Vì sao giá vàng liên tục “lao dốc”, nhà đầu tư nên làm gì?

(TBTCO) - Chỉ chưa đầy một tuần, vàng miếng SJC đã giảm hơn 6 triệu đồng/lượng, vàng nhẫn cũng lao dốc tới hơn 7 triệu đồng/lượng. Trên thị trường quốc tế, giá vàng thế giới cũng giảm mạnh lùi về dưới mốc 2.600 USD/ounce, giảm khoảng 200 USD/ounce so với vùng đỉnh.
aa
Giá vàng thế giới mất mốc 2.600 USD/Ounce, trong nước về sát 80 triệu đồng/lượng Giá vàng hôm nay (13/11): Tiếp tục “rơi”, giảm xuống mức thấp nhất gần hai tháng Giá vàng hôm nay (14/11): Vàng thế giới "rơi" phiên thứ tư liên tiếp
Phóng viên TBTCVN đã có cuộc trao đổi với chuyên gia vàng Trần Duy Phương, phân tích những yếu tố đang tác động tới giá vàng.

* PV: Thưa ông, chỉ trong những ngày gần đây giá vàng thế giới và trong nước đã liên tục “lao dốc”, ông có thể nhận định nguyên nhân vì sao?

Ông Trần Duy Phương: Giá vàng thế giới liên tục suy giảm trong vòng một tuần gần đây, khoảng 200 USD/ounce. Tính từ mốc hơn 2.780 USD/ounce vào tuần trước, đến hiện tại là 2.576,05 USD/ounce.

Nguyên nhân trực tiếp khiến giá vàng thế giới hạ chính là đồng USD tăng giá, tâm lý lạc quan về triển vọng kinh tế Mỹ dưới thời kỳ chính quyền của ông Donald Trump nhiệm kỳ 2, đồng thời tâm lý thị trường thay đổi sau cuộc bầu cử Tổng thống Mỹ ngày 5/11.

Người Việt hay chịu ảnh hưởng bởi yếu tố tâm lý đám đông nên khi giá vàng tăng mạnh người dân đổ xô xếp hàng mua vàng, khi giá xuống sâu lại chen chân xếp hàng để bán, do đó hay rơi vào tình trạng mua “đỉnh” bán “đáy”
Vì sao giá vàng liên tục “lao dốc”, nhà đầu tư nên làm gì?
Ông Trần Duy Phương

Có nhiều nguyên nhân khiến nhà đầu tư bán vàng trong thời điểm hiện tại. Trong đó có một phần do việc bầu cử Tổng thống Mỹ.

Trước đây, vàng thường tăng vào những năm có bầu cử Tổng thống Mỹ. Khi bầu cử đã có kết quả, vàng sẽ suy giảm trở lại. Giới đầu tư cho rằng khi ông Donald Trump quay lại Nhà Trắng, tình hình căng thẳng ở Trung Đông sẽ lắng dịu trở lại, góp phần làm giá vàng bớt đi tính phòng thủ rủi ro.

Tôi cho rằng giá vàng thế giới còn khả năng suy giảm thêm 70-80 USD nữa, về khoảng 2.550 USD/ounce, thì mới kết thúc việc điều chỉnh này. Đến năm 2025, nhiều khả năng vàng sẽ tiếp tục tỏa sáng. Giá vàng có thể tăng trở lại lên mốc 2.800 USD, 2.900 USD/ounce trong năm nay, nhưng để chạm tới mốc 3.000 USD/ounce là rất khó.

* PV: Khi giá vàng tăng mạnh người dân đổ xô xếp hàng mua vàng, khi giá xuống sâu lại chen chân xếp hàng để bán. Vậy khi trong bối cảnh hiện tại nhà đầu tư nên làm gì?

Ông Trần Duy Phương: Người Việt hay chịu ảnh hưởng bởi yếu tố tâm lý đám đông nên khi giá vàng tăng mạnh người dân đổ xô xếp hàng mua vàng, khi giá xuống sâu lại chen chân xếp hàng để bán do đó hay rơi vào tình trạng mua “đỉnh” bán “đáy”.

Chắc chắn giá vàng trong nước không thể nằm ngoài tác động từ lực giảm của giá vàng thế giới. Cụ thể, giá vàng trong nước có đợt suy giảm khá sâu, trong ít ngày nhưng 2 thương hiệu là vàng miếng SJC và vàng nhẫn 9999 của các doanh nghiệp mất đi 7-10 triệu đồng/lượng (bán ra - mua vào).

Vì sao giá vàng liên tục “lao dốc”, nhà đầu tư nên làm gì?
Giá vàng thế giới và trong nước liên tục "lao đốc". Ảnh: T.L

Trong thời điểm giá vàng trong nước đang suy giảm khá mạnh, quy đổi giá vàng trong nước và thế giới đang ngang bằng nhau. Đây cũng là cơ hội tốt cho những nhà đầu tư muốn mua tích trữ hay đầu tư cũng khá tốt. Chúng ta cũng nên chia tiền và mua dần chứ không nên đổ xô mua hết một lần.

