Techcombank được S&P Global Ratings xếp hạng “BB-” và triển vọng “ổn định”

(TBTCO) - Mới đây, Ngân hàng Thương mại Cổ phần Kỹ Thương Việt Nam (“Techcombank”) đã được S&P Global Ratings (“S&P”) công bố báo cáo kết quả đánh giá xếp hạng thường niên năm 2024, trong đó tiếp tục khẳng định xếp hạng nhà phát hành “BB-” của ngân hàng và Triển vọng “ổn định”, cao hơn điểm neo “b+” của ngành ngân hàng tại Việt Nam. Báo cáo ghi nhận những chuyển biến tích cực từ Techcombank với sự tăng trưởng lợi nhuận, vốn hóa và chất lượng tài sản ổn định, cơ sở tiền gửi đa dạng và quản trị chi phí thấp nhờ những đổi mới công nghệ và sản phẩm.
aa

Techcombank - thương hiệu ngân hàng tư nhân giá trị nhất Việt Nam tiếp tục thăng hạng toàn cầu
Techcombank đạt kết quả tích cực nhờ tăng trưởng thu nhập lãi và quản trị chi phí
Techcombank mở rộng hệ sinh thái tài chính thông qua góp vốn thành lập Công ty Bảo hiểm phi nhân thọ Techcom
Giải pháp ngân hàng số “vượt trội” Techcombank Mobile
Techcombank Visa Eco - Thẻ xanh đầu tiên cho khách hàng sống xanh mỗi ngày
Techcombank được S&P Global Ratings xếp hạng “BB-” và triển vọng “ổn định”
Techcombank là một trong những ngân hàng cổ phần lớn nhất Việt Nam.

Trong kỳ đánh giá này, S&P nhấn mạnh rằng họ tin rằng Techcombank có thể sẽ duy trì mức sinh lời trên mức trung bình ngành bên cạnh vốn hóa và chất lượng tài sản ổn định. Tổ chức đánh giá này cũng bày tỏ quan điểm rằng cơ sở tiền gửi lớn với chi phí thấp và ổn định của Techcombank sẽ giúp giảm thiểu rủi ro liên quan đến các nguồn vốn bán buôn khi thị trường biến động.

Cũng theo S&P, triển vọng “ổn định” phản ánh quan điểm về việc Techcobank sẽ duy trì “thế mạnh mạng lưới huy động vốn và lợi nhuận trên mức trung bình ngành trong 12 - 18 tháng tới”.

Hơn nữa, S&P khẳng định sự an tâm về khả năng sinh lời vượt trội liên tục của ngân hàng, góp phần hỗ trợ tốc độ tăng trưởng tín dụng cao hơn mức trung bình của toàn ngành. Theo ghi nhận, Techcombank là ngân hàng tạo ra lợi suất sinh lời vượt trội với mức tỷ suất sinh lời cốt lõi trên tổng tài sản lên tới 3% trong 4 năm qua, cao hơn đáng kể mức trung bình ngành là 1,0 - 1,5%.

Các động lực tạo ra kết quả ấn vượt trội này, như S&P thừa nhận, là “danh mục cho vay có biên lợi nhuận cao, tỷ lệ lớn huy động có chi phí thấp và thu nhập ngoài lãi lớn”.

“Chúng tôi rất vui khi cơ quan xếp hạng tín nhiệm S&P ghi nhận những tiến bộ mà ngân hàng đã đạt được trên một số khía cạnh: lợi nhuận vượt trội, vốn hóa và chất lượng tài sản ổn định, cơ sở tiền gửi đa dạng và chi phí thấp được hỗ trợ bởi đổi mới công nghệ và sản phẩm”.

Mặc dù cả xếp hạng và triển vọng đều được duy trì, bản cập nhật xếp hạng mới nhất của S&P có quan điểm tích cực hơn về môi trường hoạt động của ngân hàng, phản ánh cả tốc độ tăng trưởng GDP cao của Việt Nam và chất lượng danh mục tín dụng của ngân hàng, sau khi đã duy trì chất lượng rất lành mạnh khi thị trường bất động sản chậm lại trong 2 năm qua.

S&P cũng đã điều chỉnh kịch bản nâng hạng xếp hạng Techcombank, với tiêu chí phù phù hợp với định hướng tín dụng đã công bổ của ngân hàng, đặc biệt liên quan đến đa dạng hóa hơn nữa danh mục trong tương lai” - ông Alex Macaire - Giám đốc Tài chính Tập đoàn chia sẻ.

Về chất lượng tài sản, S&P kỳ vọng rằng nợ xấu (NPL) của ngân hàng sẽ cải thiện dần dần trong 12 - 18 tháng tới khi tốc độ tăng trưởng GDP của Việt Nam tiếp đà hồi phục. Thêm vào đó, theo tổ chức này nhận định, cùng với việc ban hành nhiều Luật về đất đai và bất động sản, lĩnh vực bất động sản của Việt Nam cũng được kỳ vọng sẽ phục hồi mạnh mẽ vào năm 2025.

