Sức nóng tỷ giá gia tăng, nhưng khó gây hiệu ứng làm tăng lãi suất

Chí Tín
(TBTCO) - Diễn biến tỷ giá gia tăng thời gian qua là một trong những yếu tố đáng quan tâm với thị trường tài chính, nhưng các chỉ đạo mới đây của Thủ tướng cho thấy định hướng rất kiên định của Chính phủ vẫn cần phải giữ lãi suất thấp nhằm duy trì động lực cho tăng trưởng.
aa
Tỷ giá “tăng nóng” chưa ảnh hưởng xu hướng  dài hạn của thị trường chứng khoán
Lãi suất, tỷ giá liên tục tăng trên thị trường liên ngân hàng. Ảnh: tư liệu

Áp lực mới từ tỷ giá

Từ sau Tết 2024, tỷ giá liên tục có diễn biến tăng và đến thời điểm đầu tháng 4/2024, tỷ giá bán ra tại các ngân hàng thương mại đã vượt mốc 25.000 đồng/USD. Theo đó, giá đồng USD đã phá vỡ đỉnh tỷ giá trong giai đoạn tăng nóng hồi đầu quý IV/2022.

Giảm lãi suất gắn với khả năng tiếp cận vốn

Một trong những nội dung đáng chú ý trong Công điện số 32/CĐ-TTg là yêu cầu ngành Ngân hàng tiếp tục thực hiện có hiệu quả các giải pháp phù hợp để giảm mặt bằng lãi suất cho vay gắn với tăng cường khả năng tiếp cận vốn tín dụng để hỗ trợ người dân, doanh nghiệp phát triển sản xuất kinh doanh, bảo đảm cung cấp đủ vốn tín dụng, phục vụ, đáp ứng nhu cầu vốn của nền kinh tế và an toàn hệ thống các tổ chức tín dụng.

Nhìn lại giai đoạn thị trường tiền tệ cuối quý III/2022 có thể thấy có khá nhiều yếu tố “đáng nhớ” cho giới tài chính. Theo Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN), tại thời điểm cuối quý III/2022, tỷ giá và thị trường ngoại tệ chịu nhiều áp lực do thị trường quốc tế diễn biến phức tạp, khó lường, nguy cơ suy thoái gia tăng… Trước bối cảnh đó, tỷ giá trung tâm của VND so với USD đã tăng tới 7% so với cuối năm 2021 (tức đồng VND đã mất giá 7%) và NHNN đã quyết định điều chỉnh biên độ tỷ giá giao ngay USD/VND từ mức ±3% lên ±5%. Như vậy, sau khi giữ biên độ ±3% trong thời gian khá lâu (từ năm 2015), NHNN đã có một quyết định khá táo bạo khi tăng mạnh biên độ như vừa qua.

Ngoài động thái nới biên độ tỷ giá, NHNN thời điểm đó cũng đã có hành động khá mạnh tay khi liên tiếp thực hiện 2 đợt tăng lãi suất điều hành vào tháng 9 và tháng 10/2022. Sau động thái đó cùng với sự “cộng hưởng” của một số vụ án kinh tế lớn xảy ra cuối năm 2022, mặt bằng lãi suất ngoài thị trường liên tục nóng lên và lãi suất huy động có lúc vượt ngưỡng 11%. Khi đó, Hiệp hội Ngân hàng Việt Nam (VNBA) đã phải có nhiều cuộc họp để “phanh” cuộc đua tăng lãi suất giữa các ngân hàng thì từ đó lãi suất mới dừng tăng, nhưng sau đó giảm rất chậm.

Định hướng với lãi suất

Mặc tỷ giá thời điểm này đã vượt đỉnh hồi tháng 10/2022, nhưng các chuyên gia tài chính cho rằng, bối cảnh thị trường tiền tệ hiện nay đã có nhiều điểm khác. Ở góc độ quốc tế, thời điểm cuối 2022 là giai đoạn Cục Dự trữ liên bang Mỹ (FED) vẫn đang thực hiện các đợt tăng lãi suất liên tục tạo sức ép tăng giá đồng USD trên thị trường quốc. Ngược lại, thời điểm hiện tại FED có thể sẽ giảm dần lãi suất trong thời gian tới. Chỉ số DXY đo lường sức mạnh đồng Đô la Mỹ thời điểm đó cũng tăng khá cao lên sát mốc 107 điểm, trong khi chỉ số DXY hiện chỉ quanh mốc hơn 104 điểm.

