Nền tảng cho công nghiệp đường sắt

Sau đúng 1 tháng xin ý kiến, Bộ Tài chính vừa nhận được phản hồi quan trọng từ Bộ Xây dựng về việc đầu tư Dự án xây dựng Tổ hợp công nghiệp đường sắt.

Trước đó, thực hiện chỉ đạo của Phó thủ tướng Chính phủ Trần Hồng Hà, Bộ Tài chính đã có công văn số 1598/BTC-PTHT ngày 8/2/2026 gửi các bộ: Xây dựng; Công thương; Khoa học và Công nghệ; Tư pháp và UBND TP. Hà Nội đề nghị cho ý kiến đối với việc Tổng công ty Đường sắt Việt Nam.

Tại công văn số 3335/BTC-KHTC gửi Bộ Tài chính vào đầu tuần này, Bộ Xây dựng cho biết, theo quy hoạch, trong giai đoạn 2026 - 2045, cả nước sẽ triển khai nhiều tuyến đường sắt quốc gia, đường sắt đô thị có quy mô lớn, yêu cầu kỹ thuật, công nghệ cao.

Thêm tín hiệu thuận cho “siêu” dự án tổ hợp công nghiệp đường sắt
Lắp ráp toa xe tại Nhà máy xe lửa Dĩ An - Tổng công ty Đường sắt Việt Nam. Ảnh: Đức Thanh

Tuy nhiên, công nghệ đường sắt của Việt Nam hiện nay còn yếu, mới chỉ đáp ứng công tác sửa chữa, cải tạo cho đường sắt hiện hữu khổ 1.000 mm; chưa đáp ứng yêu cầu phát triển công nghiệp cho đường sắt điện khí hóa, đường sắt tốc độ cao và chưa hình thành hệ sinh thái hỗ trợ chuyển giao công nghệ, phát triển công nghiệp đường sắt.

Trong khi đó, để phát triển công nghiệp đường sắt hiện đại theo hướng tổng thể, đồng bộ, hạn chế rủi ro phụ thuộc nhà cung cấp nước ngoài, bảo đảm an toàn hệ thống, hiệu quả đầu tư, cần sớm hình thành một cơ sở công nghiệp đủ năng lực nhằm hỗ trợ chuyển giao công nghệ, phát triển hệ sinh thái công nghiệp đường sắt, cung ứng sản phẩm cho các dự án trong giai đoạn 2026 - 2045. Các nghị quyết của Quốc hội về chủ trương đầu tư các tuyến đường sắt đều xác định Tổng công ty Đường sắt Việt Nam là đơn vị tiếp nhận quản lý, bảo trì, tổ chức vận hành và khai thác các tuyến đường sắt sau đầu tư; đồng thời tham gia phát triển công nghiệp đường sắt.

“Trên thực tế, đây cũng là doanh nghiệp nhà nước đang quản lý, khai thác các cơ sở công nghiệp đường sắt; lực lượng lao động chuyên môn đường sắt chiếm đa số trong cả nước nên có điều kiện thuận lợi để triển khai Dự án Tổ hợp công nghiệp đường sắt” - công văn số 3335 do Thứ trưởng Nguyễn Danh Huy ký nêu rõ.

Bên cạnh đó, việc phát triển công nghiệp đường sắt cần được đặt trong một chiến lược quốc gia thống nhất, hình thành thị trường đủ lớn.

Khi đó, Nhà nước sẽ thực hiện hai vai trò dẫn dắt: vừa là bên mua trong các dự án đầu tư tuyến đường sắt, vừa là chủ thể thông qua Tổng công ty Đường sắt Việt Nam - một doanh nghiệp nhà nước để tổ chức chuyển giao công nghệ, phát triển công nghiệp có trọng tâm, trọng điểm.

Liên quan đến thẩm quyền, trình tự, thủ tục, lãnh đạo Bộ Xây dựng cho rằng, nếu Thủ tướng giao Tổng công ty Đường sắt Việt Nam làm cơ quan chủ quản dự án, Hội đồng thành viên tổng công ty sẽ triển khai lập báo cáo nghiên cứu tiền khả thi và quyết định đầu tư theo thẩm quyền.

“Trường hợp này tương tự việc mở rộng cao tốc TP. Hồ Chí Minh - Long Thành - Dầu Giây; cao tốc Yên Bái - Lào Cai đã được Thủ tướng giao Tổng công ty Đầu tư phát triển đường cao tốc Việt Nam làm cơ quan chủ quản” - Thứ trưởng Nguyễn Danh Huy phân tích.

