Vàng lên ngôi khi các ngân hàng gặp khó

Hoàng Yến
(TBTCO) - Vụ việc hai ngân hàng lớn của Mỹ sụp đổ chỉ trong vài ngày qua đã khiến vàng trở thành tài sản hấp dẫn các nhà đầu tư, trước lo ngại về lạm phát và bất ổn trên thị trường tài chính.
aa

Giá vàng thế giới tăng mạnh, trong nước tăng dè dặt

Tại thị trường thế giới, thời điểm lúc 3h chiều ngày 14/3, giá vàng giao ngay giao dịch ở mức giá 1.908 USD/ounce, tăng hơn 30 USD/ounce so với ngày trước đó. Trong vòng 5 ngày qua, kim loại quý này đã tăng gần 100 USD/ounce, lên mức cao nhất trong 5 tuần qua.

Vàng trở thành kênh đầu tư hấp dẫn
Vàng trở thành kênh đầu tư hấp dẫn.

Còn ở thị trường trong nước, sau phiên tăng mạnh ngày 13/3 đưa vàng miếng SJC vượt qua ngưỡng 67 triệu đồng/lượng, thị trường vàng ngày 14/3 đã được điều chỉnh nhẹ.

Cụ thể, sáng 14/3 tại TP. Hồ Chí Minh (TP.HCM), Công ty TNHH MTV Vàng bạc đá quý Sài Gòn (SJC) niêm yết vàng miếng với mức giá 66.350.000 đồng/lượng mua vào và 67.050.000 đồng/lượng bán ra, tăng 50.000 đồng/lượng ở cả hai chiều mua và bán so với thời điểm chốt phiên giao dịch ngày trước đó. Tại Hà Nội và Đà Nẵng, Công ty SJC cũng áp dụng mức giá mua vào là 66.350.000 đồng/lượng, nhưng giá bán ra ở hai thị trường này cao hơn tại TP.HCM 20.000 đồng/lượng.

Tuy nhiên, đến đầu giờ chiều 14/3, giá vàng miếng tại Công ty Vàng bạc đá quý Sài Gòn (SJC) niêm yết ở mức 66,15 triệu đồng/lượng mua vào và 66,85 triệu đồng/lượng bán ra, giảm 150.000 đồng/lượng ở cả hai chiều so với giá đóng cửa chiều 13/3.

Tương tự, Tập đoàn Vàng bạc đá quý Phú Nhuận cũng hạ 200.000 đồng/lượng giá mua và bán của vàng miếng SJC, xuống còn 66,15 - 66,9 triệu đồng/lượng. Biên độ chênh lệch giá mua - bán được duy trì ổn định mức 700.000 - 750.000 đồng/lượng cho thấy sức mua trên thị trường khá thấp.

Các loại vàng trang sức 24K cũng chịu áp lực giảm. Hiện giá vàng 9999 được giao dịch quanh 54,25 - 55,15 triệu đồng/lượng, giảm 150.000 đồng/lượng. Trong khi đó, giá mở cửa sáng ngày 14/3, các doanh nghiệp tăng 350.000 đồng mỗi lượng so với ngày trước đó.

Với mức giá hiện tại, chênh lệch giữa giá vàng trong nước và thế giới khoảng trên 12 triệu đồng/lượng.

Vàng trở thành kênh đầu tư hấp dẫn

Thị trường vàng đang trở lại là kênh trú ẩn an toàn, thu hút nhà đầu tư trong thời gian gần đây, trong bối cảnh thị trường chứng khoán và lợi tức trái phiếu kho bạc Mỹ giảm. Theo các nhà phân tích, có hai động lực chính đang hỗ trợ giá vàng tăng cao hơn. Một là nguy cơ lây lan từ vụ sụp đổ của SVB (Silicon Valley Bank) và SB (Signature Bank), hai là câu hỏi liệu Cục Dự trữ liên bang Mỹ (FED) có tiếp tục thắt chặt tiền tệ mạnh mẽ như họ đã dự kiến hay không. Các nhà phân tích đang đánh giá lại kỳ vọng tăng lãi suất trước cuộc họp của FED vào ngày 22/3.

Theo nhận định của ông Phillip Streible - Chiến lược gia của Blue Line Futures: “FED đã tăng lãi suất quá nhanh, đến mức chúng tôi cho rằng mọi thứ đang bắt đầu rạn nứt. Giờ đây, họ phải suy nghĩ lại về lập trường của mình”.

Những mối lo ngại trên thị trường hiện nay cũng khiến giới đầu tư liên tưởng đến cuộc khủng hoảng tài chính năm 2008. Khi đó, vàng đã tăng giá vào giữa năm và sau đó thị trường bị ảnh hưởng bởi một đợt điều chỉnh lớn. Sau khi FED bắt đầu giảm lãi suất, thị trường vàng tiếp tục tăng giá và đạt mức cao kỷ lục vào năm 2009.

