Bảo hiểm xã hội Việt Nam: 30 năm đồng hành vì an sinh xã hội

(TBTCO) - Chính sách bảo hiểm xã hội (BHXH), bảo hiểm y tế (BHYT), bảo hiểm thất nghiệp (BHTN) đã và đang khẳng định vai trò trụ cột trong hệ thống an sinh xã hội quốc gia, góp phần quan trọng vào sự phát triển bền vững của đất nước. Trải qua 30 năm hình thành và phát triển (1995-2025), BHXH Việt Nam đã không ngừng đổi mới tư duy, phương thức tổ chức và phương pháp phục vụ; nỗ lực vượt qua nhiều khó khăn, thách thức, hướng tới hoàn thiện mục tiêu BHXH, BHYT toàn dân của Đảng và Nhà nước.
aa

Kiến tạo những dấu ấn tích cực

Trong suốt hành trình 3 thập kỷ, với sự đồng hành của cả hệ thống chính trị, cùng sự nỗ lực, tinh thần tận tụy, trách nhiệm và đoàn kết của đội ngũ công chức, viên chức, người lao động trong hệ thống, BHXH Việt Nam đã đạt được nhiều kết quả nổi bật, góp phần đưa các chính sách an sinh xã hội nhân văn của Đảng, Nhà nước đi vào cuộc sống.

Bảo hiểm xã hội Việt Nam: 30 năm đồng hành vì an sinh xã hội
Tuyên truyền chính sách bảo hiểm xã hội tự nguyện tới người dân. Ảnh: BHXHVN

Thứ nhất, cơ quan BHXH các cấp đã tích cực nghiên cứu, tổng kết thực tiễn, tham mưu, đề xuất hoàn thiện hệ thống chính sách, pháp luật về BHXH, BHYT, BHTN theo hướng từng bước mở rộng diện bao phủ, đảm bảo quyền lợi cho người tham gia, góp phần đưa chính sách đi vào chiều sâu, phù hợp hơn với nhu cầu và năng lực thụ hưởng của người dân, gắn với phát triển kinh tế của Quốc gia.

Thứ hai, số người tham gia BHXH, BHYT liên tục tăng nhanh và bền vững. Tính đến cuối năm 2024, số người tham gia BHXH đã tăng 8,9 lần so với năm 1995, chiếm 42,71% lực lượng lao động trong độ tuổi. Tỷ lệ và số người tham gia BHYT tăng nhanh, tiệm cận mục tiêu BHYT toàn dân, tăng 13,4 lần so với năm 1995, tương ứng hơn 94,2% dân số. Trong đó, số người tự đóng một phần và toàn phần do hệ thống BHXH Việt Nam phát triển được là 48,201 triệu người, chiếm khoảng 47,6% dân số.

Thứ ba, chất lượng phục vụ người dân của hệ thống BHXH Việt Nam từng bước được cải thiện theo hướng hiện đại, chuyên nghiệp, thân thiện với người tham gia. Toàn hệ thống đã thực hiện chuyển đổi, cải cách mạnh mẽ tác phong làm việc từ hành chính sang phục vụ, lấy người dân, doanh nghiệp là chủ thể, trung tâm phục vụ. Việc thực hiện chi trả các chế độ, chính sách luôn được triển khai kịp thời, đúng quy định của pháp luật. Mỗi năm, bình quân, hệ thống BHXH Việt Nam đã thực hiện quản lý và chi trả cho: hơn 3,3 triệu người hưởng lương hưu, trợ cấp BHXH hàng tháng; hơn 15,6 triệu lượt người hưởng các chế độ BHXH một lần, ốm đau, thai sản, dưỡng sức phục hồi sức khỏe; trên 40 triệu lượt người hưởng các chế độ BHTN; gần 185 triệu lượt người khám chữa bệnh BHYT.

Đáng chú ý, trong bối cảnh đại dịch Covid-19 ảnh hưởng nặng nề đến đời sống, lao động, việc làm của người dân, trong 3 năm (từ năm 2020 đến năm 2022), hệ thống BHXH Việt Nam đã chủ động tích cực tham mưu cho Đảng, Nhà nước, Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ ban hành nhiều cơ chế, chính sách hỗ trợ người dân, người lao động và người sử dụng lao động gặp khó khăn do Covid-19. Đồng thời tập trung huy động mọi nguồn lực, trên cơ sở nguồn dữ liệu tập trung sẵn có để triển khai kịp thời các gói hỗ trợ từ Quỹ BHXH, BHTN với tổng số tiền hỗ trợ trên 47,2 nghìn tỷ đồng.

