Thanh khoản tốt, vì sao lãi suất khó giảm?

Hoàng Yến
(TBTCVN) - Năm 2017, lạm phát thấp, thanh khoản hệ thống tốt, tỷ giá ổn định, tuy nhiên vì sao lãi suất tín dụng vẫn không giảm được nhiều? Vì sao lãi suất liên ngân hàng thấp mà lãi suất huy động vẫn cao?
aa

Thanh khoản tốt, vì sao lãi suất khó giảm?

Nhiều vấn đề liên quan đến diễn biến lãi suất đã được các chuyên gia phân tích, mổ xẻ thẳng thắn tại cuộc Hội thảo công bố Báo cáo Tổng quan thị trường tài chính năm 2017, do Ủy ban Giám sát tài chính quốc gia (NFSC) tổ chức tại Hà Nội sáng 26/12.

Lãi suất chưa giảm như kỳ vọng

Theo đánh giá của NFSC, thanh khoản của hệ thống tổ chức tín dụng (TCTD) năm 2017 tương đối ổn định. Nguồn vốn huy động toàn hệ thống tăng thấp hơn năm 2016 (tăng 16,9% so với mức 19,3% năm 2016), trong khi tín dụng tăng tương đương năm 2016 là 19,3%. Song nhờ việc Ngân hàng Nhà nước (NHNN) tăng cung tiền qua việc mua hơn 7,5 tỷ USD trong năm 2017 nên thanh khoản của hệ thống vẫn được đảm bảo. Ước tính lượng tiền ròng đã được bơm ra là 110.000 tỷ đồng. Do đó, lãi suất liên ngân hàng được giữ ở mức thấp. Cuối năm 2017, lãi suất O/N bình quân ở mức 1,3%, giảm 3,2 điểm% so với đầu năm.

Trong khi lãi suất liên ngân hàng giảm đáng kể, lãi suất trên thị trường 1 vẫn ổn định từ năm 2015. Lãi suất huy động kỳ hạn trên 12 tháng phổ biến ở 6,4 – 7,2%. Lãi suất cho vay đối với các lĩnh vực ưu tiên giảm khoảng 0,5 – 1% so với đầu năm, lãi suất cho vay thông thường ở mức 6,8 – 11%/năm. Như vậy, “dù thanh khoản hệ thống khá tốt, các điều kiện vĩ mô tương đối thuận lợi, lãi suất có tín hiệu giảm nhưng chưa như kỳ vọng”, báo cáo của NFSC đánh giá.

Nguyên nhân của tình hình này, theo NFSC, là do thị trường tiền gửi và thị trường liên ngân hàng kém liên thông. Thanh khoản dồi dào trên thị trường tập trung chủ yếu ở các TCTD lớn. Một số TCTD nhỏ hoặc thuộc diện tái cơ cấu, thiếu vốn vẫn khó khăn trong việc tiếp cận dòng vốn lãi suất thấp trên thị trường liên ngân hàng, do đó buộc phải giữ nguyên hoặc tăng lãi suất huy động trên thị trường tiền gửi.

Bên cạnh đó, nợ xấu vẫn là rào cản lớn cho việc hạ lãi suất trong khi NIM (chênh lệch giữa thu nhập lãi và chi phí phải trả) của các TCTD vẫn ở mức khiêm tốn so với các nước trong khu vực, dù đã có xu hướng tăng trở lại. Điều này khiến các TCTD không có nhiều động lực để hạ lãi suất.

Thị trường liên ngân hàng có đảm bảo vai trò “hồ điều hòa”?

Bình luận về vấn đề này, chuyên gia Nguyễn Xuân Thành cho rằng, trong khi năm 2016 lãi suất giảm đáng kể thì lãi suất năm 2017 có thể coi là “ổn định” thay vì giảm. Nguyên nhân lãi suất khó giảm không hẳn chỉ vì sự kém liên thông của hai thị trường huy động và liên ngân hàng, bởi không hẳn lãi suất liên ngân hàng thấp thì lãi suất huy động sẽ thấp. Thực tế, có sự khác nhau rất lớn giữa “sức khỏe” các ngân hàng. Những ngân hàng lớn, dư nợ của chi tiêu công thì thanh khoản dồi dào và ngược lại.

