Thị trường tiền tệ tuần 11-15.3:

Thị trường mở tái hoạt động, giá vàng vẫn trồi sụt khó lường

Chí Tín
(TBTCO) - Diễn biến đáng chú ý nhất tuần qua là Hội nghị của Thủ tướng Chính phủ về triển khai nhiệm vụ điều vụ điều hành chính sách tiền tệ. Về diễn biến thị trường, Ngân hàng Nhà nước tuần qua đã thực hiện các động thái hút tiền tại thị trường mở, còn ở thị trường vàng, giá vàng cũng tiếp tục có những diễn trồi sụt khó lường.
aa

Thủ tướng chỉ đạo điều hành thị trường tiền tệ

Tại Hội nghị triển khai nhiệm vụ thị trường tiền tệ năm 2024 tập trung tháo gỡ khó khăn cho sản xuất, kinh doanh, thúc đẩy tăng trưởng và ổn định kinh tế vĩ mô diễn ra tuần qua, Thủ tướng yêu cầu các bộ, ngành tiếp thu các ý kiến, chủ động xây dựng các mục tiêu, nhiệm vụ, giải pháp để thực hiện thật tốt chính sách tiền tệ, hỗ trợ đồng hành cùng doanh nghiệp thực chất, hiệu quả.

Ý nghĩa quan trọng của năm 2024

Thủ tướng cho biết, năm 2024 là năm tăng tốc, bứt phá, có ý nghĩa đặc biệt quan trọng với việc thực hiện thắng lợi Kế hoạch 5 năm 2021-2025, để đạt được mục tiêu đề ra đòi hỏi quyết tâm, nỗ lực rất lớn trong bối cảnh tình hình tiếp tục gặp nhiều khó khăn, thách thức.

Sau hội nghị, Thủ tướng giao Văn phòng Chính phủ, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN) tiếp thu các ý kiến, trình ban hành chỉ thị của Thủ tướng Chính phủ ngắn gọn với thông điệp, nhiệm vụ, giải pháp rõ ràng, tập trung các vấn đề trọng tâm, trọng điểm, giải quyết các khó khăn, vướng mắc, dễ hiểu, dễ làm, dễ giám sát, đánh giá, kiểm tra, dễ tuyên truyền.

Thủ tướng cho biết, mặt bằng lãi suất cho vay tuy đã giảm nhưng chưa tương xứng với mức giảm của mặt bằng lãi suất huy động. Lãi suất cho vay đối với các khoản vay hiện tại đang còn cao. Nhiều doanh nghiệp phản ánh tiếp cận tín dụng còn khó khăn và lãi suất cho vay còn cao.

Theo đó, ngành Ngân hàng cần theo dõi sát, nắm chắc tình hình thực tiễn, có phản ứng chính sách ứng phó linh hoạt với biến động thị trường quốc tế, trong nước, góp phần nâng cao tính độc lập, tự chủ của nền kinh tế.

Thị trường mở tái hoạt động, giá vàng vẫn trồi sụt khó lường
Ngân hàng Nhà nước đã thực hiện phát hành tín phiếu trên thị trường mở. Ảnh: T.L
Lãi suất qua đêm liên ngân hàng lại quay đầu giảm xuống dưới 1% Lãi suất cao của Mỹ làm trầm trọng hơn khủng hoảng nợ ở các nước đang phát triển

Dấu ấn hợp tác với ADB

Tuần qua, NHNN và Ngân hàng Phát triển châu Á (ADB) đã có những hoạt động ghi nhận dấu ấn 30 năm hợp tác, phát triển giữa Việt Nam và ADB, đồng thời mở ra một chương mới trong giai đoạn tiếp theo.

Trong 30 năm qua, tổng qui mô tài trợ của ADB lên tới 18 tỷ USD cho gần 600 chương trình, dự án gồm cả khu vực công và tư nhân đã tạo ra những chuyển biến tích cực, mang lại hiệu quả lớn trong các lĩnh vực ưu tiên của Chính phủ như giáo dục, y tế, giao thông, năng lượng và cơ sở hạ tầng đô thị...

ADB đã tư vấn có hiệu quả cho việc thực hiện chính sách tiền tệ của Việt Nam

Thống đốc NHNN Nguyễn Thị Hồng cho biết, thông qua các hỗ trợ kỹ thuật, tư vấn chính sách cho NHNN, các chương trình vay vốn, tài trợ thương mại tới ngân hàng thương mại đã góp phần hỗ trợ, củng cố hệ thống ngân hàng hoạt động ngày càng an toàn, lành mạnh, phù hợp với những thông lệ quốc tế tốt nhất.

