hàng. Đó như một lời khẳng định của vị lãnh đạo trẻ về chặng đường đồng hành phía trước cùng ngân hàng, cùng các cổ đông khác và niềm tin vào tương lai SHB.

Sau thông tin trên, cổ phiếu SHB đã tăng trần trong phiên giao dịch ngày 15/4. Tuy nhiên, thị trường chung giảm mạnh khiến cổ phiếu SHB thu hẹp đà tăng. Kết phiên, cổ phiếu SHB là mã duy nhất giữ sắc xanh trong ngành ngân hàng và nhóm VN30, đồng thời là một trong 10 cổ phiếu tăng mạnh nhất thị trường. Nhà đầu tư nước ngoài cũng mua ròng hơn 2,7 triệu cổ phiếu SHB trong phiên. Diễn biến cổ phiếu phần nào cho thấy sự tin tưởng của nhà đầu tư với lãnh đạo ngân hàng và kế hoạch tham vọng của SHB.

Bước sang tuổi 31, SHB đang hướng đến một giai đoạn phát triển mới. Trong tháng 1/2024, Hội đồng quản trị đã phê duyệt Chiến lược Chuyển đổi giai đoạn 2024 - 2028. Nhiều chính sách sẽ được triển khai trên tất cả hoạt động của ngân hàng, hướng đến mục tiêu SHB vươn tầm trở thành định chế tài chính hàng đầu.

Kế thừa nền tảng tài chính mạnh mẽ cùng giá trị cốt lõi, kết hợp với tư duy đổi mới, sáng tạo, SHB đang bước tiếp trên con đường chinh phục những đỉnh cao mới, mang nhiệt huyết đóng góp vào nền kinh tế đất nước và thịnh vượng của người dân.

Khẳng định vị thế là ngân hàng nhóm đầu hệ thống về vốn điều lệ, tổng tài sản, những năm qua SHB luôn tích cực thúc đẩy dòng vốn ra nền kinh tế thông qua các chương trình tín dụng ưu đãi dành cho khách hàng, đặc biệt là cá nhân, doanh nghiệp vừa và nhỏ (SME) với lãi suất hợp lý.

Trong suốt hành trình ba thập kỳ, SHB đã và đang làm tốt vai trò là kênh dẫn vốn cho các lĩnh vực trọng điểm của nền kinh tế, tài trợ lĩnh vực sản xuất kinh doanh được khuyến khích phát triển của Chính phủ, Ngân hàng Nhà nước.

Với chiến lược chuyển đổi 2024-2028, Ngân hàng sẽ tiếp tục cùng đồng hành với cổ đông, khách hàng, người dân và doanh nghiệp bám sát định hướng của Đảng, Nhà nước và chỉ đạo của Chính phủ, chung tay xây dựng đất nước. Đồng thời, ngân hàng cũng đồng hành cùng cộng đồng, xã hội trong các vấn đề về môi trường, đóng góp vào tăng trưởng xanh, phát triển kinh tế xanh, kinh tế tuần hoàn của quốc gia, hưởng ứng chiến lược đến năm 2050 của Chính phủ về phát triển năng lượng tái tạo.

Nhung Hồng

Đọc thêm

Ngân hàng vào vai “nhà cái”, đón sóng thị trường bảo hiểm

Ngân hàng vào vai “nhà cái”, đón sóng thị trường bảo hiểm

(TBTCO) - Sau 4 năm im ắng, thị trường bảo hiểm có nhiều chuyển động mới với sự xuất hiện của nhiều “tân binh” có hậu thuẫn từ ngân hàng, đặc biệt ở mảng nhân thọ vốn do khối ngoại chi phối. Các nhà băng chủ động rời vai trung gian để tiến tới làm chủ cuộc chơi, qua đó, vừa mở rộng nguồn thu, khai thác tối đa hệ sinh thái, vừa tạo nguồn vốn trung dài hạn ổn định cho tăng trưởng.
Tín dụng "căng dây", cần giải pháp để hóa giải rủi ro

Tín dụng "căng dây", cần giải pháp để hóa giải rủi ro

(TBTCO) - Tín dụng mạnh những năm gần đây đẩy tỷ lệ tín dụng/GDP lên 146%, đang tạo áp lực lớn lên hệ thống ngân hàng. Việc “giảm ga” tăng trưởng và kiểm soát rủi ro, trong bối cảnh rủi ro ẩn giấu và thiếu vốn trung dài hạn, yêu cầu tái cấu trúc kênh dẫn vốn trở nên cấp thiết.
Bảo hiểm PVI: Chọn hướng đi mới

