VDB hành trình 20 năm khẳng định vai trò định chế tài chính của Nhà nước trong phát triển kinh tế

Văn Tuấn
(TBTCO) - Sau 20 năm phát triển, Ngân hàng Phát triển Việt Nam đã từng bước khẳng định vị thế là công cụ tài chính hiệu quả của Chính phủ trong việc thực hiện chính sách tín dụng đầu tư của Nhà nước, cho vay lại vốn ODA của Chính phủ góp phần quan trọng vào tăng trưởng kinh tế, chuyển dịch cơ cấu và phát triển bền vững.
aa

Ngày 28/4/2026 - Ngân hàng Phát triển Việt Nam (VDB) đã tổ chức thành công Hội thảo toàn ngành với chủ đề “Hành trình 20 năm cùng phát triển”, đánh dấu chặng đường hai thập kỷ hình thành, xây dựng và khẳng định vai trò là một định chế tài chính chính sách quan trọng của Chính phủ.

Phát biểu khai mạc Hội thảo, lãnh đạo VDB khẳng định, trong suốt 20 năm qua, VDB đã phát huy hiệu quả vai trò là công cụ điều tiết và dẫn dắt dòng vốn đầu tư vào các lĩnh vực ưu tiên, góp phần tạo lập nguồn lực cho nền kinh tế và thúc đẩy phát triển thị trường vốn, đặc biệt là thị trường vốn trung và dài hạn.

Dấu ấn nổi bật qua các thời kỳ, lĩnh vực trọng tâm

Tại Hội thảo, các báo cáo và tham luận đã làm rõ những kết quả nổi bật mà VDB đạt được trong 20 năm qua, thể hiện tập trung trên các lĩnh vực trọng tâm như: Đầu tư các dự án trọng điểm quốc gia - nền tảng cho tăng trưởng; triển khai các chương trình mục tiêu quốc gia - hỗ trợ doanh nghiệp và thúc đẩy xuất khẩu; phát triển vùng miền gắn với an sinh xã hội; đóng góp vào nhiệm vụ an ninh - quốc phòng…

VDB hành trình 20 năm khẳng định vai trò định chế tài chính của Nhà nước trong phát triển kinh tế
Tổng giám đốc VDB Đào Quang Trường phát biểu tại hội thảo. Ảnh: Đức Minh

Trong 20 năm qua, nguồn vốn tín dụng đầu tư của VDB đã đảm bảo sự thành công của hàng trăm dự án qui mô lớn, đặc biệt là các dự án trọng điểm, có ý nghĩa chiến lược đối với quốc gia. Nguồn vốn tín dụng đầu tư của VDB đã góp phần hiện thực hóa nhiều công trình trọng điểm như các nhà máy thủy điện, nhiệt điện, các dự án công nghiệp nặng, công nghiệp chế biến, hạ tầng giao thông, viễn thông và năng lượng: dự án Thuỷ điện Sơn La, Thuỷ điện Lai Châu, Nhà máy Lọc dầu Dung Quất, Nhà máy đạm Ninh Bình, Vệ tinh Vinasat 1 và 2, Nhà máy điện gió Bạc Liêu, Hệ thống truyền tải điện miền Trung, miền Nam… Các dự án trọng điểm này đã góp phần nâng cao năng lực sản xuất, phát triển hệ thống kết cấu hạ tầng và tạo nền tảng cho quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, đồng thời nâng cao năng lực tự chủ của nền kinh tế.

Bên cạnh đó, VDB vừa là nhà tài trợ vốn vừa trực tiếp là nhà đầu tư xây dựng, quản lý, vận hành dự án Đường ô tô cao tốc Hà Nội - Hải Phòng, đây là một trong những con đường có tiêu chuẩn cao nhất của Việt Nam, góp phần mang lại hiệu quả kinh tế xã hội, kết nối với các tuyến đường bộ khác tạo thành hệ thống giao thông đồng bộ hiện đại thúc đẩy giao thương, du lịch, dịch vụ và sản xuất vùng tam giác kinh tế trọng điểm Hà Nội - Hải Phòng - Quảng Ninh.

VDB đã thực hiện hiệu quả vai trò là công cụ tài chính của Chính phủ trong việc triển khai các chương trình mục tiêu lớn của quốc gia, đặc biệt là trong lĩnh vực tín dụng xuất khẩu và hỗ trợ các doanh nghiệp.