Thứ tư, BHXH Việt Nam tập trung đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin, chuyển đổi số và cải cách hành chính, chủ động rà soát cắt giảm tối đa thủ tục hành chính theo hướng đơn giản hóa, tái cấu trúc quy trình nghiệp vụ trong toàn hệ thống nhằm tạo thuận lợi tối đa cho người dân và doanh nghiệp. Hiện có khoảng: 621.000 tổ chức, doanh nghiệp đang thực hiện giao dịch điện tử với cơ quan BHXH thông qua các cổng dịch vụ công; 100% người dân có tài khoản định danh mức độ 2 có thể thực hiện các dịch vụ công trực tuyến của cơ quan BHXH...

Thứ năm, Quỹ BHXH, BHYT đã trở thành các quỹ an sinh lớn nhất, được quản lý, sử dụng đúng mục đích, an toàn, hiệu quả, công khai, minh bạch dưới sự giám sát của Quốc hội, Chính phủ, Hội đồng quản lý BHXH. Quy mô các quỹ tăng qua từng năm, khẳng định tính bền vững và đảm bảo cân đối trong dài hạn. Tỷ lệ chi từ nguồn Quỹ BHXH ngày càng tăng là những minh chứng rõ nét, khẳng định quan điểm đúng đắn của Đảng trong việc khuyến khích người dân nâng cao năng lực tự bảo đảm an sinh xã hội.

Tinh gọn, sắp xếp bộ máy hiệu năng, hiệu lực, hiệu quả

Từ năm 1995 đến nay, BHXH Việt Nam đã liên tục hoàn thiện và tinh gọn bộ máy để đáp ứng yêu cầu phát triển của hệ thống qua từng giai đoạn. Đặc biệt, thực hiện chủ trương sắp xếp lại tổ chức bộ máy, ngày 1/3/2025, BHXH Việt Nam trở thành đơn vị đặc thù thuộc Bộ Tài chính. Toàn hệ thống BHXH Việt Nam đã triển khai sắp xếp, tinh gọn bộ máy từ 1.464 đơn vị thu gọn còn 747 đơn vị đầu mối (giảm 717 đơn vị, tương ứng 49%), vượt chỉ tiêu được Trung ương giao.

Ngay từ khi hoạt động theo mô hình mới, BHXH Việt Nam đã khẩn trương ổn định tổ chức bộ máy, đảm bảo mọi mặt công tác được diễn ra thông suốt, không gián đoạn và phục vụ tốt nhất quyền lợi của người tham gia. Song song với việc tổ chức bộ máy trước và sau sắp xếp, các nhiệm vụ của hệ thống thường xuyên được định kỳ đánh giá, đặc biệt là công tác mở rộng độ bao phủ và giải quyết chính sách, chế độ cho người dân, người tham gia và thụ hưởng.

Bên cạnh đó, dự báo được những khó khăn, vướng mắc, vấn đề phát sinh trong thực hiện nhiệm vụ, phát huy những mặt tích cực trong quá trình sắp xếp đơn vị hành chính cấp tỉnh và mô hình chính quyền địa phương 2 cấp đi vào hoạt động từ ngày 1/7/2025, BHXH Việt Nam đã chủ động chuẩn bị những điều kiện cần thiết “từ sớm, từ xa”. Từ đó chỉ đạo BHXH các tỉnh, thành phố triển khai thực hiện mọi công tác đảm bảo thông suốt, không gián đoạn, phục vụ tốt nhất cho người dân trong các giao dịch với cơ quan BHXH.

Bảo hiểm xã hội Việt Nam: 30 năm đồng hành vì an sinh xã hội
TS.Lê Hùng Sơn, Giám đốc Bảo hiểm xã hội Việt Nam

Nhờ vậy, tính đến hết ngày 30/6/2025, BHXH Việt Nam tiếp tục đạt kết quả tốt trong công tác thu, phát triển và phục vụ người tham gia. Các chỉ tiêu đều giữ được đà tăng trưởng ổn định, cao hơn so với cùng kỳ năm 2024. Hiện toàn quốc có 18,958 triệu người tham gia BHXH, tăng 652 nghìn người so với cùng kỳ năm trước. Tổng số thu BHXH, BHYT, BHTN lũy kế từ đầu năm đến hết tháng 6/2025 đạt 50,7% dự toán Thủ tướng Chính phủ giao, tăng 55.634 tỷ đồng (22,8%) so với cùng kỳ. Trong 6 tháng đầu năm 2025, toàn hệ thống BHXH Việt Nam đã giải quyết cho: 61.673 người hưởng các chế độ BHXH hàng tháng, tăng 58,21% so với cùng kỳ năm trước; hơn 4,4 triệu lượt người hưởng chế độ ốm đau, thai sản, dưỡng sức phục hồi sức khỏe; 95,59 triệu lượt khám chữa bệnh BHYT, tăng 7,44 triệu lượt (8,44%) …

