Đại hội đồng cổ đông TPBank: Đưa lợi nhuận vượt đỉnh đạt 9.000 tỷ đồng, chia cổ tức 15%

Ánh Tuyết
(TBTCO) - Ngày 24/4, Ngân hàng TMCP Tiên Phong (TPBank - mã Ck: TPB) tổ chức thành công Đại hội đồng cổ đông thường niên năm 2025 tại Hà Nội. Tại đại hội, cổ đông thống nhất thông qua kế hoạch kinh doanh năm 2025 với nhiều chỉ tiêu tăng trưởng, đặc biệt là phương án chia cổ tức 10% bằng tiền mặt, 5% bằng cổ phiếu.
aa
Lợi nhuận TPBank năm 2024 tăng 36% TPBank đặt mục tiêu đưa lợi nhuận vượt đỉnh, đạt 9.000 tỷ đồng năm 2025 "Cơn sóng" tăng vốn đổ bộ mùa đại hội cổ đông ngân hàng

Phát biểu tại Đại hội, ông Đỗ Minh Phú - Chủ tịch Hội đồng Quản trị TPBank nhấn mạnh, năm 2024, ngân hàng hoàn thành vượt mức các chỉ tiêu đại hội đề ra. Từ năm 2012 bắt đầu quá trình tái cơ cấu với chỉ 55.000 khách hàng, đến nay TPBank phục vụ hơn 14 triệu khách hàng, đặc biệt, số lượng giao dịch kênh số tăng "vũ bão" 60%, giá trị giao dịch tăng trên 35%.

Vững đà nhờ ngân hàng số, tinh gọn để tăng tốc

TPBank không ngừng nâng cao trải nghiệm số, mang đến dịch vụ ngân hàng hiện đại, thuận tiện và nhanh chóng cho người dùng, khẳng định vị thế ngân hàng số hàng đầu với 2,1 triệu khách hàng mới trong năm. Cũng theo Chủ tịch TPBank, là một ngân hàng phát triển trên nền tảng số, con số 14 triệu khách hàng chưa phải con số lớn, hiện TPBank đang chờ ý kiến của Ngân hàng Nhà nước (NHNN) về phương án phục hồi Công ty Tài chính Cổ phần Handico (HAFIC) để có công ty con hoạt động trong lĩnh vực tài chính tiêu dùng.

Cùng với đó, các chỉ số tài chính tiếp tục tích cực như: tỷ lệ an toàn vốn (CAR) đạt hơn 13%, vượt chuẩn Basel III; tỷ lệ chi phí trên thu nhập (CIR) giảm mạnh từ mức 40% xuống còn 34,78%, thể hiện hiệu quả vận hành cải thiện rõ nét. Theo Tổng Giám đốc Nguyễn Hưng, năm nay ngân hàng sẽ tiếp tục tinh gọn bộ máy giúp tối ưu chi phí, khi tăng doanh thu có rào cản và áp lực cạnh tranh nhất định.

Đa dạng hoá nguồn thu, đưa lợi nhuận tăng bứt phá

Đại hội đồng cổ đông TPBank 2025 thông qua kế hoạch kinh doanh năm với mục tiêu kinh doanh theo hướng đa dạng nguồn thu, nâng cao chất lượng tài sản, nhằm đưa lợi nhuận trước thuế đạt 9.000 tỷ đồng, tăng 18% so với năm trước và vượt mức đỉnh cao đã đạt được vào năm 2022 (7.828 tỷ đồng). Để đạt được mục tiêu, tổng tài sản dự kiến tăng 7,6% lên 450.000 tỷ đồng. Dư nợ cho vay tăng khoảng 20% lên 313.750 tỷ đồng, huy động vốn tăng 12,3% lên 420.000 tỷ đồng.

Đánh giá bối cảnh kinh doanh năm 2025, theo lãnh đạo TPBank, thế giới chưa bao giờ chứng kiến mức độ phân hoá sâu sắc như hiện nay, căng thẳng địa chính trị leo thang, chiến tranh được đẩy lên thành những cuộc thương chiến ngoài dự đoán.

Các cuộc đối đầu này kéo theo nhiều hệ lụy về kinh tế và tài chính toàn cầu, giá vàng vượt mốc kỷ lục mọi thời đại, người dân và nhà đầu tư đổ xô tìm đến các kênh trú ẩn an toàn.

