Tín hiệu tích cực từ diễn biến lãi suất liên ngân hàng giảm mạnh

Chí Tín
(TBTCO) - Lãi suất liên ngân hàng trong thời gian qua đã có những tín hiệu giảm mạnh. Đây được coi là một trong những thông điệp tích cực dự báo mặt bằng lãi suất chung có thể hạ nhiệt, tạo động lực tốt cho kinh tế.
aa

Lãi suất liên ngân hàng giảm nhiệt rõ rệt

Các giao dịch ngắn hạn trên thị trường liên ngân hàng cho thấy xu hướng lãi suất giảm khá rõ nét. Đến nay, lãi suất cho vay qua đêm trên thị trường liên ngân hàng chỉ còn 3,49%/năm, thấp hơn khá nhiều so với mức lãi suất qua đêm thời điểm đầu tháng 11 có lúc đã lên tới 6,36%. Tương tự, lãi suất liên ngân hàng kỳ hạn 1 tuần đã giảm thấp xuống chỉ còn 4,24%, cũng thấp hơn nhiều so với mức đỉnh lên tới trên 7% vào đầu tháng 11/2022.

Lãi suất liên ngân hàng giảm mạnh thời gian qua một phần nhờ những kết quả qua 2 cuộc họp diễn ra trong tháng 12 giữa các thành viên Hiệp hội Ngân hàng Việt Nam (VNBA). Theo đó, các ngân hàng ngoài việc cam kết dừng cuộc đua tăng lãi suất huy động, thì cũng có những nội dung trao đổi để có sự hậu thuẫn tốt hơn với nhau thông qua thị trường liên ngân hàng. Theo trao đổi của đại diện VNBA, trước đây có một số thời điểm các ngân hàng thậm chí có tâm lý dè dặt lẫn nhau, sau khi có những nội dung trao đổi và đồng thuận, sự hỗ trợ lẫn nhau qua thị trường liên ngân hàng đã được thực hiện tốt hơn trước.

Việc các ngân hàng giảm lãi suất đã hỗ trợ doanh nghiệp sản xuất kinh doanh.
Việc các ngân hàng giảm lãi suất đã hỗ trợ doanh nghiệp sản xuất kinh doanh.

Đánh giá về diễn biến chung trên thị trường tiền tệ thời gian gần đây, TS. Châu Đình Linh - Giảng viên Đại học Ngân hàng TP. Hồ Chí Minh cho biết, việc lãi suất liên ngân hàng giảm mạnh thời gian qua một phần nhờ kết quả của hàng loạt động thái điều hành khá hợp lý của Ngân hàng Nhà nước (NHNN). Cụ thể, hoạt động thị trường mở (OMO) được điều hành linh hoạt, các động thái bơm và hút tiền qua thị trường mở đã hỗ trợ tốt cho thanh khoản của các ngân hàng. Bên cạnh đó, một trong những động thái điều hành tuy có mang tính hành chính nhưng cần thiết trong thời điểm hiện tại là việc NHNN thông báo sẽ xử lý những ngân hàng tăng lãi suất, đã chặn được làn sóng tăng lãi suất, đưa lãi suất trở về quỹ đạo hợp lý.

Tăng trưởng tín dụng đã đạt 13%

Ông Linh cho biết, thị trường liên ngân hàng thường là nơi thể hiện tín hiệu sớm và qua tín hiệu thị trường này có thể dự báo các động thái của thị trường tiền tệ nói chung trên phạm vi rộng hơn. Theo đó, lãi suất liên ngân hàng giảm nhiệt sẽ là yếu tố nền tảng cơ bản giúp cho lãi suất ở bên ngoài cũng giảm dần. Hiện tại, các yếu tố này mới đang ở mức sơ khởi ban đầu, chưa thể có tác động ngay đến nền kinh tế vì thông thường mỗi sự thay đổi chờ đợi thêm một khoảng thời gian để có thể có những tác động rõ ràng.