Trong lĩnh vực tín dụng xuất khẩu, VDB đã cung cấp nguồn vốn đáng kể để thúc đẩy xuất khẩu các mặt hàng chủ lực như nông, lâm, thủy sản, đồng thời mở rộng sang các mặt hàng công nghiệp, không chỉ góp phần nâng cao kim ngạch xuất khẩu, cải thiện cán cân thương mại và tăng trưởng kinh tế mà còn có tác động quan trọng trong việc hình thành, phát triển các vùng nguyên liệu chính ở các khu vực kinh tế trọng điểm.

Bên cạnh đó, VDB đã thực hiện hoạt động bảo lãnh tín dụng cho doanh nghiệp, đặc biệt là doanh nghiệp nhỏ và vừa, giúp các doanh nghiệp tiếp cận nguồn vốn từ hệ thống ngân hàng thương mại, nâng cao năng lực sản xuất kinh doanh và tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị.

Tiền thân của VDB là Tổng Cục Đầu tư phát triển và tiếp sau đó là Quỹ Hỗ trợ phát triển. Việc thành lập VDB vào năm 2006 là bước đi tất yếu, phù hợp với yêu cầu thực tiễn phát triển, đã tạo ra một bước ngoặt quan trọng trong việc chuyên nghiệp hóa hoạt động tín dụng đầu tư, hình thành một định chế tài chính hoạt động không vì mục tiêu lợi nhuận đóng vai trò then chốt trong việc thực hiện các mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội của quốc gia.

Một trong những dấu ấn quan trọng của VDB là việc tập trung nguồn lực cho phát triển các vùng kinh tế khó khăn, vùng sâu, vùng xa, gắn với mục tiêu bảo đảm an sinh xã hội và phát triển bền vững.

Thông qua các chương trình tín dụng ưu đãi, VDB đã tài trợ cho hàng loạt dự án về cơ sở hạ tầng nông thôn, kiên cố hóa kênh mương, phát triển giao thông nông thôn, xây dựng trường học, bệnh viện, hệ thống cấp nước sạch, nhà ở xã hội… Những dự án này đã góp phần nâng cao chất lượng cuộc sống của người dân, thu hẹp khoảng cách phát triển giữa các vùng miền và thúc đẩy xây dựng nông thôn mới.

Đồng thời, các dự án về y tế, giáo dục và môi trường do VDB tài trợ đã góp phần nâng cao năng lực cung cấp dịch vụ công, cải thiện sức khỏe cộng đồng và bảo vệ môi trường sống, tạo nền tảng cho phát triển bền vững.

Ngoài ra, VDB còn thông qua Bộ Tài chính huy động các nguồn vốn nước ngoài thuộc 07 Chương trình mục tiêu với điều kiện ưu đãi để cho vay lại các chương trình, dự án. Các dự án/chương trình vay vốn VDB theo các chương trình mục tiêu này nhìn chung đã có những đóng góp tích cực cho việc phát triển kinh tế cũng như hạ tầng cơ sở, an sinh xã hội. Một số dự án/chương trình cho vay lại có thể kể đến như: Sử dụng tiết kiệm, hiệu quả năng lượng và phát triển năng lượng tái tạo vốn JICA, Chương trình chống biến đổi khí hậu vốn EIB, Chương trình cấp nước đồng bằng sông Cửu Long vốn AFD…

VDB hành trình 20 năm khẳng định vai trò định chế tài chính của Nhà nước trong phát triển kinh tế
Đại biểu tham gia hội thảo. Ảnh: Đức Minh

Nguồn vốn tài trợ của VDB dành cho một số dự án đầu tư tại các vùng, địa bàn chiến lược: Tây Nguyên, Tây Nam Bộ, Duyên Hải có ý nghĩa quan trọng đối với an ninh - quốc phòng, góp phần xây dựng và củng cố tiềm lực quốc phòng của đất nước. Ví dụ các Dự án nuôi trồng thủy, hải sản ở Tây Nam Bộ, Dự án trồng rừng, trồng cao su, cà phê tại Tây Nguyên thông qua các binh đoàn kinh tế của Bộ Quốc phòng…

Các dự án hạ tầng, giao thông, năng lượng…, do VDB hỗ trợ không chỉ phục vụ phát triển kinh tế mà còn có ý nghĩa chiến lược trong việc bảo đảm an ninh quốc gia, đặc biệt tại các khu vực trọng điểm, vùng biên giới, hải đảo.