Techcombank được S&P Global Ratings xếp hạng “BB-” và triển vọng “ổn định”
Techcombank cung cấp các giải pháp tài chính và dịch vụ ngân hàng đa dạng cho khách hàng.

Điều này, theo S&P và nhiều nhà phân tích (dựa theo kết quả quý 3 năm 2024), sẽ có lợi cho Techcombank do đặc điểm mô hình kinh doanh của ngân hàng. S&P ghi nhận chất lượng tài sản của ngân hàng được “thử lửa” trong giai đoạn vừa qua khi mặc dù có tỷ trọng dư nợ tín dụng trong lĩnh vực bất động sản khá lớn, nợ xấu liên quan đến bất động sản luôn thấp hơn mức nợ xấu của toàn hàng. Techcombank cũng luôn nằm trong top các ngân hàng có mức nợ xấu, và nợ cần chú ý thấp nhất trong cả hệ thống ngân hàng.

Một phần quan trọng trong đánh giá mới nhất của S&P là cơ cấu nguồn vốn của Techcombank. Cơ quan xếp hạng này đã đánh giá cao khả năng đặc biệt của ngân hàng trong việc đa dạng hóa nguồn vốn.

Nhờ đó, Techcombank có thể nhận được các nguồn vốn đa dạng, thời gian đáo hạn dài hơn và chi phí huy động thấp hơn. S&P cũng tin rằng Techcombank sẽ “tiếp tục thu hút nguồn tiền gửi đa dạng, chi phí thấp thông qua các sản phẩm tiết kiệm sáng tạo và trải nghiệm ngân hàng số nâng cao. Điều này sẽ giúp ngân hàng duy trì một trong những tỷ lệ tài khoản vãng lai và tài khoản tiết kiệm (CASA) cao nhất trong ngành và chi phí huy động vốn rất cạnh tranh”.

Cuối cùng, trong bản công bố mới nhất, S&P đã sửa đổi đánh giá của mình trong kịch bản nâng hạng của Techcombank, trong đó cơ quan này cho rằng họ có thể “nâng xếp hạng” nếu tỷ lệ vốn điều chỉnh rủi ro (RAC) của ngân hàng được cải thiện trong 12 - 18 tháng tới.

Đây là một sự thay đổi đáng kể so với đánh giá gần nhất, với “việc nâng hạng là khó xảy ra”. Đánh giá này của S&P hoàn toàn phù hợp với chiến lược Techcombank đã công bố và thực thi nhằm đa dạng hóa hơn nữa danh mục tín dụng.

Điều này sẽ làm thay đổi đáng kể cơ cấu tài sản với tỷ trọng tăng lên của tài sản có hệ số điều chỉnh rủi ro thấp hơn, qua đó tối ưu hóa lợi nhuận trên tổng tài sản được điều chỉnh theo hệ số rủi ro và gia tăng khả năng được các cơ quan xếp hạng tín nhiệm khác nhau nâng hạng trong thời gian tới.

Thanh Thủy

Đọc thêm

Nhiều giải pháp xử lý tổ chức tín dụng yếu kém, siết giám sát sở hữu ngân hàng

Nhiều giải pháp xử lý tổ chức tín dụng yếu kém, siết giám sát sở hữu ngân hàng

(TBTCO) - Ngân hàng Nhà nước cho biết 04 nhóm giải pháp với 53 nhiệm vụ được cụ thể hóa nhằm triển khai Đề án “Tiếp tục hiện đại hóa hệ thống ngân hàng, xử lý các tổ chức tín dụng yếu kém, tăng cường khả năng tiếp cận vốn cho doanh nghiệp, nhất là doanh nghiệp nhỏ và vừa”. Trong đó, tăng cường thanh tra, giám sát, ngăn ngừa và xử lý vi phạm về sở hữu, chuyển nhượng cổ phiếu, gây rủi ro cho tổ chức tín dụng.
Thị trường tiền tệ tuần 14 - 18/9: Hút ròng mạnh hơn 62.500 tỷ đồng, tỷ giá USD vẫn đi lên khi Fed và BoJ tăng lãi suất

Thị trường tiền tệ tuần 14 - 18/9: Hút ròng mạnh hơn 62.500 tỷ đồng, tỷ giá USD vẫn đi lên khi Fed và BoJ tăng lãi suất