Kiểm soát lạm phát năm 2023 ở mức 4,5%

Ngân hàng Nhà nước (NHNN) cho biết, năm 2023, kinh tế thế giới dự kiến sẽ tiếp tục phải đối mặt với nhiều khó khăn, thách thức. Kinh tế trong nước thời gian tới dự báo sẽ có thuận lợi và thách thức đan xen. Theo đó, NHNN tiếp tục bám sát các Nghị quyết của Đảng, Quốc hội, Chính phủ, chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ, đồng thời theo dõi sát diễn biến, tình hình kinh tế thế giới, trong nước để điều hành thận trọng, linh hoạt, đồng bộ các công cụ chính sách tiền tệ, phối hợp chặt chẽ với chính sách tài khóa và các chính sách kinh tế vĩ mô khác nhằm góp phần kiểm soát lạm phát khoảng 4,5%. Ngoài ra, NHNN cũng cho biết sẽ tiếp tục triển khai Đề án “Cơ cấu lại hệ thống các tổ chức tín dụng gắn với xử lý nợ xấu giai đoạn 2021-2025”; trong đó, đẩy mạnh xử lý nợ xấu; tăng cường công tác thanh tra và nâng cao hiệu quả công tác giám sát an toàn vĩ mô và vi mô; nâng cao năng lực, hiệu quả quản lý đối với các tổ chức tín dụng...

Thực tế, mục tiêu tiếp tục đưa mặt bằng lãi suất xuống thấp hơn được NHNN thể hiện khá rõ ràng, đặc biệt thông qua việc cơ quan quản lý thị trường tiền tệ liên tục nhắc nhở các ngân hàng phải tìm các biện pháp đưa lãi suất xuống thấp. Trong một văn bản đưa ra gần đây, NHNN tiếp tục nhắc nhở các tổ chức tín dụng phải tiếp tục tiết giảm chi phí hoạt động, thủ tục hành chính, các khoản chi không cần thiết để có dư địa phấn đấu giảm lãi suất cho vay theo quy định tại Nghị quyết 43/2022/QH15 ngày 11/01/2022 của Quốc hội về chính sách tài khóa, tiền tệ hỗ trợ Chương trình phục hồi và phát triển kinh tế - xã hội và các chỉ đạo của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ.

Ngoài ra, NHNN cũng cho thấy sự quan tâm khá sát sao với việc triển khai gói hỗ trợ 2% lãi suất theo Nghị định 31/2022/NĐ-CP của Chính phủ. Cụ thể, cơ quan này yêu cầu các ngân hàng tiếp tục đẩy mạnh triển khai chương trình hỗ trợ lãi suất theo Nghị định 31. Ngoài ra, Thống đốc NHNN yêu cầu các TCTD tiếp tục tiết giảm chi phí hoạt động, thủ tục hành chính, các khoản chi không cần thiết để có dư địa phấn đấu giảm lãi suất cho vay theo quy định tại Nghị quyết 43/2022/QH15 ngày 11/01/2022 của Quốc hội và các chỉ đạo của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ.

Với các động thái hiện tại, tốc độ tăng trưởng tín dụng tính đến ngày 27/12 đạt khoảng 13% so với cuối năm 2021, tốc độ tăng trưởng huy động vốn đạt khoảng 6%. Hiện tại, dư địa cho tăng trưởng tín dụng so với hạn mức tăng trưởng chung vẫn còn, nhưng theo thông lệ hàng năm, tín dụng có thể sẽ còn tăng mạnh trong một vài ngày cuối cùng trong năm.