Những kết quả trên cho thấy, mô hình hoạt động theo tổ chức bộ máy mới từ trung ương đến địa phương của cơ quan BHXH đã phát huy hiệu quả; đảm bảo tinh gọn, tiết kiệm; không có khó khăn, vướng mắc lớn; chức năng, nhiệm vụ của từng đơn vị được Bộ Tài chính quy định rõ, việc phân cấp, phân quyền được đẩy mạnh gắn với trách nhiệm của từng cấp. Hiệu quả, hiệu năng, hiệu lực hoạt động của từng đơn vị sau sắp xếp thực sự được nâng cao, khẳng định chủ trương của Đảng về sắp xếp tinh gọn tổ chức bộ máy là hoàn toàn đúng đắn.

Hành trình đảm bảo an sinh xã hội chưa dừng lại

Ba thập kỷ đã đi qua, nhưng hành trình bảo đảm an sinh xã hội của BHXH Việt Nam chưa dừng lại. Với nền tảng, thành tựu đạt được trong 30 năm xây dựng và phát triển, thời gian tới, BHXH Việt Nam sẽ tiếp tục bám sát chủ trương, đường lối của Đảng, Nhà nước, Quốc hội, Chính phủ; sự chỉ đạo của Bộ Tài chính; ổn định, nâng cao hơn nữa hiệu quả tổ chức bộ máy sau sắp xếp, phù hợp với mô hình chính quyền 2 cấp...

Toàn hệ thống BHXH Việt Nam tiếp tục kiên định, nỗ lực, phát huy truyền thống đoàn kết, tâm huyết trong tổ chức thực hiện chính sách BHXH, BHYT, BHTN; phấn đấu hoàn thành và hoàn thành vượt toàn diện mục tiêu chính trị được Đảng, Nhà nước và nhân dân giao phó, cùng đất nước bước vào “Kỷ nguyên mới, kỷ nguyên vươn mình của dân tộc Việt Nam” để mọi người dân đều được tham gia và bảo vệ bởi lưới an sinh xã hội bền chặt.

TS. Lê Hùng Sơn, Giám đốc Bảo hiểm xã hội Việt Nam

Đọc thêm

Fitch Ratings lần đầu xếp hạng HDBank, ghi nhận nền tảng tài chính vững mạnh top đầu Việt Nam

Fitch Ratings lần đầu xếp hạng HDBank, ghi nhận nền tảng tài chính vững mạnh top đầu Việt Nam

(TBTCO) - Tổ chức xếp hạng quốc tế Fitch Ratings vừa công bố kết quả xếp hạng tín nhiệm lần đầu đối với Ngân hàng TMCP Phát triển TP. Hồ Chí Minh (HDBank - HoSE: HDB). Các mức đánh giá dành cho HDBank thuộc nhóm cao nhất, phản ánh nền tảng tài chính vững mạnh, hiệu quả cao và bền vững.
Vietbank sắp chào sàn HOSE, tiếp tục tăng vốn để mở rộng dư địa tăng trưởng

Vietbank sắp chào sàn HOSE, tiếp tục tăng vốn để mở rộng dư địa tăng trưởng

(TBTCO) - Vietbank chính thức đưa gần 1,08 tỷ cổ phiếu lên giao dịch trên HOSE từ ngày 14/7/2026 sau khi rời UPCoM. Việc chuyển sàn diễn ra trong bối cảnh Vietbank tiếp tục tăng vốn nhằm mở rộng dư địa tăng trưởng, đẩy dư nợ tín dụng tăng hơn 23% trong năm nay, dù vẫn chịu áp lực khi nợ xấu gia tăng.
MoMoCare và dấu ấn đổi mới của Chubb Life Việt Nam trong hành trình bảo hiểm số