Định hướng phát triển trong giai đoạn mới

Trong bối cảnh đất nước bước vào kỷ nguyên phát triển mới với mục tiêu tăng trưởng cao và bền vững, vai trò của các định chế tài chính nhà nước như VDB tiếp tục được khẳng định.

Tại Nghị Quyết 79 - NQ/TW đã nêu cơ cấu lại toàn diện VDB nhằm đa dạng hoá nguồn lực, tăng vốn, tinh gọn, hiệu quả, phát huy sức mạnh Nhà nước trong đầu tư và an sinh xã hội, gắn nhiệm vụ chính sách với phát triển kinh tế - xã hội.

Trong thời gian tới, VDB sẽ tiếp tục thực hiện sứ mệnh cung cấp nguồn lực tài chính dài hạn để kiến tạo các động lực thúc đẩy tăng trưởng, phát triển kinh tế - xã hội đất nước trong giai đoạn từ nay đến năm 2030 và tầm nhìn đến năm 2045, đặc biệt tập trung vào các ngành, lĩnh vực, hạ tầng quan trọng, địa bàn chiến lược, vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào dân tộc thiểu số, công nghiệp nền tảng, chuyển đổi số, chuyển đổi xanh.

Đồng thời, VDB tiếp tục khẳng định vai trò là định chế tài chính của Nhà nước trong việc bảo đảm nguồn vốn cho các dự án mang tính dẫn dắt nền kinh tế, cũng như các dự án nhằm cân đối phát triển vùng miền, gắn với mục tiêu công bằng xã hội./.

Khẳng định nền tảng 20 năm - hướng tới tương lai

Với nền tảng 20 năm xây dựng và phát triển, cùng với sự quan tâm chỉ đạo của Đảng, Chính phủ và các cơ quan quản lý, VDB sẽ tiếp tục đổi mới, nâng cao năng lực hoạt động, đóng góp tích cực vào sự nghiệp phát triển kinh tế - xã hội của đất nước trong giai đoạn mới.

Hội thảo “Hành trình 20 năm cùng phát triển” không chỉ là dịp tổng kết chặng đường đã qua mà còn mở ra những định hướng quan trọng cho tương lai, khẳng định vai trò của VDB trong tiến trình phát triển bền vững của nền kinh tế Việt Nam.

Văn Tuấn

Đọc thêm

Chính sách "mở đường", ngân hàng mở lối tiếp sức doanh nghiệp nhỏ và vừa

Chính sách "mở đường", ngân hàng mở lối tiếp sức doanh nghiệp nhỏ và vừa

(TBTCO) - Doanh nghiệp nhỏ và vừa chiếm số đông, nhưng dư nợ dành cho khu vực này mới chiếm khoảng 20% tín dụng toàn nền kinh tế. Bên cạnh các chính sách mới mở đường, việc gỡ "nút thắt" tài sản bảo đảm, đa dạng hóa giải pháp tín dụng của ngân hàng, doanh nghiệp cần chủ động nâng cao tính minh bạch mở rộng cơ hội tiếp cận vốn.
“Bước lùi chiến thuật” hỗ trợ tăng trưởng

“Bước lùi chiến thuật” hỗ trợ tăng trưởng

(TBTCO) - Việc nâng tỷ lệ vốn ngắn hạn cho vay trung và dài hạn từ 30% lên 40% được xem là “bước lùi chiến thuật”, giúp ngân hàng mở rộng dư địa cấp vốn, hỗ trợ tăng trưởng kinh tế. Đổi lại, rủi ro lệch pha kỳ hạn gia tăng, trong khi không gian phát triển các kênh vốn khác thu hẹp và tiềm ẩn nguy cơ che giấu nợ xấu nếu không được giám sát chặt.
Tổng tài sản SeABank tăng hơn 4,6 lần, đóng góp gần 5.300 tỷ đồng ngân sách trong 5 năm

Tổng tài sản SeABank tăng hơn 4,6 lần, đóng góp gần 5.300 tỷ đồng ngân sách trong 5 năm

(TBTCO) - Trải qua 32 năm phát triển, Ngân hàng TMCP Đông Nam Á (SeABank, HOSE: SSB) từng bước mở rộng quy mô và nâng cao hiệu quả hoạt động, qua đó khẳng định vị thế trong hệ thống ngân hàng Việt Nam. Đáng chú ý, trong giai đoạn 2020 - 2025, tổng nộp ngân sách nhà nước của Ngân hàng đạt gần 5.300 tỷ đồng và quy mô tài sản tăng gấp hơn 4,6 lần, phản ánh rõ nét chiến lược phát triển bền vững gắn với hiệu quả, tuân thủ và đóng góp cho sự phát triển của đất nước.
Cho vay trung, dài hạn mở thêm dư địa 1 triệu tỷ đồng, lợi thế thuộc về ngân hàng nào?