Do đó, theo ông Thành mặc dù lạm phát thấp, thanh khoản ổn định nhưng lãi suất năm 2017 không giảm được là do hai yếu tố. Thứ nhất là lạm phát giảm nhưng kỳ vọng lạm phát không thấp, khiến các ngân hàng khó hạ lãi suất. Thứ hai là có sự cạnh tranh lãi suất giữa các TCTD, không chỉ ở các TCTD yếu kém mà kể cả các TCTD trung bình.

Đặt câu hỏi về vấn đề này, TS Lê Đức Thúy, nguyên Thống đốc NHNN, nguyên Chủ tịch NFSC cho rằng, phải chăng thị trường liên ngân hàng đang giảm đi vai trò là “hồ điều hòa” của thị trường? Khó khăn khi vay trên thị trường liên ngân hàng, một số ngân hàng buộc phải huy động tiền gửi trong dân với lãi suất cao để duy trì thanh khoản, từ đó dẫn đến tình trạng cạnh tranh lãi suất. “Thị trường liên ngân hàng là chỗ bán vốn thừa cho người thiếu vốn. Vấn đề là tổng dư nợ cho vay được giám sát bởi một tỷ lệ an toàn vốn nhất định”, ông Lê Đức Thúy nói.

Ngân hàng yếu kém khó vay trên liên ngân hàng

Cùng quan điểm cho rằng mối quan hệ giữa thị trường huy động dân cư và thị trường liên ngân hàng chưa được xử lý tốt, theo PGS.TS Nguyễn Thị Mùi chuyên gia tài chính ngân hàng vài năm nay, bản chất của thị trường liên ngân hàng là thị trường mua bán vốn giữa các ngân hàng với nhau chưa được đảm bảo. Các ngân hàng yếu kém không dễ bước chân vào thị trường liên ngân hàng để có thanh khoản. Do đó, không còn cách nào khác, họ phải huy động từ dân cư. Một mặt là do các ngân hàng thiếu tin tưởng nhau, mặt khác là nợ xấu giữa các ngân hàng lớn.

Bên cạnh đó, bà Nguyễn Thị Mùi cũng nêu ra yếu tố khác khiến lãi suất huy động khó giảm. Đó là một số kênh đầu tư có dấu hiệu khởi sắc, hấp dẫn như thị trường chứng khoán, bất động sản… do đó đã thu hút lượng tiền nhất định. Điều này khiến lãi suất huy động càng khó giảm, dẫn đến lãi suất cho vay chưa thể giảm như mong muốn. Trên thực tế, bà Mùi cho rằng, lãi suất cho vay năm 2017 đã hạ nhanh hơn lãi suất huy động, khiến NIM (tỷ lệ thu nhập lãi cận biên) mỏng, đặt hệ thống trước những rủi ro nhất định.

“Nói là thanh khoản tốt, nhưng thực tế một số ngân hàng vẫn rất khó khăn về thanh khoản, dừng huy động là chết, liên ngân hàng thì không vay được nên phải huy động chủ yếu từ dân cư khiến lãi suất phải cạnh tranh. Tình hình này sẽ vẫn tiếp tục tồn tại trong năm 2018, cùng với việc các ngân hàng tái cấu trúc”, bà Nguyễn Thị Mùi đánh giá.

Hoàng Yến

Hoàng Yến

Đọc thêm

Thị trường bảo hiểm nhân thọ đang dịch chuyển từ cách tiếp cận cảm tính sang lựa chọn dựa trên nhu cầu thực tế

Thị trường bảo hiểm nhân thọ đang dịch chuyển từ cách tiếp cận cảm tính sang lựa chọn dựa trên nhu cầu thực tế

(TBTCO) - Báo cáo Nghiên cứu dư luận xã hội và Chính sách tiếp cận cộng đồng trong bảo hiểm nhân thọ do Hiệp hội Bảo hiểm Việt Nam công bố cho thấy, có tới 80% người dân trong nhóm chưa sở hữu bảo hiểm nhân thọ dự định mua trong 12 tháng tới. Điều này cho thấy tiềm năng của thị trường còn lớn, tuy nhiên, cách tiếp cận bảo hiểm của người dân đang có nhiều thay đổi.
Thị trường bảo hiểm nhân thọ "sáng dần", song nhiều doanh nghiệp lợi nhuận vẫn "rùa bò"

Thị trường bảo hiểm nhân thọ "sáng dần", song nhiều doanh nghiệp lợi nhuận vẫn "rùa bò"

