Tỷ lệ nữ giới có việc làm thấp hơn nam giới

Mai Đan
Tại Việt Nam, sự phân biệt giới trên thị trường lao động không rõ rệt như ở các khu vực khác và ở cấp khu vực. Tuy nhiên, vẫn tồn tại khoảng cách trong cả vấn đề tiếp cận thị trường lao động và chất lượng việc làm.
aa

phu nu

Phụ nữ ít có cơ hội tham gia thị trường lao động hơn nam giới. Ảnh minh họa: Mai Đan

Theo một nghiên cứu mới của Tổ chức Lao động quốc tế (ILO) công bố nhân Ngày Quốc tế Phụ nữ (8/3), phụ nữ ít có cơ hội tham gia vào thị trường lao động và có nhiều nguy cơ thất nghiệp hơn nam giới ở hầu khắp mọi nơi trên thế giới. Những số liệu mới cập nhật của ILO cho thấy vẫn tồn tại sự bất bình đẳng giữa phụ nữ và nam giới trong việc tiếp cận thị trường lao động, tình trạng thất nghiệp và điều kiện làm việc.

Báo cáo Triển vọng việc làm và xã hội thế giới – Xu hướng cho phụ nữ: Báo cáo nhanh 2018 cũng cho thấy, tỷ lệ tham gia lực lượng lao động của phụ nữ trên toàn cầu ở mức 48,5% năm 2018, vẫn thấp hơn 26,5 điểm phần trăm so với nam giới. Thêm vào đó, tỷ lệ thất nghiệp toàn cầu của phụ nữ năm 2018, ở mức 6%, cao hơn tỷ lệ này của nam giới khoảng 0,8 điểm phần trăm.

Bà Deborah Greenfield - Phó tổng giám đốc ILO phụ trách chính sách cho biết: “Triển vọng về việc làm của phụ nữ còn rất lâu mới có thể bình đẳng so với nam giới, dù cho đã đạt được nhiều tiến bộ và có nhiều cam kết cải thiện hơn nữa tình trạng này”.

Trong khi ở các nước mới nổi, tỷ lệ phụ nữ tham gia làm công việc gia đình đã giảm trong thập kỷ qua, tỷ lệ này vẫn duy trì ở mức cao ở các nước đang phát triển, ở mức 42% trong tổng số việc làm của phụ nữ năm 2018, so với mức 20% trong tổng số việc làm của nam giới và không có dấu hiệu cải thiện cho đến năm 2021. Do đó, phụ nữ vẫn chiếm phần đông trong việc làm phi chính thức ở các nước đang phát triển.

Nói đến phụ nữ làm kinh doanh, báo cáo chỉ ra rằng số lượng nam giới làm việc ở vị trí người sử dụng lao động cao gấp bốn lần phụ nữ năm 2018 trên toàn cầu. Những khoảng cách giới như vậy cũng được phản ánh ở các vị trí quản lý, theo đó phụ nữ tiếp tục đối mặt với những rào cản của thị trường lao động khi tiếp cận các vị trí quản lý.

Tại Việt Nam, sự phân biệt giới trên thị trường lao động không rõ rệt như ở các khu vực khác và ở cấp khu vực. Tuy nhiên, vẫn tồn tại khoảng cách trong cả vấn đề tiếp cận thị trường lao động và chất lượng việc làm.

Báo cáo Điều tra lao động việc làm quốc gia mới nhất (2016) cho thấy tỷ lệ nữ giới có việc làm thấp hơn 9% so với nam giới (71% so với 80,6%).

Ở cấp quốc gia, tỷ lệ thất nghiệp của nữ giới khá tương đồng so với nam giới, duy trì ở mức thấp 2,2% (so với tỷ lệ 2,4% của nam giới), trong đó mức độ thất nghiệp của phụ nữ trẻ cao hơn một chút so với nam giới (lần lượt là 7,5% và 7,38%).

Khoảng cách về giới đặc biệt rõ nét khi xét về khía cạnh loại hình công việc. Nhiều phụ nữ phải làm những công việc dễ bị tổn thương (thường không ổn định và ít có bảo hiểm xã hội) hơn so với nam giới. Trong năm 2016, tỷ lệ lao động tự làm và lao động gia đình không được trả lương ở nữ giới cao hơn nam giới tới 12,4%.

Trong nhóm lao động làm công ăn lương, thu nhập từ việc làm hàng tháng trung bình của nam giới cao hơn phụ nữ 10,7% (5,3 triệu đồng so với 4,7 triệu đồng)./.