Tuy nhiên, không phải các ý kiến không hoàn toàn lạc quan về vàng. Một số chuyên gia cho rằng, động thái tăng giá hiện tại của kim loại quý này chỉ là ngắn hạn và đà tăng của nó sẽ mất đi khi nhu cầu trú ẩn an toàn ngưng lại. Bên cạnh đó, khả năng FED tăng lãi suất lên 50 điểm cơ bản đã giảm nhưng vẫn còn cao. Nếu các báo cáo được công bố trong tuần này cho thấy lạm phát vẫn tăng cao, sẽ tạo ra rủi ro cho kim loại quý.

“Đồng USD đang bị bán mạnh và điều này củng cố vị thế vàng như một nơi trú ẩn an toàn. Nhưng một khi chúng ta vượt qua câu chuyện này, thì có dẫn đến lạm phát cao hơn không? Câu trả lời là có. FED vẫn phải tiếp tục tăng lãi suất, và điều đó có thể ảnh hưởng tiêu cực đến vàng” - Phó Chủ tịch Sean Lusk của Walsh Trading nhận định và cảnh báo rằng, sự sụp đổ của SVB có thể giúp vàng tăng giá trong ngắn hạn, nhưng có thể lại là một động lực tiêu cực trong dài hạn.

Tổng thống Mỹ khẳng định hệ thống ngân hàng Mỹ an toàn

Ngay sau khi xảy ra sự việc của các ngân hàng, Tổng thống Mỹ Joe Biden đã có bài phát biểu để trấn an thị trường. Một mặt ông yêu cầu Quốc hội Mỹ củng cố quy định về ngân hàng, mặt khác ông Biden khẳng định, hệ thống ngân hàng Mỹ vẫn “an toàn”. Người dân Mỹ và các doanh nghiệp Mỹ có thể tin tưởng rằng tiền gửi ngân hàng của họ sẽ vẫn ở đó khi họ cần.

Giới chức Mỹ hiện đã công bố hàng loạt biện pháp để vực dậy niềm tin của nhà đầu tư. Theo đó, toàn bộ tiền gửi tại SVB và Signature Bank sẽ được bảo đảm, kể cả các khoản không được bảo hiểm theo quy định của Cơ quan tiền gửi Liên bang - FDIC (lớn hơn 250.000 USD).

Hoàng Yến

Đọc thêm

Tỷ giá USD hôm nay (30/4): Tỷ giá đi ngang dịp nghỉ lễ, Fed giữ nguyên lãi suất lần thứ 3 liên tiếp

Tỷ giá USD hôm nay (30/4): Tỷ giá đi ngang dịp nghỉ lễ, Fed giữ nguyên lãi suất lần thứ 3 liên tiếp

(TBTCO) - Sáng ngày 30/4, tỷ giá trung tâm niêm yết ở mức 25.113 đồng, giữ nguyên phiên trước do đang kỳ nghỉ lễ. Trong khi USD thị trường tự do neo quanh 26.750 - 26.800 đồng. Trên thị trường quốc tế, DXY giảm nhẹ còn 98,84 điểm sau nhịp tăng trước đó, trong bối cảnh Fed tiếp tục giữ nguyên lãi suất 3,5 - 3,75% trong cuộc họp thứ 3 liên tiếp, khi rủi ro địa chính trị và áp lực lạm phát vẫn hiện hữu trên thị trường toàn cầu.
SACOMBANK lãi hơn 2.100 tỷ đồng quý I/2026, tăng mạnh chi phí dự phòng gấp 10 lần

SACOMBANK lãi hơn 2.100 tỷ đồng quý I/2026, tăng mạnh chi phí dự phòng gấp 10 lần

(TBTCO) - SACOMBANK ghi nhận lợi nhuận trước thuế quý I/2026 đạt 2.106,2 tỷ đồng, suy giảm so với cùng kỳ, chủ yếu do thu nhập lãi thuần chịu áp lực từ lãi suất và chi phí dự phòng tăng gấp 10 lần khi ngân hàng tiếp tục ưu tiên xử lý rủi ro và nâng cao chất lượng tài sản. Dù vậy, các mảng ngoài lãi vẫn tăng trưởng 60,3% và chi phí hoạt động được kiểm soát.
MSB giữ đà tăng trưởng lãi thuần, báo lãi gần 1.900 tỷ đồng quý I/2026