Trong khi đó với diễn biến trong nước, vừa qua Thủ tướng Chính phủ đã có những chỉ đạo rất cụ thể trong quan điểm điều hành chính sách tiền tệ, nổi bật gần đây nhất là Công điện số 32/CĐ-TTg (Công điện 32) về các giải pháp điều hành tăng trưởng tín dụng năm 2024. Như vậy chỉ trong vòng 1 tháng, Thủ tướng đã có 2 công điện liên quan đến hoạt động tín dụng và chính sách tiền tệ bởi cuối tháng 3, Thủ tướng cũng đã có Công điện số 18/CĐ-TTg (ngày 5/3/2024) về điều hành tăng trưởng tín dụng năm 2024.

Trong Công điện 32 mới ban hành gần đây, Thủ tướng yêu cầu NHNN tiếp tục theo dõi sát diễn biến, tình hình kinh tế thế giới, trong nước, điều hành chính sách tiền tệ chủ động, linh hoạt, kịp thời, hiệu quả hơn; thực hiện quyết liệt, hiệu quả các nhiệm vụ, giải pháp, nhất là về thúc đẩy tăng trưởng tín dụng, giảm mặt bằng lãi suất cho vay. NHNN phải chỉ đạo các tổ chức tín dụng hướng tín dụng vào các lĩnh vực sản xuất kinh doanh, lĩnh vực ưu tiên và các động lực tăng trưởng kinh tế như tiêu dùng, đầu tư, xuất khẩu và thúc đẩy mạnh mẽ chuyển đổi số, chuyển đổi xanh, kinh tế tuần hoàn, đổi mới sáng tạo...; kiểm soát chặt chẽ tín dụng đối với lĩnh vực rủi ro.

Nội dung công điện của Thủ tướng cũng yêu cầu ngành Ngân hàng khẩn trương rà soát toàn diện, phân tích, đánh giá kỹ lưỡng kết quả thực hiện hạn mức tín dụng của hệ thống các tổ chức tín dụng đối với nền kinh tế; có biện pháp điều hành hạn mức tăng trưởng tín dụng năm 2024 hiệu quả, khả thi, kịp thời hơn nữa, tuyệt đối không để ách tắc, chậm trễ.

Theo các chuyên gia, quan điểm trong công điện của Thủ tướng thể hiện hướng định hướng lãi suất thấp để hỗ trợ sản xuất kinh doanh. TS. Châu Đình Linh - giảng viên Đại học ngân hàng TP.Hồ Chí Minh cho biết, điều đáng chú ý Chính phủ hướng mục tiêu vào việc giảm lãi suất đầu ra và công khai hóa thông tin lãi suất để tạo sự minh bạch lãi suất cho người đi vay có sự lực chọn phù hợp. Trong khi đó, dư địa để có thể điều tiết tỷ giá mà không cần sử dụng đến công cụ lãi suất có thể vẫn còn. Ông Linh cho biết, đó là việc NHNN có thể thực hiện bán ngoại tệ trong nguồn dự trữ ngoại hối, khơi thông giải ngân vốn FDI, thúc đẩy xuất khẩu và hạn chế nhập khẩu những mặt hàng trong nước có thể tự chủ…

Ngoài ra, đánh giá về mức độ ảnh hưởng của tỷ giá tăng, ông Phan Lê Thành Long, CEO của AFA Research & Education cho biết, tỷ giá nếu biến động quá lớn thì rõ ràng là một yếu tố có thể gây bất ổn, nhưng cũng phải nhìn nhận là đồng nội tệ yếu cũng có thuận lợi cho việc hỗ trợ xuất khẩu. Do đó, theo ông Long, việc duy trì đồng nội tệ yếu ở mức nào cũng phụ thuộc vào các chính sách liên quan đến xuất khẩu, nhất là khi nền kinh tế đang cần có các yếu tố tạo sự cạnh tranh với hàng hóa của các quốc gia khác./.

