Techcombank công bố lợi nhuận quý II đạt đỉnh cao nhất trong lịch sử 7.900 tỷ đồng

(TBTCO) - Trong quý II/2025, Ngân hàng TMCP Kỹ Thương Việt Nam (Techcombank, HOSE: TCB) đạt lãi trước thuế 7.900 tỷ đồng, mức cao nhất trong lịch sử, cho thấy hiệu quả hoạt động vượt trội trong bối cảnh thị trường chung còn nhiều biến động.
aa
Techcombank đồng hành cùng Chương trình “Vươn tầm Doanh nghiệp Việt” Techcombank Investment Summit 2025: “Việt Nam mới – tầm nhìn kiến tạo giá trị”

Lãi quý cao nhất lịch sử

Kết quả kinh doanh 6 tháng đầu năm 2025 tiếp tục cho thấy sự linh hoạt và khả năng thích ứng cao của Techcombank. Theo đó, thu nhập lãi thuần (NII) đạt 17.400 tỷ đồng, giảm nhẹ 3% so với cùng kỳ. Dù vậy, biên lãi thuần (NIM) đã có dấu hiệu phục hồi tích cực, cải thiện từ mức 3,7% trong quý I lên 3,8% trong quý II, cho thấy cải thiện trong hiệu suất sinh lời và tối ưu hóa hiệu quả hoạt động qua từng quý.

Thu nhập từ hoạt động dịch vụ (NFI) trong 6 tháng đầu năm là minh chứng rõ nét cho chiến lược đúng đắn của Ngân hàng, với nhiều mảng ghi nhận kết quả đột phá. Chẳng hạn phí dịch vụ Ngân hàng đầu tư (IB) tăng trưởng bùng nổ 30,2% so với cùng kỳ, đạt 2,333 tỷ đồng. Đây là mảng hoạt động có đóng góp ấn tượng nhất, tiếp nối thành công từ năm 2024. Riêng trong quý II ghi nhận mức phí IB kỷ lục 1,412.1 tỷ đồng, tăng gần 36% so với cùng kỳ, khẳng định vị thế dẫn đầu của Techcombank trong các dịch vụ tư vấn phát hành, phân phối trái phiếu và môi giới.

Techcombank công bố lợi nhuận quý II đạt đỉnh cao nhất trong lịch sử 7.900 tỷ đồng
Techcombank công bố lợi nhuận quý II đạt đỉnh cao nhất trong lịch sử 7.900 tỷ đồng.

Thành công từ việc ra mắt các sản phẩm ngoại hối sáng tạo, đáp ứng đúng nhu cầu đa dạng của khách hàng cá nhân cho các mục đích du lịch, du học và định cư, giúp khoản thu từ dịch vụ ngoại hối tăng trưởng ngoạn mục 57,7%, đạt 584 tỷ đồng.

Thu phí dịch vụ bảo hiểm (bancassurance) tăng trưởng bền vững 17,6%, đạt 452,2 tỷ đồng. Techcombank tiếp tục khẳng định vị thế trong top đầu thị trường, với doanh số phí bảo hiểm quy năm (APE) đứng thứ 3 toàn ngành.

Trong nửa đầu năm, phí từ dịch vụ thẻ giảm 24,7%, đạt 769,4 tỷ đồng. Mức suy giảm phù hợp với xu hướng dịch chuyển từ hình thức thanh toán bằng thẻ sang các hình thức thanh toán khác như mã QR (Techcombank giữ thị phần số 1, theo VietQR).

Chi phí hoạt động (OPEX) được kiểm soát hiệu quả khi gần như đi ngang so với cùng kỳ, ở mức 7.100 tỷ đồng. Nhờ đó, tỷ lệ chi phí trên thu nhập (CIR) được duy trì ở mức thấp ấn tượng là 29,2%.

Chi phí dự phòng rủi ro giảm mạnh 26,3% so với cùng kỳ, chỉ còn 2.104 tỷ đồng, nhờ chất lượng tài sản của danh mục cho vay mua nhà và thẻ tín dụng. Theo đó, chi phí tín dụng tiếp tục cải thiện xuống chỉ còn 0,6% vào cuối quý II và 0,4% sau thu từ nợ đã xử lý bằng nguồn dự phòng rủi ro.