(TBTCO) - Diễn biến nổi bật thị trường tiền tệ tuần qua từ ngày 14 - 18/9 cho thấy, Ngân hàng Nhà nước hút ròng hơn 62.543 tỷ đồng qua OMO giữa lúc thanh khoản có dấu hiệu cải thiện, lãi suất qua đêm hạ còn 3,2%/năm. Dù vậy, tỷ giá USD/VND lại đồng loạt đi lên, trong bối cảnh hai ngân hàng trung ương lớn Fed và BoJ cùng tăng lãi suất.
UOB nâng dự báo tăng trưởng GDP, nhiều lực đẩy mới mở rộng nguồn vốn tỷ USD cho nền kinh tế

UOB nâng dự báo tăng trưởng GDP, nhiều lực đẩy mới mở rộng nguồn vốn tỷ USD cho nền kinh tế

(TBTCO) - UOB nâng dự báo tăng trưởng GDP Việt Nam giữa lúc nền kinh tế đón nhiều động lực mới để mở rộng nguồn vốn. Với nhu cầu 1,5 nghìn tỷ USD giai đoạn 2026 - 2030, lực đẩy từ nâng hạng thị trường chứng khoán, lập VIFC đến chiến lược “FDI 2.0”... mở thêm dư địa huy động vốn cho nền kinh tế, giảm sức ép lên ngân hàng và ngân sách nhà nước.
DBV ra mắt bảo hiểm ô tô điện, bảo vệ chuyên biệt cho pin và rủi ro sạc

DBV ra mắt bảo hiểm ô tô điện, bảo vệ chuyên biệt cho pin và rủi ro sạc

(TBTCO) - Tập đoàn Bảo hiểm DBV chính thức giới thiệu sản phẩm Bảo hiểm Ô tô điện, giải pháp chuyên biệt dành cho phương tiện sử dụng năng lượng xanh, hướng tới mở rộng phạm vi bảo vệ và đồng hành với khách hàng suốt quá trình sở hữu, vận hành xe.
Hơn 267 triệu cổ phiếu sắp chào bán, PGBank tiến gần mốc vốn điều lệ 10.000 tỷ đồng

Hơn 267 triệu cổ phiếu sắp chào bán, PGBank tiến gần mốc vốn điều lệ 10.000 tỷ đồng

(TBTCO) - PGBank vừa được chấp thuận chào bán thêm gần 267,3 triệu cổ phiếu ra công chúng, tổng giá trị hơn 2.672,9 tỷ đồng, chia thành 2 đợt. Nếu hoàn tất kế hoạch, vốn điều lệ ngân hàng sẽ cán mốc 10.000 tỷ đồng, tạo dư địa cho PGBank mở rộng hoạt động kinh doanh và thực hiện các kế hoạch đầu tư giai đoạn tới.
TPBank hoàn tất nền tảng triển khai IRB, tự tin bước vào giai đoạn chuyển đổi theo Thông tư 14

TPBank hoàn tất nền tảng triển khai IRB, tự tin bước vào giai đoạn chuyển đổi theo Thông tư 14

(TBTCO) - Sở hữu các chỉ số tài chính mạnh là bệ phóng vững chắc để TPBank mở rộng quy mô một cách an toàn, hiệu quả và tối ưu hóa việc sử dụng vốn. Sau khi sớm hoàn tất phương pháp Tiêu chuẩn (SA), TPBank đã hoàn thiện các nền tảng trọng yếu về vốn, dữ liệu, mô hình đo lường rủi ro, công nghệ và quản trị để sẵn sàng trở thành một trong những ngân hàng đầu tiên tại Việt Nam hoàn thành Giai đoạn chuyển đổi sang phương pháp Xếp hạng nội bộ (IRB) vào năm 2027 theo quy định Thông tư 14 của Ngân hàng Nhà nước (NHNN).
Nhóm Ngân hàng Thế giới huy động vốn tư nhân ở mức kỷ lục cho các nước đang phát triển

Nhóm Ngân hàng Thế giới huy động vốn tư nhân ở mức kỷ lục cho các nước đang phát triển

(TBTCO) - Trong năm tài khóa 2026, Nhóm Ngân hàng Thế giới đã huy động được nguồn vốn tư nhân cao nhất từ trước đến nay, đồng thời phát hành bảo lãnh ở mức cao kỷ lục để hỗ trợ các nền kinh tế đang phát triển.
Bảo Việt Nhân thọ ra mắt phiên bản mới “An sinh giáo dục” – tiếp nối 30 năm đồng hành cùng tương lai các thế hệ Việt

Bảo Việt Nhân thọ ra mắt phiên bản mới “An sinh giáo dục” – tiếp nối 30 năm đồng hành cùng tương lai các thế hệ Việt

(TBTCO) - Nhân dịp kỷ niệm 30 năm thành lập, Tổng Công ty Bảo Việt Nhân thọ chính thức ra mắt phiên bản mới của sản phẩm “An Sinh Giáo Dục”. Đây là giải pháp bảo hiểm liên kết chung chuyên biệt dành cho trẻ em, kết hợp giữa tích lũy dài hạn và bảo vệ kép cho cả con và cha/mẹ, giúp các bậc phụ huynh chủ động chuẩn bị từ sớm cho tương lai con trẻ.
Xem thêm