Chí Tín

Đọc thêm

Ngân hàng Phát triển Việt Nam: 20 năm kiến tạo động lực tăng trưởng kinh tế - xã hội đất nước

Ngân hàng Phát triển Việt Nam: 20 năm kiến tạo động lực tăng trưởng kinh tế - xã hội đất nước

(TBTCO) - “Mỗi giai đoạn hình thành và phát triển của Ngân hàng Phát triển Việt Nam (VDB) đều mang dấu ấn riêng, phản ánh những nỗ lực không ngừng trong việc thực hiện sứ mệnh đồng hành cùng đất nước” - đó là chia sẻ của Tổng Giám đốc VDB Đào Quang Trường với phóng viên Báo Tài chính - Đầu tư về chặng đường 20 năm hình thành và phát triển.
VDB và hành trình làm “đòn bẩy” cho các dự án trọng điểm quốc gia

VDB và hành trình làm “đòn bẩy” cho các dự án trọng điểm quốc gia

(TBTCO) - Trong suốt 20 năm qua, Ngân hàng Phát triển Việt Nam (VDB) đã phát huy hiệu quả vai trò là công cụ điều tiết và dẫn dắt dòng vốn đầu tư vào các lĩnh vực ưu tiên, góp phần tạo lập nguồn lực cho nền kinh tế và thúc đẩy phát triển thị trường vốn, đặc biệt là thị trường vốn trung và dài hạn.
Doanh nghiệp bảo hiểm tìm động lực tăng trưởng mới

Doanh nghiệp bảo hiểm tìm động lực tăng trưởng mới

(TBTCO) - Thị trường bảo hiểm phi nhân thọ tiếp đà tăng tích cực 9,88%, với doanh thu phí gốc ước đạt 16.140 tỷ đồng hai tháng đầu năm và ghi nhận nhiều biến động đáng chú ý về tốc độ tăng trưởng, cũng như cục diện thị phần giữa các doanh nghiệp. Hiện nhiều doanh nghiệp đang chuyển dịch cơ cấu nghiệp vụ, tìm động lực tăng trưởng mới trong bảo hiểm kỹ thuật, dự án.
Fubon Life Việt Nam lần thứ 11 được vinh danh tại Giải thưởng Rồng Vàng 2025 - 2026

Fubon Life Việt Nam lần thứ 11 được vinh danh tại Giải thưởng Rồng Vàng 2025 - 2026

(TBTCO) - Công ty TNHH Bảo hiểm Nhân thọ Fubon Việt Nam (Fubon Life Việt Nam) tiếp tục khẳng định vị thế và uy tín trên thị trường bảo hiểm nhân thọ khi lần thứ 11 liên tiếp được vinh danh tại Giải thưởng Rồng Vàng 2025 - 2026 do Tạp chí Kinh tế Việt Nam/VnEconomy tổ chức và bình chọn.
Tỷ giá USD hôm nay (15/5): Tỷ giá trung tâm nhích tăng, DXY vượt 99 điểm neo đỉnh hai tuần

Tỷ giá USD hôm nay (15/5): Tỷ giá trung tâm nhích tăng, DXY vượt 99 điểm neo đỉnh hai tuần

(TBTCO) - Sáng ngày 15/5, tỷ giá trung tâm ở mức 25.131 đồng, tăng 5 đồng. Chỉ số DXY tăng 0,2% lên 99,02 điểm, neo vùng cao nhất khoảng hai tuần gần đây khi giới đầu tư theo dõi sát cuộc gặp lãnh đạo Mỹ - Trung Quốc; đồng thời, lo ngại nguy cơ sai lầm chính sách tiền tệ toàn cầu và khả năng đảo chiều các giao dịch “carry trade” khi Nhật Bản tăng lãi suất.
Thanh khoản căng thẳng đẩy LDR áp sát 100%, lợi thế nghiêng về ngân hàng có khả năng huy động vốn tốt

Thanh khoản căng thẳng đẩy LDR áp sát 100%, lợi thế nghiêng về ngân hàng có khả năng huy động vốn tốt

Theo đánh giá của SSI Research, bức tranh huy động vốn ngành ngân hàng kém tích cực trong quý I/2026, tỷ lệ dư nợ cho vay trên tổng tiền gửi (LDR) tại các ngân hàng trong phạm vi theo dõi tiệm cận 100%, cạnh tranh huy động gay gắt khiến biên lãi ròng (NIM) co hẹp. Hạn mức tín dụng không còn là yếu tố quyết định duy nhất, mà khả năng huy động vốn trở thành yếu tố phân hóa then chốt.
Đề xuất sửa đổi, bổ sung quy định về thu, đổi tiền không đủ tiêu chuẩn lưu thông