Cho vay trung, dài hạn mở thêm dư địa 1 triệu tỷ đồng, lợi thế thuộc về ngân hàng nào?

Việc nâng tỷ lệ tối đa sử dụng vốn ngắn hạn cho vay trung, dài hạn từ 30% lên 40% được kỳ vọng mở thêm khoảng 1 triệu tỷ đồng dư địa tín dụng cho nền kinh tế. VCBS dự báo dư nợ cho vay trung và dài hạn có thể tăng khoảng 23% kể từ đầu năm, nâng tỷ trọng lên 48 - 49%. Tuy nhiên, mức độ hưởng lợi sẽ phân hóa giữa các nhóm ngân hàng.
Nới trần vốn ngắn hạn, mở rộng dư địa cho vay trung và dài hạn

Nới trần vốn ngắn hạn, mở rộng dư địa cho vay trung và dài hạn

(TBTCO) - Thông tư 25/2026/TT-NHNN của Ngân hàng Nhà nước được kỳ vọng giúp giảm áp lực huy động vốn, mở rộng dư địa cho vay trung và dài hạn, qua đó tăng khả năng cung ứng tín dụng cho các dự án hạ tầng, đầu tư quy mô lớn và hỗ trợ thanh khoản hệ thống.
Prudential Việt Nam tiên phong nâng chuẩn đội ngũ tư vấn viên, góp phần xây dựng niềm tin bền vững ngành bảo hiểm

Prudential Việt Nam tiên phong nâng chuẩn đội ngũ tư vấn viên, góp phần xây dựng niềm tin bền vững ngành bảo hiểm

(TBTCO) - Công ty TNHH Bảo hiểm Nhân thọ Prudential Việt Nam (Prudential) chính thức triển khai chiến dịch Be The One - Start As One | Khởi đầu từ vị thế Tiên phong, chương trình tuyển dụng và phát triển thế hệ tư vấn viên mới, nhằm góp phần nâng cao chuẩn mực nghề tư vấn viên tài chính và hướng đến trải nghiệm khách hàng toàn diện hơn.
BVBank trước thềm niêm yết HOSE: Lợi nhuận bứt phá, nợ xấu còn "nặng gánh"

BVBank trước thềm niêm yết HOSE: Lợi nhuận bứt phá, nợ xấu còn "nặng gánh"

(TBTCO) - HOSE vừa chấp thuận niêm yết hơn 640,8 triệu cổ phiếu BVB của ngân hàng BVBank, mở đường cho kế hoạch chuyển sàn từ UPCoM sang HOSE sau nhiều năm chuẩn bị. Trong bối cảnh đó, BVBank ghi nhận lợi nhuận quý I/2026 tăng 168,8%, nhưng áp lực chất lượng tài sản vẫn hiện hữu khi quy mô nợ xấu gia tăng và nợ có khả năng mất vốn chiếm tỷ trọng cao.
Thông báo về việc khai trương hoạt động Chi nhánh Sở giao dịch 2 trực thuộc Ngân hàng TNHH MTV Việt Nam Hiện Đại

Thông báo về việc khai trương hoạt động Chi nhánh Sở giao dịch 2 trực thuộc Ngân hàng TNHH MTV Việt Nam Hiện Đại