Kết quả, Techcombank lãi trước thuế 6 tháng đầu năm ở mức 15.100 tỷ đồng, trong riêng quý II đạt mức 7.900 tỷ đồng, cao hơn 9,2% so với quý I và là mức lợi nhuận theo quý cao nhất trong lịch sử hoạt động của Ngân hàng.

Tổng tài sản vượt mốc 1 triệu tỷ đồng, CASA phục hồi ấn tượng

Tính đến ngày 30/06/2025, tổng tài sản của Techcombank đạt 1.038 triệu tỷ đồng, tăng hơn 6% so với đầu năm, đánh dấu lần đầu tiên tổng tài sản của Ngân hàng vượt mốc 1 triệu tỷ đồng - minh chứng cho sự phát triển bền vững và niềm tin ngày càng lớn của khách hàng dành cho Techcombank.

Tính riêng Ngân hàng, tín dụng tăng trưởng 10,6% lên mức 708.900 tỷ đồng - đảm bảo tăng trưởng phù hợp để duy trì tỷ lệ cho vay trên tiền gửi (LDR) và tỷ lệ nguồn vốn ngắn hạn cho vay trung và dài hạn ở mức thấp hơn đáng kể so với giới hạn quy định bởi Ngân hàng Nhà nước (NHNN).

Nhu cầu tín dụng tăng trưởng đồng đều và mạnh mẽ ở cả hai phân khúc khách hàng cá nhân và doanh nghiệp. Tín dụng cá nhân tăng trưởng đột phá 26,6% so với cùng kỳ, đạt 316.000 tỷ đồng. Động lực chính đến từ các sản phẩm cho vay mua nhà, cho vay hộ kinh doanh, và cho vay ký quỹ. Đặc biệt, tăng trưởng cho vay ký quỹ hoàn toàn phù hợp với diễn biến tích cực của thị trường chứng khoán, khi chỉ số VN-Index ghi nhận đà tăng trưởng mạnh mẽ.

Tín dụng doanh nghiệp tăng trưởng 15,4% so với cùng kỳ, đạt 442.900 tỷ đồng. Ngân hàng tiếp tục là đối tác tin cậy của các doanh nghiệp đầu ngành, với mức tăng trưởng cao nhất được ghi nhận ở ngành Tiện ích và Viễn thông (+52,6% so với cùng kỳ), theo sau là ngành hàng tiêu dùng nhanh (FMCG), bán lẻ và logistics tăng 14,7%.

Tổng tiền gửi của khách hàng đạt 589.100 tỷ đồng, tăng hơn 10% so với đầu năm. Điểm nhấn đặc biệt là sự phục hồi mạnh mẽ của tiền gửi không kỳ hạn (CASA), ghi nhận mức tăng trưởng 7,9% so với quý I. Thành công này đến từ các giải pháp tài chính toàn diện và hấp dẫn như "Sinh lời tự động 2.0" và hộ kinh doanh tăng 29,9% so với cùng kỳ năm trước đạt 158.900 tỷ đồng. CASA khách hàng doanh nghiệp tăng 16,1% so với cùng kỳ.

Sự tăng trưởng CASA ấn tượng này không chỉ giúp Ngân hàng tối ưu hóa chi phí vốn mà còn khẳng định sự gắn kết sâu sắc của khách hàng với hệ sinh thái sản phẩm, dịch vụ của Techcombank.

Techcombank tiếp tục duy trì vị thế là một trong những ngân hàng có nền tảng vốn và quản trị rủi ro tốt nhất hệ thống khi tính đến cuối quý II, tỷ lệ cho vay trên tiền gửi (LDR) chỉ ở mức 82,4% và tỷ lệ nguồn vốn ngắn hạn cho vay trung và dài hạn là 26,4%, thấp hơn đáng kể so với giới hạn quy định của NHNN.

Tỷ lệ an toàn vốn (CAR) theo Basel II đạt 15,0%, cao gần gấp đôi so với yêu cầu tối thiểu, tạo ra một bộ đệm vốn vững chắc cho tăng trưởng trong tương lai.