Đề xuất sửa đổi, bổ sung quy định về thu, đổi tiền không đủ tiêu chuẩn lưu thông

(TBTCO) - Ngân hàng Nhà nước dự kiến sửa đổi Thông tư số 25/2013/TT-NHNN theo hướng phân cấp mạnh về Ngân hàng Nhà nước khu vực, tạo thuận lợi hơn khi đổi tiền không đủ tiêu chuẩn lưu thông. Đáng chú ý, dự thảo bổ sung căn cứ xét đổi đối với tiền polymer bị cháy, co biến dạng còn tối thiểu 30% diện tích.
Mastercard và MDP công bố hợp tác chiến lược

Mastercard và MDP công bố hợp tác chiến lược

(TBTCO) - Mastercard và Công ty cổ phần Thanh toán số - MDP chính thức công bố hợp tác chiến lược nhằm nâng cấp hạ tầng tài chính và thúc đẩy các sáng kiến về thanh toán số. Sự kiện đánh dấu bước đi quan trọng trong việc đón đầu nhu cầu chuyển đổi số thông qua cung ứng các giải pháp thanh toán bảo mật, theo thời gian thực (real-time payment), đảm bảo kết nối thông suốt giữa mạng lưới thanh toán nội địa của Việt Nam và hệ thống thanh toán toàn cầu của Mastercard, tạo động lực tăng trưởng bền vững cho nền kinh tế số quốc gia.
Xem thêm

