Việt Nam - Nhật Bản thúc đẩy ODA thế hệ mới cho chuyển đổi xanh và thích ứng biến đổi khí hậu

Dự kiến ​​việc giải ngân khoản vay sẽ hoàn tất trong năm 2026

Ngày 18/3, tại Hà Nội, Cơ quan Hợp tác quốc tế Nhật Bản (JICA) tại Việt Nam và Bộ Tài chính đồng tổ chức hội thảo “Khoản vay chương trình cho chuyển đổi xanh hướng tới mục tiêu tăng trưởng xanh và thích ứng với biến đổi khí hậu”. Thứ trưởng Bộ Tài chính Trần Quốc Phương và Đại sứ đặc mệnh toàn quyền Nhật Bản tại Việt Nam Ito Naoki tham dự sự kiện.

Tăng tốc giải ngân ODA cho chuyển đổi xanh
Thứ trưởng Bộ Tài chính Trần Quốc Phương (thứ 8 từ phải sang) và Đại sứ Nhật Bản tại Việt Nam Ito Naoki (thứ 7 từ phải sang) chụp ảnh lưu niệm cùng đại diện các bên tham dự sự kiện. Ảnh: Mạnh Tuấn

Khoản vay trị giá 50 tỷ Yên (tương đương 8.350 tỷ đồng, hay 320 triệu USD), với khung chính sách về tăng trưởng xanh, chuyển đổi xanh và thích ứng với biến đổi khí hậu được kỳ vọng sẽ đẩy nhanh các nỗ lực chuyển đổi xanh thông qua hỗ trợ xây dựng chính sách và cung cấp nguồn lực tài chính.

Hợp tác này đại diện cho "ODA thế hệ mới" với quy trình chuẩn bị được rút gọn và thủ tục giải ngân vốn nhanh chóng, đồng thời đảm bảo các mục tiêu phát triển thông qua thiết kế chính sách tốt và huy động nguồn lực hiệu quả.

Thông tin về khoản vay, ông Kobayashi Yosuke - Trưởng đại diện JICA tại Việt Nam cho biết, JICA đã và đang hợp tác với Việt Nam trong lĩnh vực biến đổi khí hậu và phòng chống thiên tai trong nhiều năm qua bằng nhiều công cụ khác nhau. Tuy nhiên, Chương trình GX-DPL lần này ở một cấp độ khác so với các hợp tác trước đây và thực sự tượng trưng cho "ODA trong kỷ nguyên mới" mà Chính phủ Việt Nam đang đề xuất.

Trong các dự án cơ sở hạ tầng thông thường, do nhiều yếu tố khác nhau, thường mất nhiều năm từ khi yêu cầu đến khi đạt được thỏa thuận, nhưng đối với khoản vay theo chương trình này, chỉ mất 8 tháng (kể từ khi yêu cầu chính thức vào cuối tháng 7/2025 đến nay). Dự kiến, ​​việc giải ngân khoản vay sẽ hoàn tất trong năm 2026, nhanh hơn đáng kể so với các dự án cơ sở hạ tầng bị ảnh hưởng bởi tiến độ xây dựng.

Tăng tốc giải ngân ODA cho chuyển đổi xanh
Ông Kobayashi Yosuke - Trưởng đại diện JICA tại Việt Nam thông tin về khoản vay. Ảnh: Mạnh Tuấn

Theo ông Kobayashi Yosuke, điểm mấu chốt của chương trình cho vay này nằm ở tính toàn diện và cách tiếp cận chiến lược, bao gồm việc hỗ trợ kết nối các công ty Nhật Bản sở hữu khoa học, công nghệ và đổi mới với Chính phủ Việt Nam cùng các tổ chức liên quan để hợp tác, phối hợp. Bằng cách này, Chính phủ Việt Nam và các cơ quan liên quan có thể sử dụng khoản vay và nguồn vốn bổ sung mà nó tạo ra để hình thành và thực hiện các dự án kinh doanh cụ thể với các công ty Nhật Bản, giúp việc thực thi chính sách trở nên chắc chắn và hiệu quả hơn.

Hơn nữa, quá trình này cũng sẽ bao gồm chuyển giao công nghệ từ các công ty Nhật Bản sang các công ty Việt Nam, dự kiến ​​góp phần vào sự phát triển của các doanh nghiệp tư nhân và nền kinh tế Việt Nam, một vấn đề cải cách trọng điểm của Chính phủ Việt Nam.