Mặc dù tỷ lệ nợ xấu (NPL) hợp nhất nhích nhẹ lên mức 1,32% trong bối cảnh chung, chất lượng danh mục tín dụng của Ngân hàng vẫn ở mức lành mạnh. Đáng chú ý, tỷ lệ NPL nếu loại trừ dư nợ tại CIC chỉ ở mức 1,05%. Tỷ lệ dự phòng bao phủ nợ xấu (LLCR) tiếp tục được duy trì ở mức an toàn đạt 106,4%, cho thấy sự chủ động và thận trọng của Ngân hàng trong công tác quản trị rủi ro.

Tổng Giám đốc Jens Lottner chia sẻ: “Techcombank đã ghi nhận lợi nhuận trước thuế theo quý cao nhất từ trước đến nay, bám sát định hướng mà Ban điều hành đề ra cho cả năm. Tăng trưởng tín dụng đạt mức hai chữ số, phản ánh nhu cầu của doanh nghiệp và người dân cũng như động lực tăng trưởng kinh tế tích cực của Việt Nam.

Chúng tôi trở thành ngân hàng đầu tiên tại Việt Nam triển khai mô hình chi nhánh số hóa hoàn toàn, khẳng định cam kết phát triển bền vững. Đồng thời, Techcombank tiếp tục tạo dấu ấn khi là ngân hàng duy nhất được vinh danh “Ngân hàng tốt nhất Việt Nam” bởi cả ba tổ chức uy tín quốc tế: Euromoney, FinanceAsia và Global Finance – năm thứ hai liên tiếp”.

Tiên phong chuyển đổi số, kết nối đầu tư quốc tế

Tiếp tục là lựa chọn tin cậy của người dân Việt Nam, Techcombank khép lại 6 tháng đầu năm 2025 với gần 16,5 triệu khách hàng, thu hút thêm gần 1,2 triệu khách hàng mới. Đáng chú ý, 57,6% khách hàng mới gia nhập hoàn toàn qua nền tảng số, minh chứng cho sức hút và sự tiện lợi của ngân hàng số Techcombank.

Niềm tin của khách hàng thể hiện qua gần 1,9 tỷ giao dịch của khách hàng cá nhân qua kênh điện tử trong 6 tháng, tăng 28% so với cùng kỳ với tổng giá trị giao dịch đạt 6 triệu tỷ đồng.

Với những con số ấn tượng này, Techcombank tiếp tục giữ vững vị trí số một trên thị trường về cả chiều phát hành thẻ (thị phần 17,5%) và chiều thanh toán (thị phần 16,1%) theo thống kê của NAPAS.

Ngân Vũ

Đọc thêm

TPBank đặt mục tiêu lợi nhuận 10.300 tỷ đồng, tăng 12%, muốn lập ngân hàng thành viên tại VIFC

TPBank đặt mục tiêu lợi nhuận 10.300 tỷ đồng, tăng 12%, muốn lập ngân hàng thành viên tại VIFC

(TBTCO) - Mục tiêu lợi nhuận 10.300 tỷ đồng năm 2026, tăng 12% của TPBank không chỉ là bài toán tăng trưởng. Điều đáng chú ý nằm ở cách ngân hàng đang xây dựng động lực phía sau con số đó.
Sacombank "siết nợ" Bamboo Airways, thu giữ 355 giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, nhà ở của FLC

Sacombank "siết nợ" Bamboo Airways, thu giữ 355 giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, nhà ở của FLC

(TBTCO) - Phòng xử lý nợ - Khối Quản trị rủi ro thuộc ngân hàng Sacombank vừa thông báo thu giữ tài sản bảo đảm khoản nợ xấu của Bamboo Airways. Tài sản bảo đảm là 355 giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở tại dự án ở Gia Lai, thuộc sở hữu Tập đoàn FLC. Ngân hàng sẽ tiến hành thu giữ từ 22/4 đến 22/6/2026.
Bộ Tài chính đề xuất sửa đổi, bổ sung nhiều quy định về bảo hiểm bắt buộc trong hoạt động xây dựng

Bộ Tài chính đề xuất sửa đổi, bổ sung nhiều quy định về bảo hiểm bắt buộc trong hoạt động xây dựng

(TBTCO) - Bộ Tài chính đang xây dựng dự thảo Nghị định sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 67/2023/NĐ-CP về bảo hiểm bắt buộc trong hoạt động xây dựng, nhằm đồng bộ với Luật Kinh doanh bảo hiểm và Luật Xây dựng có hiệu lực; đồng thời, giải quyết các khó khăn, vướng mắc cấp thiết nhằm tạo điều kiện thuận lợi và đáp ứng nhu cầu thực tiễn của thị trường.
NAPAS mở rộng dịch vụ thanh toán qua mã QR giữa Việt Nam - Trung Quốc