Chí Tín

Đọc thêm

Tỷ giá USD hôm nay (1/7): Ngân hàng bán USD kịch trần, tỷ giá USD/JPY lập đỉnh nhiều thập kỷ

Tỷ giá USD hôm nay (1/7): Ngân hàng bán USD kịch trần, tỷ giá USD/JPY lập đỉnh nhiều thập kỷ

(TBTCO) - Sáng 1/7, trong phiên giao dịch đầu tháng, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam giữ nguyên tỷ giá trung tâm ở mức 25.206 đồng, trong khi các ngân hàng thương mại niêm yết giá bán USD kịch trần 26.466 đồng. Chỉ số DXY tăng lên 101,17 điểm, hỗ trợ đồng USD đi lên và đẩy tỷ giá USD/JPY lập đỉnh nhiều thập kỷ.
SHB được vinh danh trong Top 10 ngân hàng thương mại Việt Nam uy tín năm 2026 và Top 200 doanh nghiệp lớn nhất Đông Nam Á của Fortune

SHB được vinh danh trong Top 10 ngân hàng thương mại Việt Nam uy tín năm 2026 và Top 200 doanh nghiệp lớn nhất Đông Nam Á của Fortune

(TBTCO) - Liên tiếp được vinh danh tại các bảng xếp hạng uy tín cùng giải thưởng danh giá trong nước và quốc tế, SHB tiếp tục khẳng định vị thế, uy tín và năng lực cạnh tranh của một định chế tài chính hàng đầu Việt Nam.
Giá vàng hôm nay ngày 1/7: Giá vàng thế giới lùi về sát mốc 4.000 USD/ounce

Giá vàng hôm nay ngày 1/7: Giá vàng thế giới lùi về sát mốc 4.000 USD/ounce

(TBTCO) - Giá vàng thế giới lùi về sát mốc 4.000 USD/ounce sau nhịp điều chỉnh kéo dài. Trong nước, giá vàng miếng và vàng nhẫn cũng tiếp tục giảm tại nhiều doanh nghiệp kinh doanh vàng.
Đề xuất 4 tỷ lệ an toàn mới tiến gần Basel III, "phép thử" mới với các ngân hàng

Đề xuất 4 tỷ lệ an toàn mới tiến gần Basel III, "phép thử" mới với các ngân hàng

Dự thảo Thông tư thay thế Thông tư số 22/2019/TT-NHNN đưa ra 4 tỷ lệ an toàn mới, từng bước đưa hệ thống ngân hàng tiến gần chuẩn Basel III. S&I Ratings cho rằng, chỉ tiêu tỷ lệ dư nợ cấp tín dụng so với huy động vốn (CDR) có thể tiếp tục được điều chỉnh, nhằm hài hòa các mục tiêu.
Bức tranh lợi nhuận ngân hàng thay đổi sau 10 năm

Bức tranh lợi nhuận ngân hàng thay đổi sau 10 năm

(TBTCO) - Tổng lợi nhuận trước thuế của 27 ngân hàng đạt 293.388 tỷ đồng trong năm 2025, tăng hơn 8 lần so với năm 2015. Cùng với đó, thứ hạng lợi nhuận của nhiều ngân hàng cũng có sự thay đổi sau một thập kỷ.
NCB tăng vốn lớn nhất lịch sử lên hơn 29.000 tỷ đồng, bổ nhiệm 2 Phó Tổng giám đốc

NCB tăng vốn lớn nhất lịch sử lên hơn 29.000 tỷ đồng, bổ nhiệm 2 Phó Tổng giám đốc