MoMoCare và dấu ấn đổi mới của Chubb Life Việt Nam trong hành trình bảo hiểm số

(TBTCO) - Công ty TNHH Bảo hiểm Nhân thọ Chubb Việt Nam (Chubb Life Việt Nam) vừa được vinh danh tại hạng mục “Sáng kiến Đổi mới Sản phẩm Bảo hiểm của năm tại Việt Nam” (Insurance Product Innovation of the Year - Vietnam) trong khuôn khổ Giải thưởng Bảo hiểm châu Á 2026 (Insurance Asia Awards 2026) với sản phẩm MoMoCare | Bảo hiểm Sức khỏe+ (MoMoCare). Giải thưởng ghi nhận nỗ lực của Chubb Life Việt Nam trong việc đổi mới trải nghiệm bảo hiểm, giúp khách hàng tiếp cận giải pháp bảo vệ một cách đơn giản, nhanh chóng và thuận tiện hơn.
Hệ sinh thái ngân hàng tạo sức bật cho bancassurance

Hệ sinh thái ngân hàng tạo sức bật cho bancassurance

(TBTCO) - Kênh phân phối bảo hiểm qua ngân hàng (bancassurance) tiếp tục là trụ cột tăng trưởng của nhiều doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ có ngân hàng mẹ hậu thuẫn. Tuy nhiên, để tận dụng dư địa và phát triển bền vững kênh này, doanh nghiệp cần đặt chất lượng tư vấn và tính minh bạch lên hàng đầu.
LPBank lập "cú đúp" tại HR Asia 2026: Khi chiến lược phát triển con người trở thành lợi thế cạnh tranh

LPBank lập "cú đúp" tại HR Asia 2026: Khi chiến lược phát triển con người trở thành lợi thế cạnh tranh

(TBTCO) - Ngân hàng TMCP Lộc Phát Việt Nam (LPBank) vừa được HR Asia Awards 2026 vinh danh ở hai hạng mục danh giá gồm “Nơi làm việc tốt nhất châu Á 2026” và “Doanh nghiệp Dẫn đầu công nghệ 2026”. Cú đúp giải thưởng ghi nhận những nỗ lực nổi bật của LPBank trong xây dựng văn hóa doanh nghiệp, phát triển nguồn nhân lực và thúc đẩy chuyển đổi số toàn diện.
Giá vàng hôm nay ngày 12/7: Vàng miếng đi ngang, vàng nhẫn giảm tại một số doanh nghiệp

Giá vàng hôm nay ngày 12/7: Vàng miếng đi ngang, vàng nhẫn giảm tại một số doanh nghiệp

(TBTCO) - Giá vàng miếng trong nước hầu như đi ngang, phổ biến ở mức 149,9 triệu đồng/lượng chiều bán ra, trong khi một số thương hiệu điều chỉnh giảm giá vàng nhẫn.
Giá vàng hôm nay ngày 11/7: Vàng thế giới giữ trên 4.120 USD/ounce, vàng trong nước tăng tới 1 triệu đồng/lượng

Giá vàng hôm nay ngày 11/7: Vàng thế giới giữ trên 4.120 USD/ounce, vàng trong nước tăng tới 1 triệu đồng/lượng

(TBTCO) - Giá vàng thế giới giao dịch trên ngưỡng 4.120 USD/ounce, trong khi giá vàng trong nước đồng loạt tăng tại nhiều thương hiệu, với mức điều chỉnh cao nhất lên tới 1 triệu đồng/lượng ở chiều mua vào.
HDBank huy động thành công 721 triệu USD từ ADB, Standard Chartered và các định chế tài chính quốc tế

HDBank huy động thành công 721 triệu USD từ ADB, Standard Chartered và các định chế tài chính quốc tế

(TBTCO) - Ngân hàng TMCP Phát triển TP.HCM (HDBank - HoSE: HDB) vừa ký kết khoản vay hợp vốn quốc tế theo hình thức Khoản vay xã hội (Social Loan) trị giá 721 triệu USD, vượt khoảng 60% quy mô huy động ban đầu. Thành công của giao dịch tiếp tục khẳng định niềm tin của các định chế tài chính quốc tế đối với năng lực quản trị, chiến lược phát triển bền vững và triển vọng tăng trưởng của HDBank.
Xem thêm