MSB giữ đà tăng trưởng lãi thuần, báo lãi gần 1.900 tỷ đồng quý I/2026

(TBTCO) - MSB ghi nhận lợi nhuận trước thuế quý I/2026 đạt 1.890,4 tỷ đồng, tăng 15,9% so với cùng kỳ, hoàn thành 23,6% kế hoạch năm. Kết quả được dẫn dắt bởi thu nhập lãi thuần tăng mạnh 27,7%, trong khi chi phí được kiểm soát tốt và ngân hàng chủ động tăng dự phòng, qua đó, duy trì đà tăng trưởng ổn định trong bối cảnh thị trường còn nhiều biến động.
Biến động địa chính trị nâng đỡ giá vàng, song thị trường "rung lắc" vì nhà đầu tư lớn bán ra

Biến động địa chính trị nâng đỡ giá vàng, song thị trường "rung lắc" vì nhà đầu tư lớn bán ra

Báo cáo WGC cho thấy rủi ro địa chính trị leo thang tiếp tục thúc đẩy nhu cầu đầu tư vàng, nhưng môi trường lãi suất cao kéo dài có thể tạo ra lực cản. Diễn biến đáng chú ý khi các quỹ ETF nắm giữ tăng thêm 62 tấn, song các quỹ từ Mỹ lại rút ra đáng kể trong tháng 3/2026; còn các ngân hàng trung ương mua ròng 244 tấn, dù một số tổ chức tăng cường bán ra.
HDBank đạt 6.107 tỷ đồng lợi nhuận quý I/2026, hiệu quả sinh lời cao trên nền vốn mạnh

HDBank đạt 6.107 tỷ đồng lợi nhuận quý I/2026, hiệu quả sinh lời cao trên nền vốn mạnh

(TBTCO) - Ngân hàng TMCP Phát triển TP. Hồ Chí Minh (HDBank; mã Ck: HDB) vừa công bố kết quả kinh doanh quý I/2026 với 6.107 tỷ đồng lợi nhuận, ROE đạt 24,29% và CAR đạt 16,16%, tiếp tục ghi nhận hiệu quả ở nhóm đầu ngành trên nền tảng vốn mạnh và quản trị chặt chẽ.
"Đại tu" Thông tư số 22/2019/TT-NHNN, nâng chuẩn quản trị rủi ro và tỷ lệ bảo đảm an toàn cho ngân hàng

"Đại tu" Thông tư số 22/2019/TT-NHNN, nâng chuẩn quản trị rủi ro và tỷ lệ bảo đảm an toàn cho ngân hàng

Ngân hàng Nhà nước đang lấy ý kiến dự thảo Thông tư thay thế Thông tư số 22/2019/TT-NHNN, với nhiều thay đổi lớn trong khung an toàn hệ thống. Điểm đáng chú ý là chuyển tỷ lệ từ LDR sang CDR, đồng thời điều chỉnh cách tính huy động vốn khi loại trừ 80% tiền gửi có kỳ hạn của Kho bạc Nhà nước. Dự thảo cũng bổ sung các tỷ lệ theo Basel III như: LEV, LCR, NSFR và tăng quyền giám sát rủi ro của cơ quan thanh tra.
MB duy trì đà tăng trưởng ổn định, củng cố nền tảng tài chính trong quý I/2026

MB duy trì đà tăng trưởng ổn định, củng cố nền tảng tài chính trong quý I/2026

(TBTCO) - Ngày 28/04/2026, Ngân hàng TMCP Quân đội (MB) công bố Báo cáo tài chính Quý I/2026, ghi nhận kết quả kinh doanh tích cực ngay từ đầu năm, tiếp tục duy trì đà tăng trưởng ổn định và củng cố nền tảng tài chính trong bối cảnh thị trường còn nhiều biến động.
PGBank lãi quý I/2026 tăng gấp 3 lần nhờ thu nhập ngoài lãi bứt phá, dự phòng giảm sâu

PGBank lãi quý I/2026 tăng gấp 3 lần nhờ thu nhập ngoài lãi bứt phá, dự phòng giảm sâu

(TBTCO) - PGBank ghi nhận lợi nhuận trước thuế quý I/2026 đạt 275,7 tỷ đồng, gấp gần 3 lần cùng kỳ, hoàn thành gần 20% kế hoạch năm. Động lực tăng trưởng đến từ bứt phá của thu nhập ngoài lãi, cùng với việc giảm mạnh chi phí dự phòng.
Xem thêm