Với người muốn bán vàng thì cũng nên cân nhắc. Trong những ngày gần đây, tôi thấy rằng người dân đến bán vàng rất nhiều. Người mua không dám đầu tư trong thời điểm này vì dự đoán giá vàng sẽ còn giảm. Tôi cho rằng nhà đầu tư nên cân nhắc. Nếu chúng ta cần tiền và trước đây mua được ở giá khoảng 60 - 70 triệu đồng/lượng thì có thể bán chốt lời; còn nếu chưa cần thiết lắm thì nên chờ thời điểm thích hợp khi giá vàng hồi phục trở lại.

* PV: Để ổn định thị trường vàng, thời gian qua Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN) đã sử dụng nhiều biện pháp mạnh để giảm chênh lệch giá vàng trong nước và thế giới, ông đánh giá như thế nào về hiệu quả của những giải pháp này và ông có đề xuất kiến nghị gì để việc quản lý thị trường vàng trở nên hiệu quả hơn?

Ông Trần Duy Phương: Tôi cho rằng thời gian qua, NHNN đã thành công trong việc quản lý thị trường vàng, nhất là vàng miếng SJC. Nếu không có NHNN can thiệp kịp thời từ tháng 4/2024 thì có thể vàng miếng SJC đã lên đến 120 triệu đồng/lượng. Sau khi có sự can thiệp của NHNN theo yêu cầu của Chính phủ, rõ ràng mức chênh lệch không còn cao như giai đoạn lập đỉnh từ 18-20 triệu đồng/lượng giữa giá vàng Việt Nam và thế giới, bây giờ chỉ chênh lệch khoảng 3-5 triệu, mức này hợp lý và tôi thấy phù hợp.

Mong muốn của các doanh nghiệp vàng hiện nay là NHNN chỉ mới bình ổn vàng miếng SJC, còn một loại rất phổ biến là vàng nguyên liệu để các tiệm vàng sản xuất nữ trang, vàng nhẫn… thì NHNN lại chưa có cơ chế chính sách rõ ràng.

Doanh nghiệp vàng chỉ có thể tìm vàng nguyên liệu từ những khách hàng mua đi bán lại. Do đó, rất mong NHNN xây dựng lộ trình để doanh nghiệp vàng có thể mua được vàng nguyên liệu từ NHNN hoặc từ doanh nghiệp được chỉ định, để có thể tự tin sản xuất nữ trang, trang sức… đáp ứng nhu cầu trong nước./.

* PV: Xin cảm ơn ông!

Tại thời điểm 06:19:48 ngày 14/11/2024 (theo Kitco), giá vàng giao ngay dừng tại mốc 2.576,05 USD/Ounce, 35,2 USD/Ounce, tương đương với mốc giảm 1,35% trong 24 giờ qua. Quy đổi theo tỷ giá hiện hành tại Vietcombank, giá vàng thế giới tương đương khoảng 78,204 triệu đồng/lượng (chưa tính thuế, phí). Quy đổi theo tỷ giá USD, trên thị trường tự do (25.538 VND/USD), vàng thế giới có giá khoảng 79,3 triệu đồng/lượng (chưa tính thuế, phí).
Hồng Quyên (thực hiện)

Đọc thêm

Giá vàng hôm nay ngày 23/5: Giá vàng thế giới và trong nước đồng loạt giảm

Giá vàng hôm nay ngày 23/5: Giá vàng thế giới và trong nước đồng loạt giảm

(TBTCO) - Giá vàng thế giới giảm xuống quanh mức 4.508,5 USD/ounce. Bên cạnh đó, giá vàng miếng và vàng nhẫn trong nước cũng đồng loạt lùi về vùng 159 - 162 triệu đồng/lượng.
Thị trường tiền tệ tuần 18 - 22/5: Bơm ròng 8.000 tỷ đồng, lãi suất liên ngân hàng dự báo duy trì vùng cân bằng 6%

Thị trường tiền tệ tuần 18 - 22/5: Bơm ròng 8.000 tỷ đồng, lãi suất liên ngân hàng dự báo duy trì vùng cân bằng 6%

(TBTCO) - Diễn biến nổi bật trên thị trường tiền tệ tuần qua từ ngày 18 - 22/5 cho thấy, Ngân hàng Nhà nước bơm ròng khoảng 8.000 tỷ đồng qua kênh OMO trong bối cảnh lãi suất liên ngân hàng duy trì quanh vùng 6% - mức được xem là đủ để hỗ trợ tỷ giá nhưng chưa tạo áp lực lớn lên lãi suất huy động. Trong khi đó, tỷ giá trung tâm tăng chậm lại, song áp lực từ đồng USD quốc tế neo cao vẫn hiện hữu.
Giá vàng hôm nay ngày 22/5: Giá vàng trong nước tăng tới 900.000 đồng/lượng