“Như vậy, điểm mạnh lớn nhất của khoản vay chương trình này là cách tiếp cận chiến lược toàn diện nhằm hiện thực hóa khoản vay bền vững thông qua quan hệ đối tác và hợp tác công - tư, đồng thời hỗ trợ định hướng cải cách của Việt Nam. Đây là yếu tố then chốt phù hợp với tên gọi của một thế hệ ODA mới” - ông Kobayashi Yosuke nhấn mạnh.

Ba trụ cột chính sách dẫn dắt dòng vốn và cải cách thể chế xanh

Thông tin về các hành động chính sách của khoản vay chương trình này, ông Dương Hùng Cường - Phó Cục trưởng Cục Quản lý Nợ và kinh tế đối ngoại (Bộ Tài chính) cho biết, trong những năm gần đây, Việt Nam đã có những cam kết mạnh mẽ trong việc thực hiện các mục tiêu phát triển bền vững, đặc biệt là thực hiện Chiến lược quốc gia về tăng trưởng xanh giai đoạn 2021 - 2030 và Kế hoạch hành động quốc gia về tăng trưởng xanh.

“Trong bối cảnh này, khoản vay hỗ trợ ngân sách của Chính phủ Nhật Bản trị giá 50 tỷ Yên dành cho chuyển đổi xanh hướng tới mục tiêu tăng trưởng xanh và thích ứng với biến đổi khí hậu là một minh chứng rõ nét cho mối quan hệ hợp tác sâu, rộng, đúng trọng tâm, trọng điểm, phù hợp với nhu cầu của bên vay và thế mạnh, kinh nghiệm của bên cho vay” - ông Cường khẳng định.

Tăng tốc giải ngân ODA cho chuyển đổi xanh
Ông Dương Hùng Cường - Phó Cục trưởng Cục Quản lý Nợ và kinh tế đối ngoại (Bộ Tài chính) phát biểu tại sự kiện. Ảnh: Mạnh Tuấn

Ông Cường cho biết, ma trận chính sách của khoản vay chương trình hỗ trợ ngân sách chung đã được thống nhất giữa các cơ quan Chính phủ hai nước Việt Nam và Nhật Bản cho chuyển đổi xanh hướng tới mục tiêu tăng trưởng xanh và thích ứng với biến đổi khí hậu với tổng cộng 25 hành động chính sách đã được xây dựng và triển khai theo 3 trụ cột chính, nhằm tạo nền tảng cho quá trình chuyển đổi xanh của nền kinh tế.

Thứ nhất, trụ cột về xây dựng và thiết lập các ưu đãi tài chính, đầu tư và cơ chế cho chuyển đổi xanh và tăng trưởng xanh. Nguồn lực tài chính đóng vai trò then chốt trong việc hiện thực hóa các mục tiêu của Chiến lược và Kế hoạch hành động quốc gia về tăng trưởng xanh. Do đó, Chính phủ và các bộ, ngành đã tích cực xây dựng nhiều chính sách nhằm huy động và định hướng dòng vốn cho các hoạt động xanh.

Tại trụ cột này, 10 hành động chính sách được thiết kế là sự kết hợp của các chính sách tài khóa và chính sách tiền tệ.

Theo đó, bên cạnh các chính sách tài khóa như rà soát và điều chỉnh hệ thống chính sách thuế (Luật Thuế thu nhập doanh nghiệp), sửa đổi, bổ sung, hoàn thiện các chính sách về đầu tư công (trong đó chú trọng nguồn vốn ODA cho các dự án phục vụ chuyển đổi xanh)... do Bộ Tài chính chủ trì theo hướng khuyến khích các hoạt động đầu tư xanh, khuyến khích khu vực tư nhân tham gia đầu tư vào thị trường tín chỉ carbon và thị trường trái phiếu xanh, các chính sách tín dụng thúc đẩy phát triển bền vững và tăng trưởng xanh trong lĩnh vực nông nghiệp do Ngân hàng Nhà nước Việt Nam chủ trì cũng được triển khai.

Một nội dung quan trọng khác là việc xây dựng tiêu chí môi trường và cơ chế chứng nhận đối với các dự án được cấp tín dụng xanh và phát hành trái phiếu xanh do Bộ Nông nghiệp và Môi trường chủ trì, qua đó góp phần định hướng dòng vốn vào các hoạt động thân thiện với môi trường.