Trong bối cảnh đó, việc nhận diện đúng các thách thức và chủ động tìm giải pháp vượt qua là vô cùng cấp thiết, đặc biệt với Việt Nam, một nền kinh tế có độ mở cao và dễ bị tác động bởi những biến động bên ngoài.

TPBank tổ chức thành công Đại hội đồng cổ đông thường niên năm 2025
Đồ hoạ: Ánh Tuyết.

Hiện thực hóa mục tiêu 2025, ngay từ quý I/2025, TPBank ghi nhận lợi nhuận trước thuế đạt hơn 2.108 tỷ đồng, tăng 15% so với cùng kỳ năm trước dù "mùa trũng" kinh doanh của hầu hết các ngân hàng. Tổng thu nhập hoạt động đạt gần 4.500 tỷ đồng. Trong đó, thu nhập thuần từ dịch vụ trở thành điểm sáng khi tăng 27% so với cùng kỳ, đẩy tỷ trọng thu nhập dịch vụ trong tổng thu nhập hoạt động lên trên 20%, so với mức 15% cùng kỳ.

Sẵn sàng “bắc cầu”, hỗ trợ khách hàng khó khăn vì thương chiến

Theo tờ trình phân phối lợi nhuận, sau khi nộp thuế và trích lập các quỹ, lợi nhuận chưa phân phối năm 2024 của ngân hàng đạt 4.851 tỷ đồng. Đáng chú ý, TPBank bổ sung phương án chia cổ tức bằng tiền mặt và tăng vốn điều lệ thông qua phát hành cổ phiếu trả cổ tức trong năm nay. Theo tờ trình mới, TPBank sẽ chi trả cổ tức 10% bằng tiền mặt, sử dụng nguồn lợi nhuận chưa phân phối sau khi trích lập các quỹ.

TPBank cũng dự kiến phát hành hơn 132 triệu cổ phiếu để trả cổ tức, tỷ lệ 5% (100 cổ phiếu nhận 5 cổ phiếu), tổng giá trị phát hành ước tính gần 1.321 tỷ đồng. Nguồn vốn sẽ lấy từ lợi nhuận chưa phân phối sau khi trích lập các quỹ. Nếu phương án này được thông qua, vốn điều lệ sẽ tăng lên hơn 27.740 tỷ đồng. Đây là năm thứ ba liên tiếp TPBank thực hiện chia cổ tức bằng cả tiền mặt và cổ phiếu.

Tại phiên thảo luận, các cổ đông bày tỏ sự quan tâm đến nhiều nội dung quan trọng. Trong đó, nổi bật là tác động của căng thẳng thương mại toàn cầu đối với hoạt động của các doanh nghiệp xuất nhập khẩu và khu vực doanh nghiệp FDI, tỷ trọng của nhóm khách hàng này trong danh mục của TPBank cũng như các kế hoạch hỗ trợ cụ thể từ phía ngân hàng; khả năng tăng tỷ lệ sở hữu dành cho nhà đầu tư nước ngoài trong thời gian tới. Ngoài ra, hiện các ngân hàng thương mại hiện giữ lãi suất cho vay ở mức thấp, TPBank sẽ duy trì biên lãi ròng (NIM) ra sao?

TPBank tổ chức thành công Đại hội đồng cổ đông thường niên năm 2025
Toàn cảnh Đại hội đồng cổ đông thường niên năm 2025 của ngân hàng TPBank. Ảnh: TPBank.

Giải đáp câu hỏi của cổ đông, Tổng Giám đốc Nguyễn Hưng cho biết, danh mục dư nợ liên quan đến nhóm khách hàng xuất khẩu sang thị trường Mỹ hiện khoảng 10.800 tỷ đồng, rất nhỏ so với dư nợ cho vay. Với tình hình hiện nay, TPBank thận trọng trong việc cấp tín dụng mới xuất khẩu đi Mỹ. Hiện nhiều lĩnh vực gặp khó khăn do thuế suất cao trong khi biên lợi nhuận xuống thấp, chỉ dưới 10%. Trong bối cảnh đó, việc tìm kiếm lợi nhuận từ thị trường Mỹ trở nên ngày càng thách thức hơn, khiến kế hoạch mở rộng hoặc duy trì thị trường này với nhiều doanh nghiệp không còn khả thi như trước.

