Tỷ giá USD hôm nay (15/4): Tỷ giá trung tâm giảm nhẹ còn 25.103 đồng, DXY lùi về vùng 98 điểm

Ánh Tuyết
(TBTCO) - Sáng ngày 15/4, tỷ giá trung tâm giảm nhẹ 3 đồng về 25.103 VND/USD, trong khi thị trường tự do giữ ổn định quanh 26.860 - 26.910 VND/USD. Đồng USD suy yếu trên thị trường quốc tế khi chỉ số DXY lùi về vùng 98 điểm, trong bối cảnh kỳ vọng nối lại đàm phán Mỹ - Iran và bất định chính sách Fed, qua đó hỗ trợ EUR, GBP phục hồi nhẹ.
aa

Diễn biến thị trường trong nước

Sáng ngày 15/4, tỷ giá trung tâm do Ngân hàng Nhà nước công bố là 25.103 VND/USD, giảm 3 đồng. Tỷ giá USD tham khảo tại Cục Quản lý ngoại hối cũng được điều chỉnh tương ứng

Với biên độ 5%, tỷ giá USD tại các ngân hàng thương mại được phép dao động trong khoảng 23.847,85 - 26.358,15 VND/USD.

Trên thị trường tự do, tỷ giá USD/VND phổ biến quanh 26.860 - 26.910, giữ nguyên so với phiên trước đó.

Trong phiên gần nhất, tỷ giá USD tại các ngân hàng thương mại nhìn chung biến động nhẹ, chủ yếu đi ngang hoặc điều chỉnh giảm chiều mua, chiều bán giữ nguyên so với phiên trước. Đơn cử, ACB giảm 10 đồng chiều mua, không đổi chiều bán, niêm yết ở mức 26.120 - 26.361 VND/USD.

Các ngân hàng khác cũng giữ nguyên chiều bán, trong khi giảm chiều mua như: Sacombank giảm 4 đồng chiều mua còn 26.221 - 26.361 VND/USD; Techcombank giảm 6 đồng chiều mua còn 26.138 - 26.361 VND/USD. Các ngân hàng lớn như Vietcombank, BIDV và Agribank giữ tỷ giá USD ổn định quanh 26.111 - 26.361 VND/USD.

Tỷ giá USD giao dịch tại các ngân hàng thương mại lớn cuối ngày 14/4 gồm: Vietcombank, BIDV, Techcombank, Sacombank, Agribank như sau:

Tỷ giá USD hôm nay (15/4): Tỷ giá trung tâm giảm nhẹ còn 25.103 đồng, DXY lùi về vùng 98 điểm
Đồ họa: Ánh Tuyết.

Trái ngược với USD, tỷ giá EUR ghi nhận xu hướng tăng rõ rệt tại nhiều ngân hàng. BIDV tăng mạnh 193 đồng ở chiều mua và 201 đồng chiều bán, lên 30.545 - 31.830 VND/EUR; Eximbank tăng tới 261 đồng chiều mua và 271 đồng chiều bán, lên 30.543 - 31.705 VND/EUR; Sacombank tăng 254 - 256 đồng, lên 30.587 - 32.345 VND/EUR. Tương tự, Techcombank và Vietcombank cũng điều chỉnh tăng mạnh, lần lượt lên 30.400 - 31.699 VND/EUR và 30.192 - 31.784 VND/EUR. Diễn biến này cho thấy đồng EUR đang hồi phục đáng kể so với VND.

Đối với GBP, xu hướng tăng còn rõ nét hơn với biên độ lớn tại nhiều ngân hàng. BIDV tăng 257 đồng chiều mua và 265 đồng chiều bán, lên 35.055 - 36.139 VND/GBP; Sacombank tăng 297 - 279 đồng, lên 35.159 - 36.962 VND/GBP, một trong những mức bán ra cao nhất thị trường.

Diễn biến thị trường thế giới

Trên thị trường quốc tế, chỉ số DXY - thước đo sức mạnh đồng USD so với rổ 6 đồng tiền chủ chốt (EUR, JPY, GBP, CAD, SEK, CHF) - hiện dao động quanh mức 98,12 điểm, sau khi ghi nhận nhịp giảm trong phiên trước đó.

Trong bối cảnh này, các cặp tỷ giá diễn biến phân hóa nhẹ. Tỷ giá USD/EUR tăng 0,02% lên 0,8480, cho thấy USD nhích nhẹ so với đồng euro, trong khi tỷ giá USD/GBP giảm 0,03% xuống 0,7369, phản ánh đồng bảng Anh phục hồi nhẹ. Ở châu Á, tỷ giá USD/JPY tăng 0,04% lên 158,84, tiếp tục duy trì xu hướng USD mạnh lên so với yên. Còn tỷ giá USD/CNY đi ngang tại 6,8158.