Các hỗ trợ tiêu biểu của ADB trong giai đoạn này có thể kể đến như nguồn tài trợ lớn nhất hơn 6 tỷ USD cho lĩnh vực giao thông, khoản vay trị giá 630 triệu USD cho Quỹ Cải cách doanh nghiệp nhà nước và quản trị doanh nghiệp năm 2009, khoản vay chính sách đầu tiên trị giá 100 triệu USD cho các doanh nghiệp nhỏ và vừa vào năm 2004… Đây cũng là những minh chứng cụ thể cho sự hỗ trợ hiệu quả của ADB.

Chủ tịch ADB, ông Masatsugu Asakawa cũng cho biết, ADB cam kết thực hiện vai trò Ngân hàng Khí hậu của Châu Á, qua đó tăng cường hỗ trợ nguồn lực cho các nước thành viên.

Ngân hàng Nhà nước hút tiền qua thị trường mở

Một diễn biến đáng chú ý khác diễn ra tuần qua là động thái hút tiền qua phát hành tín phiếu của NHNN trên thị trường mở. Đợt phát hành tín phiếu bắt đầu diễn ra hôm 11/3 và kéo dài liên tục các ngày trong tuần và mỗi phiên lượng tín phiếu bán ra đạt gần 15 nghìn tỷ đồng, kỳ hạn trung bình 28 ngày và lãi suất khoảng 1,4%.

Động thái hút tiền của NHNN đã khiến cho thị trường chứng khoán có một số thời điểm sụt giảm do một số nhà đầu tư liên tưởng đến đợt hút tiền diễn ra hồi tháng 9/2023. Khi đó, NHNN thực hiện đợt bán tín phiếu kéo dài 1,5 tháng và thị trường chứng khoán cũng chứng kiến một đợt suy giảm rất mạnh từ mốc gần 1.250 điểm xuống thời điểm giữa tháng 9/2023 xuống dưới 1.030 điểm vào cuối tháng 10/2023.

Mặc dù vậy, diễn biến thị trường chứng khoán đến ngày 15/3 cho thấy những diễn biến khác khi VN-Index chỉ giảm điểm mạnh trong phiên giao dịch đầu tuần ngày 11/3, rồi sau đó phục hồi và thậm chí phiên bật tăng rất mạnh vào phiên hôm thứ tư 13/3, sau đó duy trì trạng thái ổn định trong những phiên còn lại trong tuần.

Về diễn biến tỷ giá, trong giai đoạn bán tín phiếu, tỷ giá trung tâm được NHNN điều chỉnh giảm vào đầu tuần và tăng trở lại vào những phiên cuối tuần, đến cuối tuần là 23.979 đồng/USD, cao hơn 7 đồng mỗi Đô la so với hôm đầu tuần.

Thị trường mở tái hoạt động, giá vàng vẫn trồi sụt khó lường
Gía vàng miếng giảm vào giữa tuần nhưng lại tăng vào cuối tuần. Ảnh: T.L

Giá vàng trồi sụt khó lường

Giá vàng tuần qua vẫn tiếp tục là tâm điểm chú ý của các nhà đầu tư và sức nóng từ tuần trước tiếp tục tăng nhiệt trong hôm thứ hai đầu tuần 11/3 khi vàng miếng SJC 9999 đạt mốc 12,3 triệu đồng bán ra còn vàng nhẫn SJC 9999 lập đỉnh mới với giá 71,25 triệu đồng/lượng bán ra.

Tuy nhiên, giá vàng thời điểm giữa tuần đã điều chỉnh giảm mạnh và có thời điểm, mỗi lượng vàng đã sụt giảm tới 2,5 triệu đồng/lượng so với hôm đầu tuần. Tiếp đó, biến động giá vàng vẫn cho thấy thị trường này còn nhiều kịch tính khi vàng miếng phục hồi trở lại vào cuối tuần. Đến chiều ngày 15/3, giá vàng miếng SJC 9999 bán ra ở mức 81,7 triệu đồng/lượng và vàng nhẫn SJC 9999 bán ra là gần 69 triệu đồng/lượng.

Tại thị trường thế giới, giá vàng đạt đỉnh thời điểm đầu tuần khi vượt qua mốc 2.180 USD/ounce, nhưng sau đó điều chỉnh giảm mạnh thời điểm giữa tuần về mặt bằng 2.150 USD/ounce, trước khi phục hồi trở lại ở mức khoảng 2.165 USD/ounce vào chiều ngày 15/3 theo giờ Việt Nam.