Tuy nhiên, ông Hưng nhấn mạnh mức độ ảnh hưởng hiện tại là không lớn và ngân hàng sẽ tiếp tục đồng hành cùng khách hàng, chủ động theo dõi để có giải pháp hỗ trợ phù hợp.

Với nhóm doanh nghiệp FDI, phần lớn không vay vốn từ các ngân hàng trong nước, do đặc thù thường sử dụng ngân hàng chính quốc để tài trợ vốn, họ giao dịch chủ yếu với TPBank qua thanh toán và kinh doanh ngoại tệ, nên mức độ ảnh hưởng tới hoạt động tín dụng của ngân hàng là không nhiều.

"Có chăng có 2-3 doanh nghiệp ở Đồng bằng sông Cửu Long gặp khó, chúng tôi cùng có phương án để hỗ trợ họ để cơ cấu lại sản xuất nếu cần thiết" - ông Hưng nêu rõ.

Chủ tịch Đỗ Minh Phú bổ sung thêm, "con bài" cuối cùng vẫn chưa được lật, mọi thứ có thể thay đổi rất nhanh, ngân hàng ứng phó với tâm thế "nước đến đâu, bắc cầu đến đấy", sẵn sàng đối phó và dự tính trước kịch bản khi khách hàng khó khăn để chia sẻ./.

Giữ NIM trong thách thức “tấm chăn ngắn”

Theo Tổng Giám đốc TPBank Nguyễn Hưng, ngân hàng phải đảm bảo các mức giới hạn, các chỉ tiêu như hệ số an toàn vốn (CAR), hạn mức tăng trưởng tín dụng cho phép, tỷ lệ vốn ngắn hạn cho vay dài hạn..., TPBank buộc phải tuân thủ chặt chẽ và duy trì hiệu quả hoạt động. Ví von giống như "tấm chăn ngắn", TPBank vừa phải đáp ứng các chỉ tiêu an toàn, đáp ứng nhu cầu tăng trưởng, hỗ trợ khách hàng và tham gia các chương trình ưu đãi, theo ông Hưng, việc giữ được NIM là một thách thức lớn. Để làm được điều đó, TPBank hài hoà đáp ứng các mục tiêu, thông qua đẩy mạnh tăng trưởng tiền gửi không kỳ hạn (CASA) nhằm giảm giá vốn, đồng thời chủ động tái cơ cấu nguồn vốn theo hướng hợp lý và hiệu quả./.

Ánh Tuyết

Đọc thêm

Lãi suất huy động chạm 9%/năm - áp lực vốn lan rộng

Lãi suất huy động chạm 9%/năm - áp lực vốn lan rộng

(TBTCO) - Khảo sát gần 50 ngân hàng ngày 24/3 cho thấy, lãi suất huy động tiếp tục tăng, với 10 ngân hàng nâng lãi suất kỳ hạn 6 tháng và 15 ngân hàng tăng ở kỳ hạn 12 tháng chỉ chưa đầy 1 tháng; mức cao nhất đã chạm 9%/năm. Trước diễn biến này, các ngân hàng lớn đều có dự tính riêng về điều hành chính sách lãi suất, khi dự báo chi phí vốn sẽ chịu áp lực.
Sau 3 tháng “án binh”, nhóm "big 4" đồng loạt nâng lãi suất lên tới 1,2 điểm phần trăm

Sau 3 tháng “án binh”, nhóm "big 4" đồng loạt nâng lãi suất lên tới 1,2 điểm phần trăm

Sau hơn 3 tháng giữ nguyên lãi suất kỳ hạn dài 12 - 24 tháng, Vietcombank, VietinBank và BIDV vừa đồng loạt tăng mạnh 0,7 - 1,2 điểm phần trăm, lên 5,9%/năm và 6,5%/năm, trong khi Agribank vẫn giữ nguyên. So với đầu quý IV/2025, mức tăng đã lên tới 1,8 điểm phần trăm, tạo hiệu ứng đáng chú ý khi nhóm “big 4” nắm khoảng 50% thị phần huy động.
Khách hàng may mắn “đón lộc” hơn 686 triệu đồng từ BIDV