Mới nhất Đọc nhiều

DOJI Giá mua Giá bán
SJC -Bán Lẻ 16,050 ▼150K 16,350 ▼150K
Kim TT/AVPL 16,050 ▼150K 16,350 ▼150K
NHẪN TRÒN 9999 HƯNG THỊNH VƯỢNG 16,050 ▼150K 16,350 ▼150K
Nguyên Liệu 99.99 15,200 ▼100K 15,400 ▼100K
Nguyên Liệu 99.9 15,150 ▼100K 15,350 ▼100K
NỮ TRANG 9999 - BÁN LẺ 15,800 ▼200K 16,200 ▼200K
NỮ TRANG 999 - BÁN LẺ 15,750 ▼200K 16,150 ▼200K
Nữ trang 99 - Bán Lẻ 15,680 ▼200K 16,130 ▼200K
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 161,000 ▼1000K 164,000 ▼1000K
Hà Nội - PNJ 161,000 ▼1000K 164,000 ▼1000K
Đà Nẵng - PNJ 161,000 ▼1000K 164,000 ▼1000K
Miền Tây - PNJ 161,000 ▼1000K 164,000 ▼1000K
Tây Nguyên - PNJ 161,000 ▼1000K 164,000 ▼1000K
Đông Nam Bộ - PNJ 161,000 ▼1000K 164,000 ▼1000K
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 16,050 ▼150K 16,350 ▼150K
Miếng SJC Nghệ An 16,050 ▼150K 16,350 ▼150K
Miếng SJC Thái Bình 16,050 ▼150K 16,350 ▼150K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 16,050 ▼150K 16,350 ▼150K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 16,050 ▼150K 16,350 ▼150K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 16,050 ▼150K 16,350 ▼150K
NL 99.90 14,800 ▼250K
NL 99.99, Nhẫn Tròn Thái Bình 14,850 ▼250K
Trang sức 99.9 15,540 ▼150K 16,240 ▼150K
Trang sức 99.99 15,550 ▼150K 16,250 ▼150K
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 161 ▼1K 164 ▼1K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 161 ▼1K 16,402 ▼100K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 161 ▼1K 16,403 ▼100K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,608 ▼10K 1,638 ▼10K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,608 ▼10K 1,639 ▼10K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,588 ▼10K 1,623 ▼10K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 154,193 ▼990K 160,693 ▼990K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 112,987 ▼750K 121,887 ▼750K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 101,625 ▼680K 110,525 ▼680K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 90,263 ▼610K 99,163 ▼610K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 8,588 ▼77875K 9,478 ▼85885K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 58,936 ▼417K 67,836 ▼417K
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 161 ▼1K 164 ▼1K
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 161 ▼1K 164 ▼1K
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 161 ▼1K 164 ▼1K
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 161 ▼1K 164 ▼1K
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 161 ▼1K 164 ▼1K
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 161 ▼1K 164 ▼1K
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 161 ▼1K 164 ▼1K
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 161 ▼1K 164 ▼1K
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 161 ▼1K 164 ▼1K
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 161 ▼1K 164 ▼1K
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 161 ▼1K 164 ▼1K
Cập nhật: 15/05/2026 18:00
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 18299 18575 19156
CAD 18626 18903 19519
CHF 32873 33258 33895
CNY 0 3828 3920
EUR 30009 30283 31308
GBP 34381 34773 35704
HKD 0 3235 3437
JPY 159 163 169
KRW 0 16 18
NZD 0 15094 15681
SGD 20045 20328 20854
THB 722 786 839
USD (1,2) 26086 0 0
USD (5,10,20) 26128 0 0
USD (50,100) 26156 26176 26387
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,137 26,137 26,387
USD(1-2-5) 25,092 - -
USD(10-20) 25,092 - -
EUR 30,226 30,250 31,536
JPY 162.13 162.42 171.38
GBP 34,641 34,735 35,763
AUD 18,582 18,649 19,254
CAD 18,864 18,925 19,525
CHF 33,206 33,309 34,128
SGD 20,231 20,294 20,992
CNY - 3,810 3,936
HKD 3,306 3,316 3,438
KRW 16.23 16.93 18.32
THB 773.31 782.86 833.96
NZD 15,150 15,291 15,666
SEK - 2,756 2,839
DKK - 4,045 4,166
NOK - 2,788 2,875
LAK - 0.92 1.27
MYR 6,251.56 - 7,023.92
TWD 755.84 - 911.05
SAR - 6,921.22 7,253.27
KWD - 83,938 88,860
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,127 26,147 26,387
EUR 30,132 30,253 31,433
GBP 34,618 34,757 35,761
HKD 3,294 3,307 3,422
CHF 32,980 33,112 34,046
JPY 162.31 162.96 170.32
AUD 18,625 18,700 19,292
SGD 20,269 20,350 20,932
THB 791 794 829
CAD 18,826 18,902 19,474
NZD 15,270 15,803
KRW 16.85 18.49
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26207 26207 26387
AUD 18486 18586 19514
CAD 18814 18914 19929
CHF 33126 33156 34735
CNY 3809.5 3834.5 3969.8
CZK 0 1220 0
DKK 0 4140 0
EUR 30198 30228 31954
GBP 34689 34739 36497
HKD 0 3355 0
JPY 162.76 163.26 173.77
KHR 0 6.097 0
KRW 0 17.1 0
LAK 0 1.165 0
MYR 0 6920 0
NOK 0 2850 0
NZD 0 15204 0
PHP 0 400 0
SEK 0 2840 0
SGD 20208 20338 21066
THB 0 752 0
TWD 0 820 0
SJC 9999 16100000 16100000 16400000
SBJ 14000000 14000000 16400000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,181 26,231 26,387
USD20 26,181 26,231 26,387
USD1 23,875 26,231 26,387
AUD 18,520 18,620 19,725
EUR 30,333 30,333 31,742
CAD 18,756 18,856 20,162
SGD 20,279 20,429 20,989
JPY 163.22 164.72 169.26
GBP 34,542 34,892 35,748
XAU 16,098,000 0 16,402,000
CNY 0 3,719 0
THB 0 788 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 15/05/2026 18:00
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80