Chí Tín

Đọc thêm

Giá vàng hôm nay ngày 15/9: Giá vàng trong nước và thế giới cùng giảm

Giá vàng hôm nay ngày 15/9: Giá vàng trong nước và thế giới cùng giảm

(TBTCO) - Giá vàng thế giới giảm hơn 20 USD/ounce, xuống dưới mốc 4.300 USD/ounce. Trong nước, giá vàng miếng và vàng nhẫn đồng loạt giảm, mức cao nhất 600.000 đồng/lượng.
Giá vàng hôm nay ngày 14/9: Vàng thế giới lùi về 4.333 USD/ounce

Giá vàng hôm nay ngày 14/9: Vàng thế giới lùi về 4.333 USD/ounce

(TBTCO) - Giá vàng thế giới giảm 34 USD/ounce, xuống 4.333 USD/ounce. Trong nước, giá vàng giao dịch trong khoảng 142,5 - 147 triệu đồng/lượng.
Giá vàng hôm nay ngày 13/9: Vàng trong nước đồng loạt tăng

Giá vàng hôm nay ngày 13/9: Vàng trong nước đồng loạt tăng

(TBTCO) - Giá vàng trong nước tăng trở lại ở cả vàng miếng và vàng nhẫn, với mức điều chỉnh cao nhất 600.000 đồng/lượng.
Giá vàng hôm nay ngày 12/9: Vàng trong nước giảm tới 1,4 triệu đồng

Giá vàng hôm nay ngày 12/9: Vàng trong nước giảm tới 1,4 triệu đồng

(TBTCO) - Giá vàng thế giới tăng 29 USD, giao dịch quanh mức 4.349 USD/ounce. Trong khi đó, thị trường trong nước ghi nhận mức giảm cao nhất 1,4 triệu đồng/lượng.
Giá vàng hôm nay ngày 11/9: Vàng thế giới đảo chiều giảm mạnh

Giá vàng hôm nay ngày 11/9: Vàng thế giới đảo chiều giảm mạnh

(TBTCO) - Giá vàng thế giới giảm 95 USD/ounce, xuống còn 4.320 USD/ounce. Trong nước, giá vàng giữ ổn định ở cả phân khúc vàng miếng và vàng nhẫn.
Giá vàng hôm nay ngày 10/9: Vàng thế giới tăng hơn 50 USD/ounce

Giá vàng hôm nay ngày 10/9: Vàng thế giới tăng hơn 50 USD/ounce

(TBTCO) - Giá vàng thế giới tăng hơn 50 USD, lên ngưỡng 4.403 USD/ounce. Trong nước, vàng miếng ổn định, trong khi vàng nhẫn biến động trái chiều.
Giá vàng hôm nay ngày 9/9: Vàng thế giới giảm mạnh, vàng trong nước quay đầu giảm

Giá vàng hôm nay ngày 9/9: Vàng thế giới giảm mạnh, vàng trong nước quay đầu giảm

(TBTCO) - Giá vàng thế giới giảm 55 USD, xuống còn 4.356 USD/ounce. Trong nước, giá vàng miếng và vàng nhẫn cũng quay đầu giảm từ 1,1 - 1,2 triệu đồng/lượng.
Giá vàng hôm nay ngày 8/9: Giá vàng thế giới và trong nước đồng loạt giảm