Mới nhất Đọc nhiều

PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 144,600 147,600
Hà Nội - PNJ 144,600 147,600
Đà Nẵng - PNJ 144,600 147,600
Miền Tây - PNJ 144,600 147,600
Tây Nguyên - PNJ 144,600 147,600
Đông Nam Bộ - PNJ 144,600 147,600
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 14,460 14,760
Miếng SJC Nghệ An 14,460 14,760
Miếng SJC Thái Bình 14,460 14,760
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 14,410 14,760
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 14,410 14,760
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 14,410 14,760
NL 99.99 13,600
Nhẫn Tròn Thái Bình 13,500
Trang sức 99.9 14,070 14,670
Trang sức 99.99 14,080 14,680
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,446 1,476
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,446 14,762
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,446 14,763
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,441 1,471
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,441 1,472
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,416 1,461
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 137,653 144,653
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 99,936 109,736
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 89,708 99,508
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 7,948 8,928
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 75,535 85,335
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 5,128 6,108
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,446 1,476
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,446 1,476
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,446 1,476
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,446 1,476
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,446 1,476
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,446 1,476
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,446 1,476
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,446 1,476
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,446 1,476
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,446 1,476
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,446 1,476
Cập nhật: 20/09/2026 23:30
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17982 18257 18841
CAD 18064 18339 18961
CHF 30990 31368 32030
CNY 0 3842 3938
EUR 29245 29465 30548
GBP 34044 34434 35374
HKD 0 3185 3388
JPY 159 162 169
KRW 0 18 20
NZD 0 14575 15165
SGD 19843 20125 20706
THB 696 759 813
USD (1,2) 25754 0 0
USD (5,10,20) 25793 0 0
USD (50,100) 25821 25835 26205
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 25,810 25,810 26,190
USD(1-2-5) 24,778 - -
USD(10-20) 24,778 - -
EUR 29,263 29,286 30,675
JPY 160.57 160.86 170.59
GBP 34,119 34,211 35,399
AUD 18,172 18,238 18,935
CAD 18,222 18,280 18,952
CHF 31,129 31,226 32,146
SGD 19,944 20,006 20,791
CNY - 3,807 3,953
HKD 3,247 3,257 3,394
KRW 17.31 18.05 19.65
THB 744.84 754.04 806.89
NZD 14,542 14,677 15,113
SEK - 2,603 2,697
DKK - 3,925 4,064
NOK - 2,707 2,802
LAK - 0.88 1.23
MYR 5,947.58 - 6,714.78
TWD 737.16 - 892.54
SAR - 6,802.55 7,165.57
KWD - 82,316 87,591
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 25,790 25,820 26,200
EUR 29,305 29,423 30,618
GBP 34,129 34,266 35,290
HKD 3,247 3,260 3,378
CHF 31,017 31,142 32,082
JPY 162.53 163.18 171.16
AUD 18,165 18,238 18,831
SGD 20,035 20,115 20,705
THB 762 765 803
CAD 18,259 18,332 18,922
NZD 14,637 15,180
KRW 17.99 19.93
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 25830 25830 26200
AUD 18186 18286 19208
CAD 18231 18331 19342
CHF 31126 31156 32741
CNY 3824.1 3849.1 3984.3
CZK 0 1190 0
DKK 0 4010 0
EUR 29420 29450 31176
GBP 34274 34324 36077
HKD 0 3305 0
JPY 161.19 161.69 172.2
KHR 0 6.097 0
KRW 0 18.8 0
LAK 0 1.0945 0
MYR 0 6470 0
NOK 0 2820 0
NZD 0 14665 0
PHP 0 380 0
SEK 0 2660 0
SGD 19984 20114 20836
THB 0 725.5 0
TWD 0 810 0
SJC 9999 14460000 14460000 14760000
SBJ 13000000 13000000 14760000
Cập nhật: 20/09/2026 23:30
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
BIDV 0,10 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
VietinBank 0,10 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
Agribank 0,20 - - - 2,60 2,60 2,90 4,00 4,00 5,90 6,00
ACB 0,50 - - - 4,00 4,20 4,40 4,50 4,70 5,30 5,40
Sacombank 0,50 - - - 4,75 4,75 4,75 6,30 6,30 6,10 6,80
Techcombank 0,05 - - - 4,20 4,20 4,50 6,20 6,20 6,40 5,50
LPBank 0,20 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 4,60 4,60
Vikki Bank 0,49 0,49 - - 4,64 4,64 4,64 5,75 5,52 5,76 5,43
Eximbank 0,20 0,20 0,20 0,20 2,80 3,00 3,10 4,20 4.00 4,70 5,30