Mai Đan

Mai Đan

Đọc thêm

Tập huấn cán bộ Đoàn gắn với nhiệm vụ chuyên môn và đổi mới hoạt động

Tập huấn cán bộ Đoàn gắn với nhiệm vụ chuyên môn và đổi mới hoạt động

(TBTCO) - Chương trình tập huấn tập trung bồi dưỡng nghiệp vụ, tăng cường gắn kết phong trào thanh niên với công việc chuyên môn và thúc đẩy đổi mới phương thức hoạt động của tổ chức Đoàn trong bối cảnh mới.
Tổng kết Tháng Thanh niên 2026 với nhiều kết quả nổi bật

Tổng kết Tháng Thanh niên 2026 với nhiều kết quả nổi bật

(TBTCO) - Tháng Thanh niên 2026 được triển khai đồng bộ, hiệu quả, ghi nhận nhiều công trình, phần việc thiết thực và kết quả tích cực trên các lĩnh vực, qua đó khẳng định vai trò xung kích của tuổi trẻ Chính phủ.
Lần đầu thiết lập “chuẩn ESG” cho dự án xanh: Mở đường dòng vốn ưu đãi

Lần đầu thiết lập “chuẩn ESG” cho dự án xanh: Mở đường dòng vốn ưu đãi

(TBTCO) - Việt Nam đang tiến thêm một bước quan trọng trong hành trình phát triển kinh tế xanh khi lần đầu tiên xây dựng khung tiêu chuẩn môi trường, xã hội và quản trị (ESG) làm căn cứ xác định dự án xanh, dự án tuần hoàn và xem xét hỗ trợ lãi suất.
Hoàn thiện khung pháp lý cho vận hành sàn giao dịch các-bon trong nước

Hoàn thiện khung pháp lý cho vận hành sàn giao dịch các-bon trong nước

(TBTCO) - Bộ Tài chính và Ủy ban Chứng khoán Nhà nước đang lấy ý kiến rộng rãi đối với Dự thảo Thông tư hướng dẫn giám sát giao dịch hạn ngạch phát thải khí nhà kính, tín chỉ các-bon, nhằm hoàn thiện khung pháp lý cho vận hành sàn giao dịch các-bon trong nước theo hướng minh bạch, hiệu quả.
Trái phiếu xanh Việt Nam tăng tốc nhưng quy mô còn khiêm tốn

Trái phiếu xanh Việt Nam tăng tốc nhưng quy mô còn khiêm tốn

(TBTCO) - Xu hướng trái phiếu bền vững toàn cầu phân hóa cùng yêu cầu minh bạch gia tăng đang định hình thị trường, trong khi tại Việt Nam, trái phiếu xanh dù tăng tốc nhưng vẫn chiếm tỷ trọng nhỏ, cho thấy dư địa phát triển còn lớn.
Tập trung hậu kiểm 3 nhóm sản phẩm trọng điểm, giảm thiểu ngộ độc thực phẩm

Tập trung hậu kiểm 3 nhóm sản phẩm trọng điểm, giảm thiểu ngộ độc thực phẩm

(TBTCO) - Cục An toàn thực phẩm (Bộ Y tế) yêu cầu các địa phương tăng cường hậu kiểm an toàn thực phẩm năm 2026 theo hướng có trọng tâm, trọng điểm, đặc biệt với các nhóm sản phẩm nguy cơ cao xảy ra ngộ độc thực phẩm.
Tăng cường kiểm soát quan trắc môi trường, ngăn chặn gian lận dữ liệu

Tăng cường kiểm soát quan trắc môi trường, ngăn chặn gian lận dữ liệu

(TBTCO) - Bộ Nông nghiệp và Môi trường vừa ban hành Văn bản số 3154/BNNNMT-MT gửi UBND các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương, yêu cầu khẩn trương rà soát, kiểm tra và giám sát các hệ thống quan trắc tự động, liên tục đối với nước thải và khí thải trên địa bàn.
Việt Nam sẽ nhận gần 72 triệu USD từ Quỹ Khí hậu xanh nhờ kết quả giảm phát thải rừng

Việt Nam sẽ nhận gần 72 triệu USD từ Quỹ Khí hậu xanh nhờ kết quả giảm phát thải rừng

(TBTCO) - Việt Nam sẽ nhận 71,96 triệu USD do Quỹ Khí hậu xanh (GCF) chi trả dựa trên kết quả giảm phát thải từ phá rừng và suy thoái rừng (REDD+) cho năm 2014.
Xem thêm