Thứ hai, trụ cột về xây dựng chính sách thực hiện Đóng góp do quốc gia tự quyết định (NDC). Việc thực hiện các cam kết quốc tế về giảm phát thải và phát triển bền vững đang được cụ thể hóa bằng nhiều chính sách quan trọng. Việt Nam đã cập nhật NDC vào năm 2022 với các mục tiêu giảm phát thải khí nhà kính tham vọng hơn.

Chính phủ đã ban hành các quy định liên quan đến quản lý tín chỉ carbon và phát triển thị trường carbon, đồng thời xác định danh mục các cơ sở phải thực hiện kiểm kê khí nhà kính. Trong lĩnh vực năng lượng, Bộ Công thương đóng vai trò chủ trì trong việc hoàn thiện khung pháp lý cho chuyển dịch năng lượng. Bộ Nông nghiệp và Môi trường cũng đang thúc đẩy các chính sách về kinh tế tuần hoàn, đặc biệt trong quản lý chất thải rắn sinh hoạt, nhằm giảm phát thải và nâng cao hiệu quả sử dụng tài nguyên.

Để thực hiện các mục tiêu này, nhiều cơ quan đang phối hợp xây dựng các chính sách nền tảng. Những chính sách này cho thấy sự phối hợp giữa các bộ, ngành trong việc hiện thực hóa các cam kết quốc tế của Việt Nam về biến đổi khí hậu và phát triển bền vững.

Thứ ba, trụ cột về áp dụng các biện pháp liên quan đến biến đổi khí hậu và tăng cường khả năng phục hồi sau thiên tai.

Chính phủ đã ban hành Kế hoạch hành động quốc gia về thích ứng với biến đổi khí hậu giai đoạn 2021 - 2030, tầm nhìn đến năm 2050, nhằm nâng cao năng lực thích ứng của các ngành, lĩnh vực và địa phương. Bên cạnh đó, hệ thống pháp luật về phòng chống thiên tai được các cơ quan như Bộ Quốc phòng, Bộ Nông nghiệp và Môi trường tiếp tục hoàn thiện, bao gồm việc triển khai Luật Phòng thủ dân sự, xây dựng quy hoạch phòng chống thiên tai và tăng cường công tác chuẩn bị ứng phó với các tình huống khẩn cấp.

Đặc biệt, sau cơn bão Yagi gây thiệt hại lớn trong năm 2024, Chính phủ đã ban hành nhiều chính sách hỗ trợ khẩn cấp nhằm giúp người dân và doanh nghiệp nhanh chóng phục hồi sản xuất và ổn định đời sống. Các giải pháp bao gồm giảm thuế, hỗ trợ tín dụng, cơ cấu thời hạn trả nợ và các cơ chế xử lý rủi ro tài chính cho các đối tượng bị ảnh hưởng.

Điều này cho thấy, quản lý rủi ro thiên tai và thích ứng với biến đổi khí hậu đang ngày càng trở thành một nội dung quan trọng trong chính sách phát triển kinh tế - xã hội.

Hệ thống chính sách đang từng bước hình thành một khuôn khổ toàn diện cho chuyển đổi xanh tại Việt Nam, kết hợp giữa các công cụ tài chính, tiền tệ, cơ chế thị trường, chính sách năng lượng, quản lý môi trường và tăng cường khả năng thích ứng với biến đổi khí hậu.

Tuy nhiên, để các chính sách này phát huy hiệu quả trong thực tiễn, cần tiếp tục tăng cường sự phối hợp giữa các bộ, ngành, địa phương, khu vực tư nhân và các đối tác quốc tế, đồng thời hoàn thiện hệ thống dữ liệu, cơ chế giám sát và đánh giá chính sách./.

Theo đánh giá của các chuyên gia, nhu cầu tài chính cho các biện pháp giảm phát thải trong từng lĩnh vực theo cam kết môi trường của Việt Nam đến năm 2030 là khoảng 68,75 tỷ USD. Trong đó, nguồn quốc gia tự thực hiện dự kiến khoảng hơn 24,7 tỷ USD, chiếm 36% và nhu cầu đối với nguồn lực hỗ trợ của quốc tế dự kiến khoảng 44 tỷ USD, chiếm 64%.