Mới nhất Đọc nhiều

DOJI Giá mua Giá bán
SJC -Bán Lẻ 16,300 16,600
Kim TT/AVPL 16,300 16,600
NHẪN TRÒN 9999 HƯNG THỊNH VƯỢNG 16,300 ▲50K 16,600 ▲50K
Nguyên Liệu 99.99 15,200 ▲50K 15,400 ▲50K
Nguyên Liệu 99.9 15,150 ▲50K 15,350 ▲50K
NỮ TRANG 9999 - BÁN LẺ 16,050 ▲50K 16,450 ▲50K
NỮ TRANG 999 - BÁN LẺ 16,000 ▲50K 16,400 ▲50K
Nữ trang 99 - Bán Lẻ 15,930 ▲50K 16,380 ▲50K
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 162,600 165,600
Hà Nội - PNJ 162,600 165,600
Đà Nẵng - PNJ 162,600 165,600
Miền Tây - PNJ 162,600 165,600
Tây Nguyên - PNJ 162,600 165,600
Đông Nam Bộ - PNJ 162,600 165,600
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 16,300 16,600
Miếng SJC Nghệ An 16,300 16,600
Miếng SJC Thái Bình 16,300 16,600
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 16,250 16,550
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 16,250 16,550
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 16,250 16,550
NL 99.90 15,050
NL 99.99, Nhẫn Tròn Thái Bình 15,100
Trang sức 99.9 15,740 16,440
Trang sức 99.99 15,750 16,450
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 163 166
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 163 16,602
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 163 16,603
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,625 1,655
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,625 1,656
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,605 164
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 155,876 162,376
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 114,262 123,162
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 102,781 111,681
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 913 1,002
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 86,872 95,772
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 59,645 68,545
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 163 166
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 163 166
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 163 166
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 163 166
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 163 166
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 163 166
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 163 166
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 163 166
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 163 166
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 163 166
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 163 166
Cập nhật: 01/05/2026 17:30
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 18311 18587 19160
CAD 18713 18991 19608
CHF 32699 33083 33723
CNY 0 3815 3907
EUR 30195 30469 31497
GBP 34780 35173 36105
HKD 0 3232 3434
JPY 158 162 168
KRW 0 16 18
NZD 0 15113 15701
SGD 20082 20365 20889
THB 721 785 839
USD (1,2) 26088 0 0
USD (5,10,20) 26130 0 0
USD (50,100) 26158 26178 26368
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,148 26,148 26,368
USD(1-2-5) 25,103 - -
USD(10-20) 25,103 - -
EUR 30,378 30,402 31,658
JPY 160.9 161.19 169.87
GBP 35,021 35,116 36,099
AUD 18,560 18,627 19,210
CAD 18,937 18,998 19,577
CHF 33,044 33,147 33,924
SGD 20,251 20,314 20,986
CNY - 3,792 3,913
HKD 3,303 3,313 3,431
KRW 16.47 17.18 18.58
THB 772.09 781.63 832.47
NZD 15,144 15,285 15,643
SEK - 2,796 2,877
DKK - 4,065 4,182
NOK - 2,782 2,863
LAK - 0.92 1.27
MYR 6,248.16 - 7,008.59
TWD 755.21 - 909.26
SAR - 6,924.46 7,248.45
KWD - 83,880 88,698
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,118 26,148 26,368
EUR 30,275 30,397 31,579
GBP 34,975 35,115 36,125
HKD 3,293 3,306 3,421
CHF 32,777 32,909 33,839
JPY 161.14 161.79 169.07
AUD 18,553 18,628 19,223
SGD 20,271 20,352 20,934
THB 789 792 827
CAD 18,894 18,970 19,545
NZD 15,243 15,776
KRW 17.11 18.80
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26228 26228 26368
AUD 18490 18590 19515
CAD 18894 18994 20008
CHF 32941 32971 34549
CNY 3795.3 3820.3 3955.5
CZK 0 1220 0
DKK 0 4140 0
EUR 30368 30398 32123
GBP 35079 35129 36887
HKD 0 3355 0
JPY 161.33 161.83 172.37
KHR 0 6.097 0
KRW 0 17.4 0
LAK 0 1.165 0
MYR 0 6840 0
NOK 0 2772 0
NZD 0 15219 0
PHP 0 400 0
SEK 0 2840 0
SGD 20236 20366 21095
THB 0 750.8 0
TWD 0 820 0
SJC 9999 16300000 16300000 16600000
SBJ 15000000 15000000 16600000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,177 26,227 26,368
USD20 26,177 26,227 26,368
USD1 26,177 26,227 26,368
AUD 18,551 18,651 19,760
EUR 30,521 30,521 31,932
CAD 18,850 18,950 20,255
SGD 20,317 20,467 21,033
JPY 161.88 163.38 167.96
GBP 34,961 35,311 36,186
XAU 16,298,000 16,298,000 16,602,000
CNY 0 3,705 0
THB 0 786 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 01/05/2026 17:30
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80