Dù các cuộc đàm phán hòa bình giữa Mỹ và Iran chưa đạt kết quả vào cuối tuần, tâm lý thị trường vẫn nghiêng về kịch bản tích cực khi nhà đầu tư tiếp tục dịch chuyển sang các tài sản rủi ro, với kỳ vọng kênh ngoại giao chưa đóng lại và đối thoại có thể được nối lại. Diễn biến này khiến đồng USD - vốn là tài sản trú ẩn an toàn suy yếu, đồng thời hỗ trợ đà phục hồi của EUR và GBP.

Phó Tổng thống Mỹ J.D. Vance bày tỏ sự lạc quan thận trọng khi cho rằng các cuộc đàm phán đã đạt được một số tiến triển đáng kể, dù chưa có đột phá và một khuôn khổ thỏa thuận toàn diện vẫn khả thi nếu Iran nhượng bộ thêm. Cùng với đó, Reuters cho biết hai bên có thể sớm quay lại Islamabad (Pakistan) để tiếp tục một vòng đàm phán mới ngay trong tuần này.

Những tín hiệu này, kết hợp với sự thiếu chắc chắn về lộ trình lãi suất của Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed), đã kéo đồng USD xuống mức thấp nhất kể từ đầu tháng 3, có thời điểm lùi về vùng đáy 6 tuần quanh 97,96 điểm, qua đó tiếp tục hỗ trợ xu hướng tăng của các cặp EUR/USD và GBP/USD.

Đồng thời, triển vọng giảm căng thẳng tại Trung Đông khiến giá dầu hạ nhiệt, góp phần giảm áp lực lạm phát và củng cố kỳ vọng Fed có thể cắt giảm lãi suất trong năm nay. Tuy vậy, rủi ro từ các cú sốc năng lượng, đặc biệt liên quan đến khu vực eo biển Hormuz, vẫn là yếu tố khiến nhà đầu tư thận trọng./.

Ánh Tuyết

Đọc thêm

Cục Thuế phối hợp cùng ABBank đồng hành hỗ trợ hộ kinh doanh tuân thủ pháp luật thuế

Cục Thuế phối hợp cùng ABBank đồng hành hỗ trợ hộ kinh doanh tuân thủ pháp luật thuế

(TBTCO) - Chiều ngày 14/4, Cục Thuế và Ngân hàng TMCP An Bình (ABBank) tổ chức Lễ ký kết hợp tác nhằm đồng hành hỗ trợ hộ kinh doanh chuyển đổi từ thuế khoán sang kê khai. Chương trình được tổ chức trực tiếp kết hợp trực tuyến tại các chi nhánh ABBank ở 22 tỉnh, thành phố.
Việt Nam - Australia hợp tác thúc đẩy tiến trình chuyển đổi ngân hàng số

Việt Nam - Australia hợp tác thúc đẩy tiến trình chuyển đổi ngân hàng số

(TBTCO) - Cơ quan Thương mại và Đầu tư Australia (Austrade) dẫn đầu phái đoàn gồm 9 doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực công nghệ tài chính (fintech) và công nghệ quản lý, tuân thủ (regtech) của Australia đến Việt Nam, để tìm hiểu sâu về xu hướng chuyển đổi số của các ngân hàng và giới thiệu năng lực, tìm kiếm cơ hội hợp tác tại thị trường Việt Nam.
Prudential Việt Nam chi trả 16.489 tỷ đồng quyền lợi bảo hiểm: Giữ trọn niềm tin khách hàng khi cần nhất

Prudential Việt Nam chi trả 16.489 tỷ đồng quyền lợi bảo hiểm: Giữ trọn niềm tin khách hàng khi cần nhất

(TBTCO) - Prudential Việt Nam ghi nhận tổng chi phí bồi thường và chi trả quyền lợi bảo hiểm khác lên tới 16.489 tỷ đồng trong năm 2025, thể hiện năng lực thực hiện cam kết với khách hàng vào những thời điểm quan trọng nhất một cách mạnh mẽ. Đây được xem là yếu tố then chốt giúp nâng cao niềm tin trong bối cảnh thị trường bảo hiểm ngày càng đề cao tính minh bạch và trải nghiệm thực tế.
HDBank, VIFC - HCMC và LSE thiết lập quan hệ đối tác toàn diện, mở rộng kết nối thị trường vốn quốc tế cho doanh nghiệp Việt

HDBank, VIFC - HCMC và LSE thiết lập quan hệ đối tác toàn diện, mở rộng kết nối thị trường vốn quốc tế cho doanh nghiệp Việt