Khách hàng may mắn “đón lộc” hơn 686 triệu đồng từ BIDV

(TBTCO) - Ngày 24/03/2026, tại Hà Tĩnh, Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam (BIDV) đã tổ chức lễ trao giải thưởng Đại Phát Lộc (Sổ tiết kiệm trị giá 686.868.686 đồng) đến khách hàng may mắn trong chương trình “Đón mùa lễ hội - Tiết kiệm bội quà”.
ADB công bố gói hỗ trợ tài chính giúp giảm thiểu tác động từ xung đột Trung Đông

ADB công bố gói hỗ trợ tài chính giúp giảm thiểu tác động từ xung đột Trung Đông

(TBTCO) - Ngân hàng Phát triển châu Á (ADB) ngày 24/3 đã công bố gói hỗ trợ tài chính nhằm giúp các quốc gia thành viên đang phát triển (DMC) giảm thiểu các tác động kinh tế và tài chính do xung đột ở Trung Đông gây ra.
OCB phấn đấu tăng lợi nhuận 39%, nâng vốn điều lệ vượt 30.000 tỷ đồng

OCB phấn đấu tăng lợi nhuận 39%, nâng vốn điều lệ vượt 30.000 tỷ đồng

Năm 2026, OCB đặt nhiều mục tiêu chiến lược, nổi bật là lợi nhuận trước thuế đạt 6.960 tỷ đồng (tăng 39%); tổng tài sản 354.214 tỷ đồng (tăng 10%). Ngân hàng dự kiến nâng vốn điều lệ lên 30.625 tỷ đồng nhằm mở rộng quy mô, tăng năng lực cạnh tranh; đồng thời, kiện toàn Hội đồng quản trị phục vụ giai đoạn tăng trưởng mới.
Eximbank khai trương trụ sở chính tại Hà Nội, đánh dấu bước chuyển mình trong chiến lược phát triển

Eximbank khai trương trụ sở chính tại Hà Nội, đánh dấu bước chuyển mình trong chiến lược phát triển

(TBTCO) - Ngày 24/3/2026, Ngân hàng TMCP Xuất nhập khẩu Việt Nam (Eximbank) chính thức khai trương trụ sở chính tại tòa nhà số 27 - 29 Lý Thái Tổ, phường Hoàn Kiếm, Hà Nội. Việc đặt trụ sở tại Thủ đô là bước triển khai quan trọng trong định hướng phát triển của ngân hàng đã được thông qua tại Đại hội đồng cổ đông năm 2025.
Sau cú tăng tới 300 điểm cơ bản, VDSC chỉ ra yếu tố giúp lãi suất huy động cân bằng

Sau cú tăng tới 300 điểm cơ bản, VDSC chỉ ra yếu tố giúp lãi suất huy động cân bằng

Báo cáo VDSC cho thấy năm 2026, ngành ngân hàng đón cả những cơ hội, lẫn những ràng buộc mang tính cấu trúc khác biệt. Trong ngắn hạn, áp lực thanh khoản là thách thức lớn khi lãi suất huy động đã tăng 100 - 300 điểm cơ bản, nhưng huy động vốn chỉ tăng 0,8%. VDSC dự đoán, lãi suất huy động tiếp tục tăng khi tỷ lệ LDR, tỷ lệ vốn ngắn hạn cho vay trung dài hạn được kiểm soát tốt hơn.
Ngân hàng Đầu tư châu Âu công bố khoản tín dụng 200 triệu EUR cho các dự án khí hậu tại Việt Nam

Ngân hàng Đầu tư châu Âu công bố khoản tín dụng 200 triệu EUR cho các dự án khí hậu tại Việt Nam