Mới nhất Đọc nhiều

DOJI Giá mua Giá bán
SJC -Bán Lẻ 14,540 14,840
Kim TT/AVPL 14,300 14,680
NHẪN TRÒN 9999 HƯNG THỊNH VƯỢNG 14,300 14,680
Nguyên Liệu 99.99 13,200 13,400
Nguyên Liệu 99.9 13,150 13,350
NỮ TRANG 9999 - BÁN LẺ 13,700 14,200
NỮ TRANG 999 - BÁN LẺ 13,650 14,150
Nữ trang 99 - Bán Lẻ 13,580 14,130
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 143,200 146,900
Hà Nội - PNJ 143,200 146,900
Đà Nẵng - PNJ 143,200 146,900
Miền Tây - PNJ 143,200 146,900
Tây Nguyên - PNJ 143,200 146,900
Đông Nam Bộ - PNJ 143,200 146,900
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 14,540 14,840
Miếng SJC Nghệ An 14,540 14,840
Miếng SJC Thái Bình 14,540 14,840
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 14,350 14,700
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 14,350 14,700
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 14,350 14,700
NL 99.90 12,950
NL 99.99, Nhẫn Tròn Thái Bình 13,000
Trang sức 99.9 13,890 14,590
Trang sức 99.99 13,900 14,600
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,454 1,484
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,454 14,842
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,454 14,843
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,444 1,479
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,444 148
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,419 1,459
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 137,455 144,455
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 99,786 109,586
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 89,572 99,372
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 79,358 89,158
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 75,418 85,218
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 51,196 60,996
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,454 1,484
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,454 1,484
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,454 1,484
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,454 1,484
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,454 1,484
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,454 1,484
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,454 1,484
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,454 1,484
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,454 1,484
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,454 1,484
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,454 1,484
Cập nhật: 14/07/2026 07:30
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17702 17976 18555
CAD 18052 18327 18946
CHF 31799 32180 32832
CNY 0 3833 3926
EUR 29394 29614 30695
GBP 34377 34768 35706
HKD 0 3219 3422
JPY 155 159 165
KRW 0 16 18
NZD 0 14870 15457
SGD 19781 20063 20639
THB 702 766 819
USD (1,2) 25991 0 0
USD (5,10,20) 26032 0 0
USD (50,100) 26061 26075 26440
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,080 26,080 26,460
USD(1-2-5) 25,037 - -
USD(10-20) 25,037 - -
EUR 29,540 29,564 30,972
JPY 157.6 157.88 167.43
GBP 34,565 34,659 35,850
AUD 17,900 17,965 18,644
CAD 18,234 18,293 18,967
CHF 32,101 32,201 33,157
SGD 19,906 19,968 20,752
CNY - 3,799 3,944
HKD 3,283 3,293 3,431
KRW 16.19 16.88 18.37
THB 751.28 760.56 813.98
NZD 14,859 14,997 15,444
SEK - 2,677 2,771
DKK - 3,952 4,091
NOK - 2,642 2,740
LAK - 0.89 1.23
MYR 6,024.54 - 6,800.66
TWD 739.3 - 894.99
SAR - 6,877.37 7,243.3
KWD - 83,069 88,379
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,050 26,080 26,460
EUR 29,367 29,485 30,675
GBP 34,506 34,645 35,674
HKD 3,282 3,295 3,413
CHF 32,862 31,990 32,917
JPY 157.99 158.62 166.54
AUD 17,865 17,937 18,530
SGD 19,956 20,036 20,623
THB 767 770 807
CAD 18,205 18,278 18,850
NZD 14,863 15,404
KRW 16.72 18.50
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26027 26027 26481
AUD 17873 17973 18896
CAD 18215 18315 19328
CHF 32036 32066 33644
CNY 3813.1 3838.1 3973.6
CZK 0 1190 0
DKK 0 4025 0
EUR 29558 29588 31314
GBP 34657 34707 36459
HKD 0 3355 0
JPY 158.54 159.04 169.56
KHR 0 6.097 0
KRW 0 16.9 0
LAK 0 1.1677 0
MYR 0 6600 0
NOK 0 2710 0
NZD 0 14972 0
PHP 0 395 0
SEK 0 2735 0
SGD 19937 20067 20795
THB 0 732 0
TWD 0 820 0
SJC 9999 14540000 14540000 14840000
SBJ 13000000 13000000 14840000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,086 26,136 26,450
USD20 26,086 26,136 26,450
USD1 26,086 26,136 26,450
AUD 17,927 18,027 19,134
EUR 29,384 29,484 31,140
CAD 18,173 18,273 19,579
SGD 20,019 20,169 20,723
JPY 158.93 160.43 166
GBP 34,578 34,728 35,790
XAU 14,538,000 0 14,842,000
CNY 0 3,722 0
THB 0 767 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 14/07/2026 07:30
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80