Giá vàng hôm nay ngày 8/9: Giá vàng thế giới và trong nước đồng loạt giảm

(TBTCO) - Vàng thế giới giảm hơn 10 USD/ounce, xuống còn 4.414 USD/ounce. Trong nước, vàng miếng giảm 1,1 triệu đồng, còn vàng nhẫn giảm tới 1,2 triệu đồng/lượng.
Xem thêm
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 144,000 ▲1200K 147,000 ▲1200K
Hà Nội - PNJ 144,000 ▲1200K 147,000 ▲1200K
Đà Nẵng - PNJ 144,000 ▲1200K 147,000 ▲1200K
Miền Tây - PNJ 144,000 ▲1200K 147,000 ▲1200K
Tây Nguyên - PNJ 144,000 ▲1200K 147,000 ▲1200K
Đông Nam Bộ - PNJ 144,000 ▲1200K 147,000 ▲1200K
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 14,400 ▲120K 14,700 ▲120K
Miếng SJC Nghệ An 14,400 ▲120K 14,700 ▲120K
Miếng SJC Thái Bình 14,400 ▲120K 14,700 ▲120K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 14,380 ▲100K 14,730 ▲100K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 14,380 ▲100K 14,730 ▲100K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 14,380 ▲100K 14,730 ▲100K
NL 99.99 13,600 ▲50K
Nhẫn Tròn Thái Bình 13,500 ▲50K
Trang sức 99.9 14,040 ▲100K 14,640 ▲100K
Trang sức 99.99 14,050 ▲100K 14,650 ▲100K
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 144 ▼1284K 147 ▼1311K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 144 ▼1284K 14,702 ▲120K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 144 ▼1284K 14,703 ▲120K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,435 ▲12K 1,465 ▲12K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,435 ▲12K 1,466 ▲12K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 141 ▼1257K 1,455 ▲12K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 137,059 ▲1188K 144,059 ▲1188K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 99,486 ▲900K 109,286 ▲900K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 893 ▼87591K 991 ▼97293K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 79,114 ▲732K 88,914 ▲732K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 75,185 ▲700K 84,985 ▲700K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 5,103 ▼45426K 6,083 ▼54246K
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 144 ▼1284K 147 ▼1311K
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 144 ▼1284K 147 ▼1311K
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 144 ▼1284K 147 ▼1311K
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 144 ▼1284K 147 ▼1311K
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 144 ▼1284K 147 ▼1311K
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 144 ▼1284K 147 ▼1311K
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 144 ▼1284K 147 ▼1311K
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 144 ▼1284K 147 ▼1311K
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 144 ▼1284K 147 ▼1311K
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 144 ▼1284K 147 ▼1311K
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 144 ▼1284K 147 ▼1311K
Cập nhật: 18/09/2026 14:00
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 18000 18275 18851
CAD 18064 18339 18954
CHF 30923 31300 31946
CNY 0 3840 3936
EUR 29235 29455 30533
GBP 33954 34343 35287
HKD 0 3184 3386
JPY 158 162 169
KRW 0 18 20
NZD 0 14585 15173
SGD 19842 20124 20693
THB 697 760 813
USD (1,2) 25739 0 0
USD (5,10,20) 25778 0 0
USD (50,100) 25806 25820 26187
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 25,820 25,820 26,200
USD(1-2-5) 24,788 - -
USD(10-20) 24,788 - -
EUR 29,279 29,302 30,610
JPY 161.37 161.66 171.43
GBP 34,152 34,244 35,431
AUD 18,192 18,258 18,947
CAD 18,232 18,291 18,966
CHF 31,156 31,253 32,174
SGD 19,962 20,024 20,809
CNY - 3,808 3,954
HKD 3,248 3,258 3,395
KRW 17.34 18.08 19.67
THB 745.58 754.79 807.93
NZD 14,561 14,696 15,139
SEK - 2,607 2,699
DKK - 3,927 4,066
NOK - 2,711 2,809
LAK - 0.89 1.23
MYR 5,954.26 - 6,722.28
TWD 738.6 - 894.84
SAR - 6,804.82 7,168.5
KWD - 82,348 87,625
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 25,790 25,820 26,200
EUR 29,305 29,423 30,618
GBP 34,129 34,266 35,290
HKD 3,247 3,260 3,378
CHF 31,017 31,142 32,082
JPY 162.53 163.18 171.16
AUD 18,165 18,238 18,831
SGD 20,035 20,115 20,705
THB 762 765 803
CAD 18,259 18,332 18,922
NZD 14,637 15,180
KRW 17.99 19.93
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 25810 25810 26180
AUD 18150 18250 19175
CAD 18230 18330 19346
CHF 31116 31146 32719
CNY 3819.9 3844.9 3980.5
CZK 0 1190 0
DKK 0 4010 0
EUR 29389 29419 31144
GBP 34223 34273 36025
HKD 0 3305 0
JPY 162.79 163.29 173.84
KHR 0 6.097 0
KRW 0 18.8 0
LAK 0 1.0945 0
MYR 0 6470 0
NOK 0 2820 0
NZD 0 14663 0
PHP 0 380 0
SEK 0 2660 0
SGD 19998 20128 20851
THB 0 726.3 0
TWD 0 810 0
SJC 9999 14350000 14350000 14700000
SBJ 13000000 13000000 14700000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 25,708 25,828 26,250
USD20 25,678 25,828 26,250
USD1 25,658 25,828 26,250
AUD 18,218 18,318 19,426
EUR 29,196 29,296 30,953
CAD 18,190 18,290 19,598
SGD 20,078 20,228 20,783
JPY 162.9 164.4 169.96
GBP 34,136 34,286 35,352
XAU 14,278,000 0 14,582,000
CNY 0 3,731 0
THB 0 762 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 18/09/2026 14:00
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
BIDV 0,10 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
VietinBank 0,10 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
Agribank 0,20 - - - 2,60 2,60 2,90 4,00 4,00 5,90 6,00
ACB 0,50 - - - 4,00 4,20 4,40 4,50 4,70 5,30 5,40
Sacombank 0,50 - - - 4,75 4,75 4,75 6,30 6,30 6,10 6,80
Techcombank 0,05 - - - 4,20 4,20 4,50 6,20 6,20 6,40 5,50
LPBank 0,20 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 4,60 4,60
Vikki Bank 0,49 0,49 - - 4,64 4,64 4,64 5,75 5,52 5,76 5,43
Eximbank 0,20 0,20 0,20 0,20 2,80 3,00 3,10 4,20 4.00 4,70 5,30