Giá vàng hôm nay ngày 22/5: Giá vàng trong nước tăng tới 900.000 đồng/lượng

(TBTCO) - Giá vàng trong nước đảo chiều tăng tại nhiều thương hiệu lớn, với mức điều chỉnh cao nhất lên tới 900.000 đồng/lượng.
Giá vàng hôm nay ngày 21/5: Giá vàng trong nước đồng loạt giảm sâu

Giá vàng hôm nay ngày 21/5: Giá vàng trong nước đồng loạt giảm sâu

(TBTCO) - Giá vàng trong nước đồng loạt giảm mạnh tại nhiều doanh nghiệp lớn, đưa vàng miếng và vàng nhẫn phổ biến lùi về vùng 158,5 - 162 triệu đồng/lượng. Trong khi đó, giá vàng thế giới đảo chiều tăng lên quanh mốc 4.545 USD/ounce.
Giá vàng hôm nay ngày 20/5: Vàng miếng lùi về vùng 163,5 triệu đồng/lượng

Giá vàng hôm nay ngày 20/5: Vàng miếng lùi về vùng 163,5 triệu đồng/lượng

(TBTCO) - Giá vàng trong nước điều chỉnh giảm tại nhiều doanh nghiệp lớn, đưa giá vàng miếng phổ biến lùi về vùng 161 - 163,5 triệu đồng/lượng.
Giá vàng hôm nay ngày 19/5: Giá vàng thế giới đảo chiều tăng

Giá vàng hôm nay ngày 19/5: Giá vàng thế giới đảo chiều tăng

(TBTCO) - Giá vàng thế giới sáng ngày 19/5 đảo chiều tăng trở lại lên quanh mức 4.574 USD/ounce. Bên canh đó, giá vàng trong nước cũng tăng tại nhiều doanh nghiệp lớn.
Bảo Tín Mạnh Hải xác nhận kế hoạch IPO, chờ được cấp phép sản xuất vàng miếng

Bảo Tín Mạnh Hải xác nhận kế hoạch IPO, chờ được cấp phép sản xuất vàng miếng

(TBTCO) - Chiều ngày 18/5, đại diện Công ty Cổ phần Vàng bạc Đá quý Bảo Tín Mạnh Hải xác nhận thông tin về việc lên kế hoạch chào bán cổ phiếu lần đầu ra công chúng (IPO) vào quý IV/2026. Ngoài ra, công ty đã nộp hồ sơ xin cấp phép sản xuất vàng miếng và đã chuẩn bị sẵn sàng sản xuất ngay khi được cấp phép.
Giá vàng hôm nay ngày 18/5: Giá vàng trong nước giữ mốc 160,5 - 163,5 triệu đồng/lượng

Giá vàng hôm nay ngày 18/5: Giá vàng trong nước giữ mốc 160,5 - 163,5 triệu đồng/lượng

(TBTCO) - Giá vàng trong nước tiếp tục đi ngang tại nhiều doanh nghiệp lớn, với vàng miếng phổ biến ở mức 160,5 - 163,5 triệu đồng/lượng.
Xem thêm