(TBTCO) - NCB vừa hoàn tất đợt tăng vốn lớn nhất lịch sử với 1 tỷ cổ phiếu phát hành riêng lẻ, thu về 10.000 tỷ đồng, qua đó, nâng vốn điều lệ lên 29.280 tỷ đồng. Động thái này giúp ngân hàng củng cố năng lực tài chính, mở rộng dư địa tăng trưởng tín dụng và đẩy nhanh lộ trình tại Phương án cơ cấu lại.
Giá vàng hôm nay ngày 30/6: Giá vàng thế giới giảm mạnh, lùi sát mốc 4.000 USD/ounce

Giá vàng hôm nay ngày 30/6: Giá vàng thế giới giảm mạnh, lùi sát mốc 4.000 USD/ounce

(TBTCO) - Giá vàng thế giới giảm khoảng 60 USD/ounce so với sáng qua, lùi về sát ngưỡng 4.000 USD/ounce. Cùng diễn biến này, giá vàng trong nước cũng tiếp tục điều chỉnh giảm ở cả vàng miếng và vàng nhẫn.
Bảo hiểm y tế mở rộng chi trả cho khám ngoại trú trái tuyến

Bảo hiểm y tế mở rộng chi trả cho khám ngoại trú trái tuyến

(TBTCO) - Trao đổi với phóng viên Báo Tài chính - Đầu tư, bà Nguyễn Lan Hương - Phó Trưởng Ban Thực hiện chính sách bảo hiểm y tế, Bảo hiểm xã hội Việt Nam cho biết, từ ngày 1/7/2026, người tham gia bảo hiểm y tế tự đi khám, chữa bệnh ngoại trú tại các cơ sở khám bệnh, chữa bệnh cấp cơ bản và cấp chuyên sâu sẽ được mở rộng quyền lợi. Đáng chú ý, nhiều bệnh, nhóm bệnh trước đây chưa được Quỹ Bảo hiểm y tế thanh toán nay sẽ được chi trả 50% mức hưởng trong phạm vi được hưởng.
Xem thêm
DOJI Giá mua Giá bán
SJC -Bán Lẻ 14,340 ▼60K 14,640 ▼60K
Kim TT/AVPL 14,340 ▼60K 14,640 ▼60K
NHẪN TRÒN 9999 HƯNG THỊNH VƯỢNG 14,340 ▼60K 14,640 ▼60K
Nguyên Liệu 99.99 13,090 ▼60K 13,290 ▼60K
Nguyên Liệu 99.9 13,040 ▼60K 13,240 ▼60K
NỮ TRANG 9999 - BÁN LẺ 13,590 ▼60K 14,090 ▼60K
NỮ TRANG 999 - BÁN LẺ 13,540 ▼60K 14,040 ▼60K
Nữ trang 99 - Bán Lẻ 13,470 ▼60K 14,020 ▼60K
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 143,000 ▼1000K 146,000 ▼1000K
Hà Nội - PNJ 143,000 ▼1000K 146,000 ▼1000K
Đà Nẵng - PNJ 143,000 ▼1000K 146,000 ▼1000K
Miền Tây - PNJ 143,000 ▼1000K 146,000 ▼1000K
Tây Nguyên - PNJ 143,000 ▼1000K 146,000 ▼1000K
Đông Nam Bộ - PNJ 143,000 ▼1000K 146,000 ▼1000K
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 14,340 ▼60K 14,640 ▼60K
Miếng SJC Nghệ An 14,340 ▼60K 14,640 ▼60K
Miếng SJC Thái Bình 14,340 ▼60K 14,640 ▼60K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 14,250 ▼50K 14,600 ▼50K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 14,250 ▼50K 14,600 ▼50K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 14,250 ▼50K 14,600 ▼50K
NL 99.90 12,900
NL 99.99, Nhẫn Tròn Thái Bình 12,950
Trang sức 99.9 13,790 ▼50K 14,490 ▼50K
Trang sức 99.99 13,800 ▼50K 14,500 ▼50K
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,434 ▲1290K 1,464 ▲1317K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,434 ▲1290K 14,642 ▼60K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,434 ▲1290K 14,643 ▼60K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,433 ▼6K 1,463 ▼6K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,433 ▼6K 1,464 ▲1317K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,413 ▼6K 1,448 ▼6K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 136,366 ▲122670K 143,366 ▲128970K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 99,261 ▼450K 108,761 ▼450K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 89,124 ▼408K 98,624 ▼408K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 78,987 ▼366K 88,487 ▼366K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 75,077 ▼350K 84,577 ▼350K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 51,038 ▼250K 60,538 ▼250K