Bảo hiểm PVI: Chọn hướng đi mới

(TBTCO) - Quý I/2026, Tổng Công ty Bảo hiểm PVI (Bảo hiểm PVI) đạt tổng doanh thu 8.164 tỷ đồng, hoàn thành 127% kế hoạch quý và tăng trưởng 13,1% so với cùng kỳ năm trước. Kết quả này không chỉ phản ánh sự phục hồi ổn định của thị trường bảo hiểm phi nhân thọ, mà còn cho thấy năng lực thích ứng linh hoạt và chiến lược điều hành hiệu quả của Bảo hiểm PVI.
Tỷ giá USD hôm nay (2/5): Tỷ giá đi ngang dịp lễ, DXY phục hồi sau nhịp rơi dưới 98 điểm

Tỷ giá USD hôm nay (2/5): Tỷ giá đi ngang dịp lễ, DXY phục hồi sau nhịp rơi dưới 98 điểm

(TBTCO) - Sáng ngày 2/5, tỷ giá trung tâm giữ ở 25.113 đồng do kỳ nghỉ lễ, trong khi USD tự do lùi nhẹ còn 26.740 - 26.790 VND/USD. Còn DXY chốt tuần ở 98,23 điểm, tăng 0,17% sau nhịp giảm dưới 98 điểm, song vẫn thấp hơn 0,72% so với tuần trước. Đồng USD chịu áp lực từ tín hiệu hạ nhiệt xung đột Mỹ - Iran và ước tính Nhật Bản dùng 34,5 tỷ USD hỗ trợ đồng yên, song triển vọng vẫn tích cực nhờ lập trường chính sách của Fed.
Giá vàng hôm nay ngày 1/5: Giá vàng trong nước tiếp tục đi ngang quanh vùng 162,5 - 166 triệu đồng/lượng

Giá vàng hôm nay ngày 1/5: Giá vàng trong nước tiếp tục đi ngang quanh vùng 162,5 - 166 triệu đồng/lượng

(TBTCO) - Sáng ngày 1/5, vàng miếng duy trì quanh 163 - 166 triệu đồng/lượng, trong khi vàng nhẫn giao dịch chủ yếu từ 162,5 - 166 triệu đồng/lượng.
Tỷ giá USD hôm nay (1/5): USD tự do lùi nhẹ, DXY giữ nhịp dù tỷ giá USD/JPY lao dốc 3% sau can thiệp của Nhật Bản

Tỷ giá USD hôm nay (1/5): USD tự do lùi nhẹ, DXY giữ nhịp dù tỷ giá USD/JPY lao dốc 3% sau can thiệp của Nhật Bản

(TBTCO) - Sáng ngày 1/5, tỷ giá trung tâm giữ ở 25.113 đồng trong kỳ nghỉ lễ, trong khi USD tự do lùi nhẹ 10 đồng còn 26.740 - 26.790 VND/USD. Trên thị trường quốc tế, DXY lên 98,17 điểm, USD tăng so với nhiều đồng tiền nhưng vẫn thấp hơn phiên trước. Đáng chú ý, Nhật Bản can thiệp tỷ giá khiến tỷ giá USD/JPY giảm gần 3% trong một phiên, song sức mạnh USD vẫn duy trì do áp lực từ giá dầu và rủi ro địa chính trị.
Lãi trước thuế quý I/2026 của NCB tăng hơn 43%

Lãi trước thuế quý I/2026 của NCB tăng hơn 43%

(TBTCO) - Kết thúc quý đầu tiên của năm 2026, Ngân hàng TMCP Quốc Dân (mã Ck: NCB) ghi nhận lợi nhuận trước thuế tăng mạnh. Theo đó, quý I/2026, lãi trước thuế của ngân hàng đạt hơn 216 tỷ đồng, tương ứng với mức tăng trưởng 43% so với quý I/2025.
Giá vàng hôm nay ngày 30/4: Giá vàng trong nước duy trì mặt bằng giá 162,5 - 166 triệu đồng/lượng

Giá vàng hôm nay ngày 30/4: Giá vàng trong nước duy trì mặt bằng giá 162,5 - 166 triệu đồng/lượng

(TBTCO) - Giá vàng trong nước sáng ngày 30/4 không ghi nhận biến động mới, khi cả vàng miếng và vàng nhẫn đồng loạt giữ giá, giao dịch trong vùng 162,5 - 166 triệu đồng/lượng.
Xem thêm