(TBTCO) - Thị trường bảo hiểm nhân thọ lấy lại đà tăng trưởng dương từ năm 2025 và kỳ vọng đón kết quả khả quan trong năm nay. Tuy nhiên, phía sau đà tăng tích cực đó vẫn còn những khoảng lặng đến từ sự sụt giảm doanh thu, lợi nhuận, thậm chí báo lỗ tại một số doanh nghiệp.
“Cuộc đua” sức khỏe thương hiệu ngành tài chính tiêu dùng trong thế bám đuổi

“Cuộc đua” sức khỏe thương hiệu ngành tài chính tiêu dùng trong thế bám đuổi

(TBTCO) - Mibrand Vietnam vừa công bố Bảng xếp hạng sức khỏe thương hiệu tài chính tiêu dùng Việt Nam 2025. Dữ liệu cho thấy, nhóm thương hiệu dẫn đầu chưa tạo ra khoảng cách quá lớn về điểm số. "Cuộc đua" giữa các doanh nghiệp dịch chuyển sang niềm tin, chất lượng dịch vụ và khả năng tối ưu trải nghiệm khách hàng sau vay.
Việt Nam và Lào ký kết hợp tác về bảo hiểm xã hội giai đoạn 2026 - 2028

Việt Nam và Lào ký kết hợp tác về bảo hiểm xã hội giai đoạn 2026 - 2028

(TBTCO) - Ngày 27/5, tại Hà Nội, Bảo hiểm xã hội Việt Nam và Cơ quan Bảo hiểm xã hội Quốc gia Lào đã ký kết Biên bản Ghi nhớ hợp tác giai đoạn 2026 - 2028.
Tín dụng tại TP. Hồ Chí Minh và Đồng Nai chảy mạnh vào khu vực sản xuất

Tín dụng tại TP. Hồ Chí Minh và Đồng Nai chảy mạnh vào khu vực sản xuất

(TBTCO) - Trong 4 tháng đầu năm 2026, dòng vốn tín dụng tại TP. Hồ Chí Minh và Đồng Nai tiếp tục chảy mạnh vào các lĩnh vực sản xuất, công nghiệp chế biến, nông nghiệp và thương mại. Đây cũng là nhóm ngành đang có nhu cầu vốn lớn nhất tại khu vực phía Nam.
Cả nước có 21,73 triệu người tham gia bảo hiểm xã hội

Cả nước có 21,73 triệu người tham gia bảo hiểm xã hội

(TBTCO) - Theo số liệu mới được Bảo hiểm xã hội Việt Nam công bố, tính đến hết tháng 4/2026, cả nước có 21,73 triệu người tham gia bảo hiểm xã hội, tăng 182.000 người so với tháng 3/2026 và tăng 206.000 người so với năm 2025.
Cơ hội sở hữu tài khoản số đẹp từ ưu đãi lớn nhất năm của VietinBank

Cơ hội sở hữu tài khoản số đẹp từ ưu đãi lớn nhất năm của VietinBank

(TBTCO) - Nhằm khẳng định dấu ấn cá nhân và uy tín vững vàng của quý khách, VietinBank chính thức triển khai chương trình "Ưu đãi chạm đỉnh - Rinh số phát tài". Lần đầu tiên, toàn bộ kho số tài khoản đẳng cấp, phong thủy được áp dụng chính sách trợ giá đặc biệt với mức giảm kỷ lục lên đến 80%, mở ra cơ hội sở hữu "tấm danh thiếp" tài lộc với chi phí tối ưu chưa từng có cho các cá nhân và hộ kinh doanh.
Nhiều địa phương chi trả lương hưu, trợ cấp bảo hiểm xã hội từ ngày 1/6

Nhiều địa phương chi trả lương hưu, trợ cấp bảo hiểm xã hội từ ngày 1/6

(TBTCO) - Lịch chi trả lương hưu, trợ cấp bảo hiểm xã hội tháng 6/2026 sẽ được thực hiện theo 2 nhóm thời gian chính, tùy thuộc kế hoạch tổ chức tại từng tỉnh, thành phố. Trong đó, có 21 tỉnh, thành phố sẽ bắt đầu chi trả từ ngày 1/6.
Xem thêm