(TBTCO) - Ngân hàng TNHH MTV Việt Nam Hiện Đại (MBV) trân trọng thông báo về việc đặt trụ sở và chính thức khai trương hoạt động Chi nhánh Sở giao dịch 2.
Xem thêm
DOJI Giá mua Giá bán
SJC -Bán Lẻ 14,400 14,700
Kim TT/AVPL 14,400 14,700
NHẪN TRÒN 9999 HƯNG THỊNH VƯỢNG 14,400 14,700
Nguyên Liệu 99.99 13,300 13,500
Nguyên Liệu 99.9 13,250 13,450
NỮ TRANG 9999 - BÁN LẺ 13,900 14,400
NỮ TRANG 999 - BÁN LẺ 13,850 14,350
Nữ trang 99 - Bán Lẻ 13,780 14,330
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 144,000 147,000
Hà Nội - PNJ 144,000 147,000
Đà Nẵng - PNJ 144,000 147,000
Miền Tây - PNJ 144,000 147,000
Tây Nguyên - PNJ 144,000 147,000
Đông Nam Bộ - PNJ 144,000 147,000
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 14,400 14,700
Miếng SJC Nghệ An 14,400 14,700
Miếng SJC Thái Bình 14,400 14,700
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 14,250 14,600
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 14,250 14,600
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 14,250 14,600
NL 99.90 12,950
NL 99.99, Nhẫn Tròn Thái Bình 13,000
Trang sức 99.9 13,790 14,490
Trang sức 99.99 13,800 14,500
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 144 147
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 144 14,702
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 144 14,703
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,439 1,469
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,439 147
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,419 1,454
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 13,696 14,396
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 99,711 109,211
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 89,532 99,032
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 79,353 88,853
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 75,427 84,927
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 51,288 60,788
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 144 147
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 144 147
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 144 147
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 144 147
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 144 147
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 144 147
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 144 147
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 144 147
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 144 147
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 144 147
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 144 147
Cập nhật: 25/06/2026 07:30
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17607 17880 18459
CAD 17978 18253 18872
CHF 31759 32140 32780
CNY 0 3825 3918
EUR 29232 29452 30533
GBP 33837 34226 35174
HKD 0 3227 3430
JPY 156 160 166
KRW 0 16 18
NZD 0 14526 15114
SGD 19731 20013 20589
THB 703 766 820
USD (1,2) 26066 0 0
USD (5,10,20) 26107 0 0
USD (50,100) 26136 26150 26451
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,131 26,131 26,451
USD(1-2-5) 25,086 - -
USD(10-20) 25,086 - -
EUR 29,452 29,476 30,808
JPY 158.58 158.87 168.06
GBP 34,153 34,245 35,343
AUD 17,873 17,938 18,573
CAD 18,188 18,246 18,871
CHF 32,095 32,195 33,058
SGD 19,898 19,960 20,698
CNY - 3,800 3,936
HKD 3,293 3,303 3,434
KRW 15.73 16.4 17.8
THB 752.94 762.24 813.9
NZD 14,582 14,717 15,114
SEK - 2,658 2,745
DKK - 3,940 4,069
NOK - 2,639 2,726
LAK - 0.91 1.27
MYR 5,948.8 - 6,699.53
TWD 749.79 - 906.17
SAR - 6,902.31 7,252.78
KWD - 83,298 88,418
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,111 26,131 26,451
EUR 29,387 29,505 30,684
GBP 34,121 34,258 35,268
HKD 3,289 3,302 3,418
CHF 31,944 32,072 32,985
JPY 158.76 159.40 167.20
AUD 17,866 17,938 18,524
SGD 19,946 20,026 20,602
THB 771 774 809
CAD 18,191 18,264 18,824
NZD 14,667 15,197
KRW 16.42 18.05
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26135 26135 26451
AUD 17793 17893 18815
CAD 18151 18251 19262
CHF 32025 32055 33633
CNY 3806.4 3831.4 3966.6
CZK 0 1190 0
DKK 0 4025 0
EUR 29432 29462 31184
GBP 34198 34248 36016
HKD 0 3355 0
JPY 159.28 159.78 170.32
KHR 0 6.097 0
KRW 0 16.9 0
LAK 0 1.165 0
MYR 0 6600 0
NOK 0 2710 0
NZD 0 14649 0
PHP 0 395 0
SEK 0 2735 0
SGD 19897 20027 20755
THB 0 732.4 0
TWD 0 820 0
SJC 9999 14400000 14400000 14700000
SBJ 13000000 13000000 14700000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,161 26,101 26,451
USD20 26,161 26,101 26,451
USD1 26,161 26,101 26,451
AUD 17,855 17,955 19,068
EUR 29,588 29,588 30,997
CAD 18,103 18,203 19,509
SGD 19,986 20,136 20,699
JPY 159.78 161.28 165.85
GBP 34,123 34,473 35,345
XAU 14,398,000 0 14,702,000
CNY 0 3,719 0
THB 0 768 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 25/06/2026 07:30
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80