Thêm tín hiệu thuận cho “siêu” dự án tổ hợp công nghiệp đường sắt

Những điều kiện cần và đủ

Tại công văn số 1000/BKHCN-ĐTC gửi Bộ Tài chính ngày 26/2/2026, Bộ Khoa học và Công nghệ cho rằng, việc giao cơ quan chủ quản và bố trí kinh phí đầu tư thực hiện Dự án xây dựng Tổ hợp công nghiệp đường sắt phải bảo đảm phù hợp với chức năng, nhiệm vụ, thẩm quyền, trách nhiệm được giao của cơ quan, tổ chức đó.

Đơn vị được giao chủ quản đồng thời phải chứng minh được năng lực thực tiễn, kinh nghiệm trong việc chuẩn bị, triển khai và tổ chức thực hiện các dự án lớn, quan trọng, có tính chất chuyên môn tương đồng trong cùng lĩnh vực; bao gồm năng lực quản lý, triển khai dự án đầu tư công và việc chấp hành pháp luật về quản lý, sử dụng ngân sách nhà nước.

Tổ hợp công nghiệp đường sắt dự kiến có diện tích khoảng 250 ha, nằm trên địa bàn 2 xã Chuyên Mỹ và Ứng Hòa, TP. Hà Nội; được chia thành 25 phân khu chức năng với các dây chuyền lắp ráp, sửa chữa, chế tạo linh phụ kiện phương tiện đường sắt; cùng các trung tâm nghiên cứu phát triển, trung tâm thử nghiệm, đào tạo.

“Đặc biệt, đơn vị chủ quản phải có khả năng hình thành, phát triển chuỗi cung ứng sau khi Tổ hợp công nghiệp đường sắt được hình thành; có kế hoạch nội địa hóa và chuyển giao công nghệ để nâng mức độ tự chủ, làm chủ công nghệ đường sắt trong nước” - ông Hoàng Minh - Thứ trưởng Bộ Khoa học và Công nghệ nêu quan điểm.

Trước đó, giữa tháng 1/2026, Tổng công ty Đường sắt Việt Nam đã có Tờ trình số 218/TTr-ĐS gửi Thủ tướng Chính phủ và Bộ Tài chính về việc giao cơ quan chủ quản và bố trí nguồn kinh phí đầu tư Dự án Xây dựng Tổ hợp công nghiệp đường sắt với tổng mức đầu tư 17.509 tỷ đồng (chưa bao gồm chi phí giải phóng, san lấp mặt bằng)

Tại Tờ trình này, tổng công ty đề nghị Thủ tướng xem xét, quyết định giao doanh nghiệp do Nhà nước nắm giữ 100% vốn điều lệ làm đơn vị chủ quản thực hiện dự án; triển khai theo hình thức đầu tư công với 100% vốn nhà nước, đồng thời bố trí nguồn kinh phí để thực hiện các bước chuẩn bị đầu tư và triển khai theo quy định pháp luật.

Lộ trình đầu tư được đơn vị đề xuất trong vòng 3 năm thi công, lắp đặt, chia làm hai giai đoạn chiến lược.

Giai đoạn 1 (2026 - 2028) tập trung hơn 7.410 tỷ đồng để xây dựng hạ tầng kỹ thuật và lắp đặt máy móc. Mục tiêu là lắp ráp đầu máy điện, sản xuất toa xe khách tốc độ 160 km/h và lắp ráp các đoàn tàu EMU phục vụ đường sắt đô thị.

Giai đoạn 2 (2031 - 2032) dự kiến đầu tư gần 10.100 tỷ đồng để hoàn thiện chiều sâu công nghệ, tiến tới tự chủ sản xuất các thành phần cốt lõi như giá chuyển hướng, bệ xe, thùng xe và vật tư, phụ tùng thay thế.

Ông Hoàng Gia Khánh - Tổng giám đốc Tổng công ty Đường sắt Việt Nam cho rằng, ngoài việc tạo tiền đề bảo trì, sửa chữa các tuyến đường sắt hiện có và tuyến đường sắt Lào Cai - Hà Nội - Hải Phòng (dự kiến hoàn thành năm 2030), Tổ hợp còn góp phần hình thành hệ sinh thái công nghiệp đường sắt trong nước thông qua hợp tác với doanh nghiệp trong và ngoài nước.

“Nếu không đầu tư ngay từ bây giờ, chúng ta sẽ tiếp tục phụ thuộc vào nước ngoài khi triển khai các dự án đường sắt tốc độ cao và đường sắt đô thị, làm chảy máu ngoại tệ và không làm chủ được công nghệ” - ông Khánh nhấn mạnh.