Chờ đợi hoàn thiện pháp lý về giao dịch điện tử trong hoạt động ngân hàng

Chí Tín
(TBTCO) - Các ngân hàng đang tiếp tục đẩy nhanh các giao dịch ứng dụng điện tử vào dịch vụ ngân hàng nhằm khai thác tối đa lợi ích của chuyển đổi số. Tuy nhiên, một trong những yếu tố rất được các ngân hàng và khách hàng quan tâm là việc luật hóa các quy định liên quan đến giao dịch điện tử trong Luật Các tổ chức tín dụng để thống nhất việc thực hiện và giảm thiểu rủi ro nếu có tranh chấp.
aa

Khai thác tối đa hệ thống dữ liệu số

Động thái của Ngân hàng Nhà nước (NHNN) thời gian gần đây đang tỏ ra khá tích cực trong các hoạt động thúc đẩy chuyển đổi số. Đây cũng là một “khe cửa” cho ngành Ngân hàng trong trong việc thoát khỏi thế bí giữa nhiệm vụ tiếp tục cố gắng giảm lãi suất cho vay theo định hướng của Quốc hội và Chính phủ, nhưng vẫn đảm bảo giữ được lợi nhuận. Bởi lẽ, việc chuyển đổi số nếu thực hiện hiệu quả thì các ngân hàng có thể giảm được rất nhiều chi phí. Chẳng hạn như theo chia sẻ của một lãnh đạo ngân hàng, việc ứng dụng chuyển đổi số vào lĩnh vực thẻ có thể giúp cho thời gian mở một thẻ tín dụng chỉ mất 5 - 7 phút, thay vì 5 - 7 ngày như trước đây.

Đẩy mạnh chuyển đổi số giúp các ngân hàng tăng tỷ lệ vốn huy động từ tiền gửi không kỳ hạn.
Đẩy mạnh chuyển đổi số giúp các ngân hàng tăng tỷ lệ vốn huy động từ tiền gửi không kỳ hạn.

Cũng liên quan đến yếu tố tiết giảm chi phí, việc chuyển đổi số trong ngân hàng và tăng tốc dịch vụ thanh toán không dùng tiền mặt còn giúp các ngân hàng có thể tăng tỷ lệ vốn huy động từ tiền gửi không kỳ hạn, qua đó tiết kiệm rất nhiều chi phí huy động vốn. Hiện tại, lãi suất tiền gửi không kỳ hạn phổ biến ở các ngân hàng chỉ khoảng dưới 1%/năm, thấp hơn rất nhiều so với lãi suất khoảng trên 9% của kỳ hạn 1 năm. Do đó, các ngân hàng đều cố gắng thu hút khách hàng để tiền tại các tài khoản thanh toán càng nhiều càng tốt.

Động thái của các ngân hàng hiện nay là sẽ tiếp tục tăng các giải pháp để người dân có thể “ngồi 1 chỗ làm được mọi việc” và là một trong những giải pháp khai thác hệ thống Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư để phục vụ cho các giải pháp định danh điện tử phục vụ cho hoạt động ngân hàng. Vừa qua, NHNN cũng đã có những buổi làm việc với Bộ Công an để đẩy nhanh quy trình đưa hệ thống dữ liệu dân cư vào sử dụng rộng rãi trong nghiệp vụ ngân hàng. Theo Thống đốc Nguyễn Thị Hồng, NHNN đã hoàn thành triển khai hệ thống dịch vụ công đảm bảo kết nối Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư. Việc này từng bước triển khai làm sạch cơ sở dữ liệu thông tin tín dụng khách hàng và đã tiến hành làm sạch dữ liệu 15 triệu hồ sơ khách hàng trên tổng số 51 triệu hồ sơ trong cơ sở dữ liệu của Trung tâm tín dụng quốc gia (CIC); bước đầu phối hợp, triển khai tiến tới kết nối cơ sở dữ liệu phục vụ cho công tác phòng, chống rửa tiền.

Chờ đợi hệ thống hóa các quy định pháp luật

Trong triển khai thực tế, NHNN cho biết, đến nay một số ngân hàng lớn như BIDV, Vietcombank, Vietinbank đã kết nối, triển khai thí điểm trong giao dịch nộp, rút tiền, triển khai luồng giao dịch nội bộ, dịch vụ mở tài khoản… trên hệ thống xác thực khách hàng trên cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư. Thời gian tới, NHNN sẽ tiếp tục chỉ đạo các tổ chức tín dụng mở rộng hoạt động này. Hiện nay có 120 triệu tài khoản thanh toán tại các tổ chức tín dụng và 51 triệu hồ sơ khách hàng tại CIC với lượng giao dịch lên tới 30 tỷ USD/ngày qua hệ thống ngân hàng, thì việc ứng dụng các giải pháp trên sẽ giúp các giao dịch được thuận tiện, phòng tránh tội phạm, lừa đảo.