(TBTCO) - Ngân hàng TMCP Phát triển TP. Hồ Chí Minh (HDBank), phối hợp cùng Sở Giao dịch Chứng khoán London (London Stock Exchange – LSE) và Trung tâm Tài chính Quốc tế Việt Nam tại TP. Hồ Chí Minh (VIFC - HCMC) đã tổ chức Diễn đàn Đầu tư cấp cao tại TP. Hồ Chí Minh, đánh dấu một bước tiến quan trọng trong việc kết nối thị trường vốn Việt Nam với hệ thống tài chính toàn cầu.
SHB - kết nối nguồn lực, kiến tạo hệ sinh thái phát triển

SHB - kết nối nguồn lực, kiến tạo hệ sinh thái phát triển

(TBTCO) - Trong bối cảnh Việt Nam bước vào kỷ nguyên phát triển mới với yêu cầu tăng trưởng nhanh, bền vững và tự chủ, vai trò của các định chế tài chính ngày càng trở nên then chốt. Với định hướng đồng hành cùng các ngành nền tảng, doanh nghiệp đầu tàu và hệ sinh thái kinh tế, SHB đang từng bước khẳng định vị thế là cầu nối nguồn lực, góp phần kiến tạo động lực tăng trưởng cho nền kinh tế.
HSBC: Chất lượng tài sản cải thiện, dù lợi nhuận giảm nhẹ

HSBC: Chất lượng tài sản cải thiện, dù lợi nhuận giảm nhẹ

(TBTCO) - Năm 2025, HSBC Việt Nam ghi nhận lợi nhuận trước thuế 4.141,5 tỷ đồng, giảm 6,9%, chủ yếu do thu nhập lãi thuần suy giảm, trong khi chi phí hoạt động tăng. Dư nợ cho vay khách hàng tính đến cuối năm 2025 đạt 75.412,2 tỷ đồng, tăng 8,3%; tỷ lệ nợ xấu giảm còn 0,42%, phản ánh chất lượng tài sản cải thiện.
BAC A BANK tung ưu đãi hoàn tiền tới 20%, miễn phí thường niên trọn đời cho chủ thẻ tín dụng

BAC A BANK tung ưu đãi hoàn tiền tới 20%, miễn phí thường niên trọn đời cho chủ thẻ tín dụng

(TBTCO) - Từ nay đến hết 30/6/2026, khách hàng nhận ngay combo hoàn tiền hấp dẫn và miễn phí thường niên trọn đời khi đăng ký mở thẻ tín dụng quốc tế BAC A BANK MasterCard
Tín dụng giảm nhịp, ngân hàng rẽ hướng chiến lược

Tín dụng giảm nhịp, ngân hàng rẽ hướng chiến lược

(TBTCO) - Năm 2026, tăng trưởng tín dụng toàn hệ thống được định hướng khoảng 15%, phản ánh xu hướng điều hành thận trọng. Theo đó, chiến lược phát triển của các ngân hàng cũng phân hóa rõ nét. Một số nhà băng tăng tốc mạnh nhờ dư địa nhận chuyển giao ngân hàng yếu kém hoặc đang tái cơ cấu, trong khi đó, không ít nhà băng chọn hướng đi "chậm mà chắc".
Xem thêm