NAPAS mở rộng dịch vụ thanh toán qua mã QR giữa Việt Nam - Trung Quốc

(TBTCO) - Ngày 3/4, Công ty cổ phần Thanh toán Quốc gia Việt Nam (NAPAS), Ant International, và Ngân hàng TMCP Ngoại thương Việt Nam (Vietcombank) phối hợp tổ chức Lễ công bố mở rộng triển khai dịch vụ thanh toán QR giữa Việt Nam - Trung Quốc.
Chuyển tiền du học – Không lo tỷ giá giải pháp tối ưu chi phí cho phụ huynh và du học sinh từ BAC A BANK

Chuyển tiền du học – Không lo tỷ giá giải pháp tối ưu chi phí cho phụ huynh và du học sinh từ BAC A BANK

(TBTCO) - Nhằm hỗ trợ khách hàng có nhu cầu chuyển đổi ngoại tệ đáp ứng nhu cầu học tập ở nước ngoài với tỷ giá ưu đãi, Ngân hàng TMCP Bắc Á (BAC A BANK) chính thức triển khai chương trình "Chuyển tiền du học - Không lo tỷ giá" từ tháng 4/2026
Sự dịch chuyển cơ cấu bảo hiểm phi nhân thọ và "cuộc chơi" chiến lược

Sự dịch chuyển cơ cấu bảo hiểm phi nhân thọ và "cuộc chơi" chiến lược

(TBTCO) - Đằng sau mức tăng trưởng 2 con số của thị trường bảo hiểm phi nhân thọ là sự dẫn dắt của các nghiệp vụ chủ lực như bảo hiểm sức khỏe và xe cơ giới, song cơ cấu doanh thu có sự dịch chuyển đáng kể. Không ít doanh nghiệp chấp nhận duy trì sản phẩm lỗ như “đòn bẩy” để khai thác các mảng có biên lợi nhuận cao hơn.
Tỷ giá USD hôm nay (3/4): Tỷ giá trung tâm đi ngang, DXY giằng co quanh mốc 100 điểm

Tỷ giá USD hôm nay (3/4): Tỷ giá trung tâm đi ngang, DXY giằng co quanh mốc 100 điểm

(TBTCO) - Sáng ngày 3/4, tỷ giá trung tâm phiên cuối tuần giữ nguyên ở mức 25.107 VND/USD; trong khi chiều bán tỷ giá USD tại nhiều ngân hàng chạm trần. Trên thị trường quốc tế, DXY phục hồi lên 99,98 điểm, tiếp tục giằng co quanh mốc 100 điểm khi Tổng thống Trump phát tín hiệu cứng rắn về nguy cơ leo thang xung đột Trung Đông.
Sun Life chi trả 608 tỷ đồng quyền lợi bảo hiểm năm 2025, tăng 26% so với 2024

Sun Life chi trả 608 tỷ đồng quyền lợi bảo hiểm năm 2025, tăng 26% so với 2024

(TBTCO) - Trong năm 2025, Sun Life Việt Nam cho biết tiếp tục chiếm thị phần lớn mảng bảo hiểm hưu trí tự nguyện, duy trì tài chính an toàn và chiến lược đầu tư dài hạn.
Xem thêm