Một nội dung quan trọng khác là việc các ngân hàng hướng đến việc cung cấp tín dụng trên cơ sở số - nghĩa là khách hàng không cần đến ngân hàng mà vẫn được vay tín dụng. Một số ngân hàng đã phối hợp với các cơ quan của Bộ Công an thử nghiệm hệ thống chấm điểm tín dụng công dân trên nền tảng dữ liệu dân cư. Việc này có thể giúp các ngân hàng áp dụng cho vay tín chấp bước đầu là đối với các món vay giá trị nhỏ.

Một số hành động trước mắt sẽ thực hiện trong năm 2023

Ngân hàng Nhà nước (NHNN) sẽ ban hành thông tư sửa đổi Thông tư 39/2016/TT-NHNN về hoạt động cho vay của tổ chức tín dụng đối với khách hàng, theo đó cho phép cho vay qua việc sử dụng các phương tiện điện tử. Trong năm 2023, NHNN sẽ tiếp tục thực hiện kết nối, khai thác các thông tin, cơ sở dữ liệu xuất nhập cảnh phục vụ công tác phòng chống rửa tiền; mở rộng các giải pháp giúp xác thực khách hàng qua căn cước công dân gắn chíp ứng dụng phần mềm VNeID, kết nối cơ sở dữ liệu để đa dạng hóa các dịch vụ khác; chú trọng hoàn thiện hành lang pháp lý về cho vay và mở tài khoản để có thể xác thực chính danh khách hàng khi thực hiện…

Các hoạt động trên cho thấy bầu không khí trong việc triển khai giao dịch điện tử và số hóa đang tăng nhiệt khá rõ nét. Trong đó, hệ thống pháp luật để các bên đối chiếu áp dụng cũng đã có rải rác trong nhiều văn bản pháp luật khác nhau như: Luật Dân sự, Luật Giao dịch điện tử… Tuy nhiên, giới ngân hàng và cả người dân quan tâm đến việc sử dụng các ứng dụng điện tử trong dịch vụ ngân hàng cũng vẫn đang chờ đợi các quy định cập nhật trong Luật Các tổ chức tín dụng sửa đổi đang được cơ quan chức năng soạn thảo.

Hiện nay, Luật Các tổ chức tín dụng (sửa đổi) cũng đang được đề xuất đưa nhiều quy định cụ thể hóa các dịch vụ ngân hàng qua phương tiện điện tử và số hóa dịch vụ ngân hàng. Theo đó, dự thảo đang bổ sung nguyên tắc ngân hàng được thực hiện hoạt động kinh doanh bằng phương tiện điện tử; bổ sung quy định điều chỉnh hoạt động cấp tín dụng bằng phương tiện điện tử tại các quy định về nội bộ, quy định về xét duyệt cấp tín dụng…

Chí Tín

Đọc thêm

MBV thông báo về việc thay đổi tên gọi và địa điểm đặt trụ sở các phòng giao dịch

MBV thông báo về việc thay đổi tên gọi và địa điểm đặt trụ sở các phòng giao dịch

(TBTCO) - Ngân hàng TNHH MTV Việt Nam Hiện Đại (MBV) trân trọng thông báo về việc thay đổi tên gọi, địa điểm đặt trụ sở và chính thức khai trương hoạt động các phòng giao dịch (PGD) trực thuộc.
Các chỉ tiêu bảo hiểm xã hội tiếp tục duy trì đà tăng trưởng tích cực

Các chỉ tiêu bảo hiểm xã hội tiếp tục duy trì đà tăng trưởng tích cực

(TBTCO) - Trong 5 tháng đầu năm 2026, Bảo hiểm xã hội Việt Nam đã bám sát chỉ đạo của Chính phủ, Bộ Tài chính, triển khai đồng bộ các giải pháp nhằm thực hiện hiệu quả các nhiệm vụ chính trị được giao, đạt nhiều kết quả tích cực trên các lĩnh vực công tác.
Lập hattrick tại The Asian Banker 2026: Dấu ấn công nghệ của TPBank trong dòng chảy kinh tế số

Lập hattrick tại The Asian Banker 2026: Dấu ấn công nghệ của TPBank trong dòng chảy kinh tế số

(TBTCO) - Lập "hattrick" công nghệ tại The Asian Banker 2026, TPBank khẳng định chiến lược đúng đắn khi đưa trí tuệ nhân tạo (AI) và số hóa vào tối ưu hóa năng lực vận hành, nâng tầm trải nghiệm khách hàng.
Tỷ giá USD hôm nay (12/6): Tỷ giá trung tâm lên 25.155 đồng, ECB tăng lãi suất lần đầu từ năm 2023