Mới nhất Đọc nhiều

DOJI Giá mua Giá bán
SJC -Bán Lẻ 17,200 ▲150K 17,500 ▲200K
Kim TT/AVPL 17,210 ▲200K 17,510 ▲200K
NHẪN TRÒN 9999 HƯNG THỊNH VƯỢNG 17,200 ▲200K 17,500 ▲200K
Nguyên Liệu 99.99 15,750 ▲150K 15,950 ▲150K
Nguyên Liệu 99.9 15,700 ▲150K 15,900 ▲150K
NỮ TRANG 9999 - BÁN LẺ 16,560 ▲150K 16,960 ▲150K
NỮ TRANG 999 - BÁN LẺ 16,510 ▲150K 16,910 ▲150K
Nữ trang 99 - Bán Lẻ 16,440 ▲150K 16,890 ▲150K
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 171,700 ▲2000K 174,700 ▲2000K
Hà Nội - PNJ 171,700 ▲2000K 174,700 ▲2000K
Đà Nẵng - PNJ 171,700 ▲2000K 174,700 ▲2000K
Miền Tây - PNJ 171,700 ▲2000K 174,700 ▲2000K
Tây Nguyên - PNJ 171,700 ▲2000K 174,700 ▲2000K
Đông Nam Bộ - PNJ 171,700 ▲2000K 174,700 ▲2000K
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 17,200 ▲200K 17,500 ▲200K
Miếng SJC Nghệ An 17,200 ▲200K 17,500 ▲200K
Miếng SJC Thái Bình 17,200 ▲200K 17,500 ▲200K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 17,170 ▲200K 17,470 ▲200K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 17,170 ▲200K 17,470 ▲200K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 17,170 ▲200K 17,470 ▲200K
NL 99.90 15,720 ▲90K
NL 99.99, Nhẫn Tròn Thái Bình 15,770 ▲90K
Trang sức 99.9 16,660 ▲200K 17,360 ▲200K
Trang sức 99.99 16,670 ▲200K 17,370 ▲200K
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,715 ▲10K 1,745 ▲1572K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,715 ▲10K 17,452 ▲150K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,715 ▲10K 17,453 ▲150K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,712 ▲10K 1,742 ▲15K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,712 ▲10K 1,743 ▲15K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,692 ▲10K 1,727 ▲15K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 16,449 ▼146556K 17,099 ▼152406K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 120,788 ▲1125K 129,688 ▲1125K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 108,698 ▲1020K 117,598 ▲1020K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 96,608 ▲916K 105,508 ▲916K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 91,944 ▲82837K 100,844 ▲90847K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 63,273 ▲625K 72,173 ▲625K
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,715 ▲10K 1,745 ▲1572K
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,715 ▲10K 1,745 ▲1572K
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,715 ▲10K 1,745 ▲1572K
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,715 ▲10K 1,745 ▲1572K
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,715 ▲10K 1,745 ▲1572K
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,715 ▲10K 1,745 ▲1572K
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,715 ▲10K 1,745 ▲1572K
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,715 ▲10K 1,745 ▲1572K
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,715 ▲10K 1,745 ▲1572K
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,715 ▲10K 1,745 ▲1572K
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,715 ▲10K 1,745 ▲1572K
Cập nhật: 15/04/2026 10:30
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 18221 18496 19077
CAD 18575 18852 19470
CHF 33017 33403 34055
CNY 0 3800 3870
EUR 30384 30658 31685
GBP 34896 35290 36223
HKD 0 3229 3431
JPY 158 163 169
KRW 0 16 18
NZD 0 15208 15798
SGD 20151 20435 20961
THB 737 801 854
USD (1,2) 26066 0 0
USD (5,10,20) 26107 0 0
USD (50,100) 26136 26155 26358
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,138 26,138 26,358
USD(1-2-5) 25,093 - -
USD(10-20) 25,093 - -
EUR 30,614 30,639 31,903
JPY 161.64 161.93 170.67
GBP 35,203 35,298 36,294
AUD 18,467 18,534 19,122
CAD 18,826 18,886 19,461
CHF 33,383 33,487 34,272
SGD 20,340 20,403 21,080
CNY - 3,801 3,922
HKD 3,304 3,314 3,431
KRW 16.53 17.24 18.64
THB 787.12 796.84 847.9
NZD 15,241 15,383 15,746
SEK - 2,827 2,909
DKK - 4,097 4,215
NOK - 2,747 2,827
LAK - 0.91 1.26
MYR 6,253.05 - 7,015.88
TWD 754.39 - 908.28
SAR - 6,919.93 7,243.71
KWD - 83,916 88,736
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,108 26,138 26,358
EUR 30,482 30,604 31,789
GBP 35,105 35,246 36,258
HKD 3,292 3,305 3,420
CHF 33,117 33,250 34,194
JPY 161.80 162.45 169.77
AUD 18,406 18,480 19,073
SGD 20,352 20,434 21,019
THB 803 806 841
CAD 18,777 18,852 19,423
NZD 15,288 15,822
KRW 17.14 18.83
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26140 26140 26358
AUD 18412 18512 19438
CAD 18772 18872 19886
CHF 33313 33343 34926
CNY 3802 3827 3962.3
CZK 0 1185 0
DKK 0 4050 0
EUR 30597 30627 32352
GBP 35231 35281 37039
HKD 0 3355 0
JPY 162.17 162.67 173.18
KHR 0 6.097 0
KRW 0 17.2 0
LAK 0 1.165 0
MYR 0 6840 0
NOK 0 2720 0
NZD 0 15331 0
PHP 0 400 0
SEK 0 2790 0
SGD 20324 20454 21185
THB 0 768.4 0
TWD 0 810 0
SJC 9999 17300000 17300000 17550000
SBJ 15000000 15000000 17550000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,150 26,200 26,358
USD20 26,150 26,200 26,358
USD1 23,848 26,200 26,358
AUD 18,461 18,561 19,678
EUR 30,744 30,744 32,171
CAD 18,717 18,817 20,133
SGD 20,403 20,553 21,780
JPY 162.64 164.14 168.78
GBP 35,127 35,477 36,362
XAU 16,998,000 0 17,302,000
CNY 0 3,712 0
THB 0 804 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 15/04/2026 10:30
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80