Mới nhất Đọc nhiều

DOJI Giá mua Giá bán
SJC -Bán Lẻ 17,100 17,450
Kim TT/AVPL 17,110 17,460
NHẪN TRÒN 9999 HƯNG THỊNH VƯỢNG 17,100 17,450
Nguyên Liệu 99.99 15,650 15,850
Nguyên Liệu 99.9 15,600 15,800
NỮ TRANG 9999 - BÁN LẺ 16,550 16,950
NỮ TRANG 999 - BÁN LẺ 16,500 16,900
Nữ trang 99 - Bán Lẻ 16,430 16,880
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 169,400 172,900
Hà Nội - PNJ 169,400 172,900
Đà Nẵng - PNJ 169,400 172,900
Miền Tây - PNJ 169,400 172,900
Tây Nguyên - PNJ 169,400 172,900
Đông Nam Bộ - PNJ 169,400 172,900
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 17,100 17,450
Miếng SJC Nghệ An 17,100 17,450
Miếng SJC Thái Bình 17,100 17,450
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 17,100 17,450
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 17,100 17,450
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 17,100 17,450
NL 99.90 15,670
NL 99.99, Nhẫn Tròn Thái Bình 15,700
Trang sức 99.9 16,640 17,340
Trang sức 99.99 16,650 17,350
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,715 ▲1544K 1,745
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,715 ▲1544K 17,452
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,715 ▲1544K 17,453
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,713 ▲5K 1,743
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,713 ▲5K 1,744
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,693 ▲5K 1,728
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 164,589 171,089
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 120,863 129,763
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 108,766 117,666
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 96,669 105,569
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 92,002 100,902
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 63,315 72,215
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,715 ▲1544K 1,745
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,715 ▲1544K 1,745
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,715 ▲1544K 1,745
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,715 ▲1544K 1,745
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,715 ▲1544K 1,745
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,715 ▲1544K 1,745
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,715 ▲1544K 1,745
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,715 ▲1544K 1,745
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,715 ▲1544K 1,745
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,715 ▲1544K 1,745
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,715 ▲1544K 1,745
Cập nhật: 04/04/2026 11:30
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17614 17886 18465
CAD 18352 18628 19245
CHF 32224 32607 33261
CNY 0 3470 3830
EUR 29695 29966 31005
GBP 33935 34325 35279
HKD 0 3229 3433
JPY 158 162 168
KRW 0 16 18
NZD 0 14681 15267
SGD 19917 20199 20733
THB 721 784 838
USD (1,2) 26071 0 0
USD (5,10,20) 26112 0 0
USD (50,100) 26140 26160 26362
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,142 26,142 26,362
USD(1-2-5) 25,097 - -
USD(10-20) 25,097 - -
EUR 29,967 29,991 31,233
JPY 161 161.29 169.96
GBP 34,331 34,424 35,403
AUD 17,918 17,983 18,551
CAD 18,623 18,683 19,257
CHF 32,687 32,789 33,540
SGD 20,129 20,192 20,863
CNY - 3,768 3,888
HKD 3,303 3,313 3,431
KRW 16.17 16.86 18.23
THB 772.39 781.93 832.02
NZD 14,752 14,889 15,243
SEK - 2,754 2,834
DKK - 4,010 4,126
NOK - 2,668 2,745
LAK - 0.92 1.26
MYR 6,127.75 - 6,875.1
TWD 746.55 - 898.82
SAR - 6,919.09 7,243.39
KWD - 83,805 88,618
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,112 26,142 26,362
EUR 29,822 29,942 31,117
GBP 34,228 34,365 35,363
HKD 3,291 3,304 3,419
CHF 32,391 32,521 33,435
JPY 161.12 161.77 169.03
AUD 17,856 17,928 18,513
SGD 20,136 20,217 20,793
THB 788 791 825
CAD 18,572 18,647 19,208
NZD 14,809 15,336
KRW 16.76 18.38
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26220 26220 26362
AUD 17830 17930 18861
CAD 18565 18665 19676
CHF 32587 32617 34212
CNY 3767.8 3792.8 3928
CZK 0 1185 0
DKK 0 4050 0
EUR 29951 29981 31709
GBP 34344 34394 36162
HKD 0 3355 0
JPY 161.5 162 172.55
KHR 0 6.097 0
KRW 0 17 0
LAK 0 1.165 0
MYR 0 6840 0
NOK 0 2720 0
NZD 0 14825 0
PHP 0 400 0
SEK 0 2790 0
SGD 20098 20228 20961
THB 0 752.9 0
TWD 0 810 0
SJC 9999 17100000 17100000 17450000
SBJ 16000000 16000000 17450000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,140 26,190 26,362
USD20 26,140 26,190 26,362
USD1 26,140 26,190 26,362
AUD 17,867 17,967 19,104
EUR 30,064 30,064 31,530
CAD 18,500 18,600 19,937
SGD 20,162 20,312 20,902
JPY 161.85 163.35 168.17
GBP 34,211 34,561 35,498
XAU 17,098,000 0 17,452,000
CNY 0 3,674 0
THB 0 788 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 04/04/2026 11:30
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80