Tỷ giá USD hôm nay (12/6): Tỷ giá trung tâm lên 25.155 đồng, ECB tăng lãi suất lần đầu từ năm 2023

(TBTCO) - Sáng 12/6, tỷ giá trung tâm phiên cuối tuần ở mức 25.155 đồng, tăng 2 đồng; tỷ giá USD tự do giao dịch thấp hơn mức niêm yết tại ngân hàng thương mại. Chỉ số DXY giảm 0,07% xuống 99,78 điểm khi kỳ vọng hạ nhiệt căng thẳng Trung Đông cải thiện tâm lý nhà đầu tư, trong bối cảnh Fed được dự báo giữ nguyên lãi suất, còn ECB vừa tăng lãi suất lần đầu từ năm 2023.
Áp lực tỷ giá và bài toán hấp thụ vốn của nền kinh tế

Áp lực tỷ giá và bài toán hấp thụ vốn của nền kinh tế

(TBTCO) - Áp lực tỷ giá, lạm phát và thanh khoản đang thu hẹp dư địa nới lỏng chính sách tiền tệ. Trong khi đó, bài toán lớn của nền kinh tế hiện nay không chỉ là nguồn vốn, mà còn là khả năng hấp thụ vốn hiệu quả.
Đại lý thu bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế phải đảm bảo yêu cầu về trách nhiệm tài chính

Đại lý thu bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế phải đảm bảo yêu cầu về trách nhiệm tài chính

(TBTCO) - Tổ chức hỗ trợ phát triển đối tượng tham gia bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp (trước đây gọi là đại lý thu) phải bảo đảm nguồn lực tài chính, không chậm đóng, trốn đóng tại thời điểm xem xét lựa chọn; có trách nhiệm bồi hoàn trong trường hợp để xảy ra thất thoát, nộp không đúng hạn hoặc gây ảnh hưởng đến quyền lợi của người tham gia.
Hải Phòng đẩy mạnh chuyển đổi số trong thực hiện chính sách bảo hiểm xã hội

Hải Phòng đẩy mạnh chuyển đổi số trong thực hiện chính sách bảo hiểm xã hội

(TBTCO) - Sau gần một năm thực hiện chính quyền địa phương 2 cấp, việc triển khai chính sách bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp trên địa bàn TP. Hải Phòng đã đạt nhiều kết quả tích cực. Trong đó, công tác cải cách thủ tục hành chính, ứng dụng công nghệ thông tin và chuyển đổi số được đẩy mạnh.
Giá vàng SJC rớt 60 triệu đồng/lượng từ đỉnh cao, giải mã động thái của những "tay chơi" lớn

Giá vàng SJC rớt 60 triệu đồng/lượng từ đỉnh cao, giải mã động thái của những "tay chơi" lớn

(TBTCO) - Giá vàng đang trải qua đợt điều chỉnh mạnh khi vàng thế giới giảm hơn 27% từ đỉnh, còn giá vàng trong nước giảm sâu, với mức giảm khoảng 60 triệu đồng/lượng, xuống thấp nhất kể từ cuối tháng 10/2025. Trong bối cảnh các quỹ ETF vàng bị rút ròng khoảng 2 tỷ USD trong tháng 5 và nhiều tổ chức quốc tế hạ dự báo giá vàng, thị trường vẫn được hỗ trợ bởi nhiều yếu tố.
Xem thêm