Mới nhất Đọc nhiều

DOJI Giá mua Giá bán
SJC -Bán Lẻ 15,450 15,750
Kim TT/AVPL 15,450 15,750
NHẪN TRÒN 9999 HƯNG THỊNH VƯỢNG 15,450 15,750
Nguyên Liệu 99.99 14,400 14,600
Nguyên Liệu 99.9 14,350 14,550
NỮ TRANG 9999 - BÁN LẺ 15,000 15,400
NỮ TRANG 999 - BÁN LẺ 14,950 15,350
Nữ trang 99 - Bán Lẻ 14,880 15,330
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 154,500 157,500
Hà Nội - PNJ 154,500 157,500
Đà Nẵng - PNJ 154,500 157,500
Miền Tây - PNJ 154,500 157,500
Tây Nguyên - PNJ 154,500 157,500
Đông Nam Bộ - PNJ 154,500 157,500
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 15,450 15,750
Miếng SJC Nghệ An 15,450 15,750
Miếng SJC Thái Bình 15,450 15,750
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 15,450 15,750
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 15,450 15,750
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 15,450 15,750
NL 99.90 14,050
NL 99.99, Nhẫn Tròn Thái Bình 14,100
Trang sức 99.9 14,940 15,640
Trang sức 99.99 14,950 15,650
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,545 1,575
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,545 15,752
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,545 15,753
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,543 1,573
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,543 1,574
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,523 1,558
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 147,757 154,257
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 108,112 117,012
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 97,205 106,105
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 86,298 95,198
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 8,209 9,099
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 56,225 65,125
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,545 1,575
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,545 1,575
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,545 1,575
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,545 1,575
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,545 1,575
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,545 1,575
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,545 1,575
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,545 1,575
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,545 1,575
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,545 1,575
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,545 1,575
Cập nhật: 29/05/2026 04:30
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 18204 18479 19055
CAD 18451 18728 19341
CHF 32696 33080 33724
CNY 0 3842 3934
EUR 29936 30209 31234
GBP 34453 34845 35779
HKD 0 3230 3432
JPY 158 162 168
KRW 0 16 18
NZD 0 15196 15781
SGD 20034 20317 20838
THB 720 783 837
USD (1,2) 26060 0 0
USD (5,10,20) 26101 0 0
USD (50,100) 26130 26144 26393
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,123 26,123 26,393
USD(1-2-5) 25,079 - -
USD(10-20) 25,079 - -
EUR 30,109 30,133 31,438
JPY 160.85 161.14 170.12
GBP 34,719 34,813 35,866
AUD 18,440 18,507 19,123
CAD 18,685 18,745 19,353
CHF 33,064 33,167 33,992
SGD 20,193 20,256 20,964
CNY - 3,815 3,943
HKD 3,300 3,310 3,434
KRW 16.17 16.86 18.27
THB 769.62 779.13 830.62
NZD 15,191 15,332 15,721
SEK - 2,789 2,875
DKK - 4,029 4,154
NOK - 2,795 2,881
LAK - 0.92 1.27
MYR 6,196.93 - 6,964.34
TWD 757.3 - 913.52
SAR - 6,909.35 7,246.42
KWD - 83,685 88,661
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,143 26,163 26,393
EUR 30,055 30,176 31,355
GBP 34,718 34,857 35,863
HKD 3,296 3,309 3,424
CHF 32,867 32,999 33,927
JPY 161.30 161.95 169.23
AUD 18,440 18,514 19,103
SGD 20,260 20,341 20,922
THB 787 790 825
CAD 18,686 18,761 19,326
NZD 15,304 15,838
KRW 16.80 18.43
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26171 26171 26393
AUD 18395 18495 19420
CAD 18635 18735 19749
CHF 32958 32988 34567
CNY 3822.4 3847.4 3982.7
CZK 0 1220 0
DKK 0 4140 0
EUR 30127 30157 31882
GBP 34768 34818 36575
HKD 0 3355 0
JPY 161.62 162.12 172.65
KHR 0 6.097 0
KRW 0 17 0
LAK 0 1.165 0
MYR 0 6920 0
NOK 0 2850 0
NZD 0 15310 0
PHP 0 400 0
SEK 0 2840 0
SGD 20196 20326 21054
THB 0 750.2 0
TWD 0 820 0
SJC 9999 15450000 15450000 15750000
SBJ 14000000 14000000 15750000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,158 26,208 26,393
USD20 26,158 26,208 26,393
USD1 23,881 26,208 26,393
AUD 18,464 18,564 19,799
EUR 30,291 30,291 31,725
CAD 18,609 18,709 20,025
SGD 20,288 20,438 21,012
JPY 161.99 163.49 170.2
GBP 34,698 35,048 35,943
XAU 15,768,000 0 16,072,000
CNY 0 3,734 0
THB 0 788 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 29/05/2026 04:30
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80