Mới nhất Đọc nhiều

DOJI Giá mua Giá bán
SJC -Bán Lẻ 16,360 ▲60K 16,660 ▲60K
Kim TT/AVPL 16,360 ▲60K 16,660 ▲60K
NHẪN TRÒN 9999 HƯNG THỊNH VƯỢNG 16,360 ▲60K 16,660 ▲60K
Nguyên Liệu 99.99 15,250 ▲50K 15,450 ▲50K
Nguyên Liệu 99.9 15,200 ▲50K 15,400 ▲50K
NỮ TRANG 9999 - BÁN LẺ 16,100 ▲50K 16,500 ▲50K
NỮ TRANG 999 - BÁN LẺ 16,050 ▲50K 16,450 ▲50K
Nữ trang 99 - Bán Lẻ 15,980 ▲50K 16,430 ▲50K
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 163,500 ▲500K 166,500 ▲500K
Hà Nội - PNJ 163,500 ▲500K 166,500 ▲500K
Đà Nẵng - PNJ 163,500 ▲500K 166,500 ▲500K
Miền Tây - PNJ 163,500 ▲500K 166,500 ▲500K
Tây Nguyên - PNJ 163,500 ▲500K 166,500 ▲500K
Đông Nam Bộ - PNJ 163,500 ▲500K 166,500 ▲500K
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 16,360 ▲60K 16,660 ▲60K
Miếng SJC Nghệ An 16,360 ▲60K 16,660 ▲60K
Miếng SJC Thái Bình 16,360 ▲60K 16,660 ▲60K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 16,330 ▲30K 16,630 ▲30K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 16,330 ▲30K 16,630 ▲30K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 16,330 ▲30K 16,630 ▲30K
NL 99.90 14,950
NL 99.99, Nhẫn Tròn Thái Bình 15,000
Trang sức 99.9 15,820 ▲30K 16,520 ▲30K
Trang sức 99.99 15,830 ▲30K 16,530 ▲30K
SJC Giá mua Giá bán
Cập nhật: 04/05/2026 14:30
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 18449 18725 19300
CAD 18845 19123 19741
CHF 33086 33472 34116
CNY 0 3816 3908
EUR 30277 30552 31578
GBP 35007 35401 36331
HKD 0 3232 3434
JPY 161 165 171
KRW 0 16 18
NZD 0 15280 15864
SGD 20158 20441 20964
THB 728 791 844
USD (1,2) 26076 0 0
USD (5,10,20) 26117 0 0
USD (50,100) 26145 26165 26367
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,137 26,137 26,367
USD(1-2-5) 25,092 - -
USD(10-20) 25,092 - -
EUR 30,449 30,473 31,745
JPY 163.7 164 172.88
GBP 35,242 35,337 36,340
AUD 18,678 18,745 19,349
CAD 19,078 19,139 19,730
CHF 33,393 33,497 34,286
SGD 20,321 20,384 21,066
CNY - 3,796 3,919
HKD 3,306 3,316 3,434
KRW 16.56 17.27 18.67
THB 774.46 784.03 834.57
NZD 15,252 15,394 15,757
SEK - 2,815 2,898
DKK - 4,075 4,194
NOK - 2,796 2,883
LAK - 0.92 1.27
MYR 6,240.59 - 7,002.72
TWD 755.7 - 910.2
SAR - 6,926.58 7,253.96
KWD - 83,960 88,817
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,117 26,147 26,367
EUR 30,310 30,432 31,615
GBP 35,144 35,285 36,298
HKD 3,293 3,306 3,421
CHF 33,118 33,251 34,195
JPY 163.85 164.51 171.99
AUD 18,625 18,700 19,297
SGD 20,329 20,411 20,996
THB 790 793 828
CAD 19,026 19,102 19,683
NZD 15,299 15,833
KRW 17.16 18.85
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26140 26140 26367
AUD 18627 18727 19649
CAD 19028 19128 20142
CHF 33316 33346 34929
CNY 3797.4 3822.4 3958.3
CZK 0 1220 0
DKK 0 4140 0
EUR 30436 30466 32191
GBP 35275 35325 37088
HKD 0 3355 0
JPY 164.06 164.56 175.1
KHR 0 6.097 0
KRW 0 17.4 0
LAK 0 1.165 0
MYR 0 6840 0
NOK 0 2772 0
NZD 0 15365 0
PHP 0 400 0
SEK 0 2840 0
SGD 20298 20428 21156
THB 0 754.8 0
TWD 0 820 0
SJC 9999 16360000 16360000 16660000
SBJ 14000000 14000000 16660000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,170 26,220 26,367
USD20 26,170 26,220 26,367
USD1 23,857 26,220 26,367
AUD 18,675 18,775 19,895
EUR 30,581 30,581 32,007
CAD 18,976 19,076 20,395
SGD 20,383 20,533 21,109
JPY 164.81 166.31 170.95
GBP 35,172 35,522 36,405
XAU 16,298,000 0 16,602,000
CNY 0 3,707 0
THB 0 790 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 04/05/2026 14:30
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80