Mới nhất Đọc nhiều

DOJI Giá mua Giá bán
SJC -Bán Lẻ 14,400 ▲110K 14,700 ▲110K
Kim TT/AVPL 14,400 ▲100K 14,700 ▲100K
NHẪN TRÒN 9999 HƯNG THỊNH VƯỢNG 14,400 ▲100K 14,700 ▲100K
Nguyên Liệu 99.99 13,850 ▲250K 14,050 ▲250K
Nguyên Liệu 99.9 13,800 ▲250K 14,000 ▲250K
NỮ TRANG 9999 - BÁN LẺ 14,250 ▲200K 14,650 ▲200K
NỮ TRANG 999 - BÁN LẺ 14,200 ▲200K 14,600 ▲200K
Nữ trang 99 - Bán Lẻ 14,130 ▲200K 14,580 ▲200K
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 144,000 ▲1600K 147,000 ▲1600K
Hà Nội - PNJ 144,000 ▲1600K 147,000 ▲1600K
Đà Nẵng - PNJ 144,000 ▲1600K 147,000 ▲1600K
Miền Tây - PNJ 144,000 ▲1600K 147,000 ▲1600K
Tây Nguyên - PNJ 144,000 ▲1600K 147,000 ▲1600K
Đông Nam Bộ - PNJ 144,000 ▲1600K 147,000 ▲1600K
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 14,400 ▲160K 14,700 ▲160K
Miếng SJC Nghệ An 14,400 ▲160K 14,700 ▲160K
Miếng SJC Thái Bình 14,400 ▲160K 14,700 ▲160K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 14,400 ▲160K 14,700 ▲160K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 14,400 ▲160K 14,700 ▲160K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 14,400 ▲160K 14,700 ▲160K
NL 99.90 13,450 ▲400K
NL 99.99, Nhẫn Tròn Thái Bình 13,500 ▲400K
Trang sức 99.9 13,890 ▲160K 14,590 ▲160K
Trang sức 99.99 13,900 ▲160K 14,600 ▲160K
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 144 ▼1280K 147 ▼1307K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 144 ▼1280K 14,702 ▲160K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 144 ▼1280K 14,703 ▲160K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,439 ▲16K 1,469 ▲16K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,439 ▲16K 147 ▼1307K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,419 ▲16K 1,454 ▲16K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 13,696 ▼121680K 14,396 ▼127980K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 99,711 ▲1200K 109,211 ▲1200K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 89,532 ▲1088K 99,032 ▲1088K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 79,353 ▲976K 88,853 ▲976K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 75,427 ▲933K 84,927 ▲933K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 51,288 ▲667K 60,788 ▲667K
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 144 ▼1280K 147 ▼1307K
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 144 ▼1280K 147 ▼1307K
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 144 ▼1280K 147 ▼1307K
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 144 ▼1280K 147 ▼1307K
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 144 ▼1280K 147 ▼1307K
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 144 ▼1280K 147 ▼1307K
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 144 ▼1280K 147 ▼1307K
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 144 ▼1280K 147 ▼1307K
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 144 ▼1280K 147 ▼1307K
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 144 ▼1280K 147 ▼1307K
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 144 ▼1280K 147 ▼1307K
Cập nhật: 13/06/2026 15:30
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17994 18268 18858
CAD 18273 18549 19165
CHF 32343 32726 33384
CNY 0 3848 3942
EUR 29799 30021 31102
GBP 34464 34856 35794
HKD 0 3226 3429
JPY 157 161 167
KRW 0 16 18
NZD 0 15035 15621
SGD 19935 20217 20801
THB 718 781 836
USD (1,2) 26041 0 0
USD (5,10,20) 26082 0 0
USD (50,100) 26111 26125 26412
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,132 26,132 26,412
USD(1-2-5) 25,087 - -
USD(10-20) 25,087 - -
EUR 29,989 30,013 31,325
JPY 160.01 160.3 169.32
GBP 34,712 34,806 35,867
AUD 18,203 18,269 18,886
CAD 18,518 18,577 19,187
CHF 32,707 32,809 33,646
SGD 20,094 20,156 20,869
CNY - 3,825 3,956
HKD 3,298 3,308 3,433
KRW 15.98 16.67 18.06
THB 766.48 775.95 827.55
NZD 15,009 15,148 15,536
SEK - 2,742 2,828
DKK - 4,012 4,138
NOK - 2,726 2,811
LAK - 0.91 1.26
MYR 6,069.64 - 6,823.74
TWD 752.62 - 908.21
SAR - 6,905.98 7,245.63
KWD - 83,539 88,540
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,122 26,142 26,412
EUR 29,898 30,018 31,205
GBP 34,676 34,815 35,833
HKD 3,292 3,305 3,421
CHF 32,520 32,651 33,566
JPY 160.23 160.87 168.69
AUD 18,194 18,267 18,859
SGD 20,143 20,224 20,808
THB 783 786 821
CAD 18,497 18,571 19,136
NZD 15,083 15,619
KRW 16.63 18.23
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26142 26142 26412
AUD 18185 18285 19210
CAD 18465 18565 19579
CHF 32668 32698 34276
CNY 3830.9 3855.9 3991.3
CZK 0 1220 0
DKK 0 4140 0
EUR 30024 30054 31779
GBP 34804 34854 36615
HKD 0 3355 0
JPY 160.85 161.35 171.89
KHR 0 6.097 0
KRW 0 16.9 0
LAK 0 1.165 0
MYR 0 6920 0
NOK 0 2850 0
NZD 0 15151 0
PHP 0 400 0
SEK 0 2840 0
SGD 20119 20249 20977
THB 0 750 0
TWD 0 820 0
SJC 9999 14240000 14240000 14540000
SBJ 12000000 12000000 14540000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,120 26,170 26,412
USD20 26,120 26,170 26,412
USD1 23,898 26,170 26,412
AUD 18,179 18,329 19,463
EUR 30,052 30,152 31,603
CAD 18,350 18,503 19,835
SGD 20,185 20,335 20,924
JPY 160.83 162.73 167.52
GBP 34,629 35,029 35,940
XAU 14,238,000 0 14,542,000
CNY 0 3,738 0
THB 0 788 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 13/06/2026 15:30
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80