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,434 ▲1290K 1,464 ▲1317K
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,434 ▲1290K 1,464 ▲1317K
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,434 ▲1290K 1,464 ▲1317K
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,434 ▲1290K 1,464 ▲1317K
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,434 ▲1290K 1,464 ▲1317K
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,434 ▲1290K 1,464 ▲1317K
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,434 ▲1290K 1,464 ▲1317K
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,434 ▲1290K 1,464 ▲1317K
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,434 ▲1290K 1,464 ▲1317K
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,434 ▲1290K 1,464 ▲1317K
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,434 ▲1290K 1,464 ▲1317K
Cập nhật: 01/07/2026 16:00
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17600 17872 18445
CAD 17966 18241 18856
CHF 31835 32216 32858
CNY 0 3831 3923
EUR 29369 29589 30667
GBP 34045 34435 35367
HKD 0 3223 3425
JPY 155 159 165
KRW 0 16 18
NZD 0 14618 15208
SGD 19756 20037 20603
THB 704 767 820
USD (1,2) 26043 0 0
USD (5,10,20) 26084 0 0
USD (50,100) 26113 26127 26466
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,106 26,106 26,466
USD(1-2-5) 25,062 - -
USD(10-20) 25,062 - -
EUR 29,509 29,533 30,918
JPY 157.36 157.64 167.03
GBP 34,219 34,312 35,479
AUD 17,803 17,867 18,533
CAD 18,172 18,230 18,886
CHF 32,119 32,219 33,150
SGD 19,888 19,950 20,717
CNY - 3,799 3,941
HKD 3,289 3,299 3,434
KRW 15.59 16.26 17.68
THB 752.48 761.77 814.39
NZD 14,605 14,741 15,167
SEK - 2,660 2,751
DKK - 3,948 4,084
NOK - 2,604 2,694
LAK - 0.9 1.24
MYR 6,009.7 - 6,780.2
TWD 745.94 - 902.89
SAR - 6,887.27 7,248.41
KWD - 83,196 88,445
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,106 26,126 26,466
EUR 29,463 29,581 30,773
GBP 34,234 34,371 35,396
HKD 3,287 3,300 3,417
CHF 31,978 32,106 33,032
JPY 157.71 158.34 166.12
AUD 17,815 17,887 18,480
SGD 19,974 20,054 20,639
THB 770 773 808
CAD 18,179 18,252 18,819
NZD 14,674 15,210
KRW 16.21 17.81
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26120 26120 26466
AUD 17776 17876 18801
CAD 18156 18256 19270
CHF 32096 32126 33716
CNY 3813.3 3838.3 3973.8
CZK 0 1190 0
DKK 0 4025 0
EUR 29554 29584 31310
GBP 34315 34365 36133
HKD 0 3355 0
JPY 158.11 158.61 169.16
KHR 0 6.097 0
KRW 0 16.6 0
LAK 0 1.165 0
MYR 0 6600 0
NOK 0 2710 0
NZD 0 14713 0
PHP 0 395 0
SEK 0 2735 0
SGD 19919 20049 20770
THB 0 735 0
TWD 0 820 0
SJC 9999 14340000 14340000 14640000
SBJ 13000000 13000000 14640000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,146 26,196 26,466
USD20 26,146 26,196 26,466
USD1 26,146 26,196 26,466
AUD 17,824 17,924 19,036
EUR 29,703 29,703 31,112
CAD 18,106 18,206 19,510
SGD 19,999 20,149 20,703
JPY 158.75 160.25 164.81
GBP 34,232 34,582 35,444
XAU 14,338,000 0 14,642,000
CNY 0 3,721 0
THB 0 768 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 01/07/2026 16:00
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80