Mới nhất Đọc nhiều

DOJI Giá mua Giá bán
SJC -Bán Lẻ 15,850 ▼50K 16,150 ▼50K
Kim TT/AVPL 15,850 ▼50K 16,150 ▼50K
NHẪN TRÒN 9999 HƯNG THỊNH VƯỢNG 15,850 ▼50K 16,150 ▼50K
Nguyên Liệu 99.99 14,850 ▼50K 15,050 ▼50K
Nguyên Liệu 99.9 14,800 ▼50K 15,000 ▼50K
NỮ TRANG 9999 - BÁN LẺ 15,600 ▼50K 16,000 ▼50K
NỮ TRANG 999 - BÁN LẺ 15,550 ▼50K 15,950 ▼50K
Nữ trang 99 - Bán Lẻ 15,480 ▼50K 15,930 ▼50K
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 158,500 ▼500K 161,500 ▼500K
Hà Nội - PNJ 158,500 ▼500K 161,500 ▼500K
Đà Nẵng - PNJ 158,500 ▼500K 161,500 ▼500K
Miền Tây - PNJ 158,500 ▼500K 161,500 ▼500K
Tây Nguyên - PNJ 158,500 ▼500K 161,500 ▼500K
Đông Nam Bộ - PNJ 158,500 ▼500K 161,500 ▼500K
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 15,850 ▼50K 16,150 ▼50K
Miếng SJC Nghệ An 15,850 ▼50K 16,150 ▼50K
Miếng SJC Thái Bình 15,850 ▼50K 16,150 ▼50K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 15,850 ▼50K 16,150 ▼50K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 15,850 ▼50K 16,150 ▼50K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 15,850 ▼50K 16,150 ▼50K
NL 99.90 14,450
NL 99.99, Nhẫn Tròn Thái Bình 14,500
Trang sức 99.9 15,340 ▼50K 16,040 ▼50K
Trang sức 99.99 15,350 ▼50K 16,050 ▼50K
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,585 ▲1426K 1,615 ▲1453K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,585 ▲1426K 16,152 ▼50K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,585 ▲1426K 16,153 ▼50K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 158 ▼1427K 161 ▼1454K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 158 ▼1427K 1,611 ▼5K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 156 ▼1409K 1,595 ▲1435K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 151,421 ▼495K 157,921 ▼495K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 110,887 ▼375K 119,787 ▼375K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 99,721 ▼340K 108,621 ▼340K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 88,555 ▲79669K 97,455 ▲87679K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 84,248 ▼291K 93,148 ▼291K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 57,768 ▼209K 66,668 ▼209K
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,585 ▲1426K 1,615 ▲1453K
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,585 ▲1426K 1,615 ▲1453K
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,585 ▲1426K 1,615 ▲1453K
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,585 ▲1426K 1,615 ▲1453K
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,585 ▲1426K 1,615 ▲1453K
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,585 ▲1426K 1,615 ▲1453K
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,585 ▲1426K 1,615 ▲1453K
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,585 ▲1426K 1,615 ▲1453K
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,585 ▲1426K 1,615 ▲1453K
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,585 ▲1426K 1,615 ▲1453K
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,585 ▲1426K 1,615 ▲1453K
Cập nhật: 26/05/2026 11:00
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 18355 18631 19207
CAD 18551 18828 19442
CHF 32985 33371 34016
CNY 0 3842 3934
EUR 30023 30296 31321
GBP 34738 35131 36057
HKD 0 3232 3434
JPY 159 163 169
KRW 0 16 18
NZD 0 15119 15707
SGD 20087 20370 20896
THB 724 787 841
USD (1,2) 26085 0 0
USD (5,10,20) 26126 0 0
USD (50,100) 26154 26169 26394
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,164 26,164 26,394
USD(1-2-5) 25,118 - -
USD(10-20) 25,118 - -
EUR 30,143 30,167 31,427
JPY 161.24 161.53 170.28
GBP 34,912 35,007 36,009
AUD 18,535 18,602 19,195
CAD 18,735 18,795 19,375
CHF 33,224 33,327 34,113
SGD 20,209 20,272 20,945
CNY - 3,810 3,933
HKD 3,296 3,306 3,424
KRW 16.08 16.77 18.14
THB 771.75 781.28 832.18
NZD 15,103 15,243 15,600
SEK - 2,784 2,867
DKK - 4,034 4,153
NOK - 2,800 2,883
LAK - 0.92 1.27
MYR 6,222.52 - 6,984.38
TWD 757.37 - 912.24
SAR - 6,903.38 7,229.28
KWD - 83,608 88,446
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,144 26,164 26,394
EUR 30,109 30,230 31,409
GBP 34,938 35,078 36,087
HKD 3,295 3,308 3,423
CHF 33,062 33,195 34,131
JPY 161.90 162.55 169.87
AUD 18,546 18,620 19,210
SGD 20,284 20,365 20,947
THB 790 793 828
CAD 18,747 18,822 19,390
NZD 15,196 15,729
KRW 16.75 18.36
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26145 26145 26394
AUD 18526 18626 19549
CAD 18727 18827 19842
CHF 33220 33250 34833
CNY 3822.6 3847.6 3983
CZK 0 1220 0
DKK 0 4140 0
EUR 30197 30227 31950
GBP 35034 35084 36837
HKD 0 3355 0
JPY 162.22 162.72 173.23
KHR 0 6.097 0
KRW 0 17 0
LAK 0 1.165 0
MYR 0 6920 0
NOK 0 2850 0
NZD 0 15217 0
PHP 0 400 0
SEK 0 2840 0
SGD 20246 20376 21102
THB 0 753.6 0
TWD 0 820 0
SJC 9999 15850000 15850000 16150000
SBJ 14000000 14000000 16150000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,185 26,235 26,394
USD20 26,185 26,235 26,394
USD1 23,882 26,235 26,394
AUD 18,589 18,689 19,808
EUR 30,369 30,369 31,798
CAD 18,692 18,792 20,108
SGD 20,333 20,483 21,060
JPY 162.79 164.29 170
GBP 34,958 35,308 36,188
XAU 15,898,000 0 16,202,000
CNY 0 3,735 0
THB 0 791 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 26/05/2026 11:00
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80