(TBTCO) - Ngày 24/3, tại Hà Nội, Ngân hàng Đầu tư châu Âu (EIB) và Ngân hàng thương mại cổ phần kỹ thương Việt Nam (Techcombank) đã công bố thỏa thuận tài trợ trị giá 200 triệu EUR nhằm đẩy nhanh các dự án hành động vì khí hậu, môi trường và phát triển bền vững trên khắp Việt Nam.
Xem thêm
DOJI Giá mua Giá bán
SJC -Bán Lẻ 17,050 17,350
Kim TT/AVPL 17,060 17,360
NHẪN TRÒN 9999 HƯNG THỊNH VƯỢNG 17,050 17,350
Nguyên Liệu 99.99 16,250 ▼100K 16,450 ▼100K
Nguyên Liệu 99.9 16,200 ▼100K 16,400 ▼100K
NỮ TRANG 9999 - BÁN LẺ 16,900 17,300
NỮ TRANG 999 - BÁN LẺ 16,850 17,250
Nữ trang 99 - Bán Lẻ 16,780 17,230
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 170,500 173,500
Hà Nội - PNJ 170,500 173,500
Đà Nẵng - PNJ 170,500 173,500
Miền Tây - PNJ 170,500 173,500
Tây Nguyên - PNJ 170,500 173,500
Đông Nam Bộ - PNJ 170,500 173,500
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 17,050 17,350
Miếng SJC Nghệ An 17,050 17,350
Miếng SJC Thái Bình 17,050 17,350
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 17,050 17,350
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 17,050 17,350
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 17,050 17,350
NL 99.90 15,970 ▼300K
NL 99.99, Nhẫn Tròn Thái Bình 16,000 ▼300K
Trang sức 99.9 16,540 17,240
Trang sức 99.99 16,550 17,250
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 1,735
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,705 17,352
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,705 17,353
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,703 1,733
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,703 1,734
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,683 1,718
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 163,599 170,099
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 120,113 129,013
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 108,086 116,986
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 96,058 104,958
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 91,419 100,319
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 62,898 71,798
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 1,735
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 1,735
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 1,735
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 1,735
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 1,735
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 1,735
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 1,735
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 1,735
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 1,735
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 1,735
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 1,735
Cập nhật: 26/03/2026 13:00
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17780 18054 18629
CAD 18528 18805 19418
CHF 32621 33005 33653
CNY 0 3470 3830
EUR 29840 30113 31141
GBP 34394 34786 35728
HKD 0 3238 3440
JPY 158 162 168
KRW 0 16 18
NZD 0 14983 15570
SGD 20001 20283 20811
THB 719 782 835
USD (1,2) 26077 0 0
USD (5,10,20) 26118 0 0
USD (50,100) 26146 26166 26357
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,137 26,137 26,357
USD(1-2-5) 25,092 - -
USD(10-20) 25,092 - -
EUR 29,921 29,945 31,186
JPY 160.54 160.83 169.53
GBP 34,535 34,628 35,609
AUD 17,934 17,999 18,566
CAD 18,694 18,754 19,327
CHF 32,838 32,940 33,708
SGD 20,114 20,177 20,847
CNY - 3,780 3,897
HKD 3,300 3,310 3,428
KRW 16.12 16.81 18.18
THB 765.32 774.77 825.43
NZD 14,937 15,076 15,430
SEK - 2,766 2,847
DKK - 4,004 4,120
NOK - 2,670 2,748
LAK - 0.93 1.28
MYR 6,189.53 - 6,948.24
TWD 743.56 - 894.69
SAR - 6,897.55 7,220.87
KWD - 83,576 88,380
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,107 26,137 26,357
EUR 29,877 29,997 31,173
GBP 34,551 34,690 35,694
HKD 3,300 3,313 3,428
CHF 32,676 32,807 33,723
JPY 161.21 161.86 169.12
AUD 17,923 17,995 18,581
SGD 20,190 20,271 20,850
THB 783 786 821
CAD 18,705 18,780 19,347
NZD 15,025 15,555
KRW 16.77 18.40
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26150 26150 26357
AUD 17917 18017 18943
CAD 18692 18792 19809
CHF 32837 32867 34454
CNY 3753.6 3778.6 3914.1
CZK 0 1185 0
DKK 0 4050 0
EUR 29990 30020 31748
GBP 34660 34710 36473
HKD 0 3355 0
JPY 161.6 162.1 172.64
KHR 0 6.097 0
KRW 0 17.1 0
LAK 0 1.172 0
MYR 0 6810 0
NOK 0 2720 0
NZD 0 15065 0
PHP 0 410 0
SEK 0 2830 0
SGD 20154 20284 21006
THB 0 748.2 0
TWD 0 810 0
SJC 9999 17050000 17050000 17350000
SBJ 15000000 15000000 17350000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,167 26,217 26,357
USD20 26,167 26,217 26,357
USD1 23,847 26,217 26,357
AUD 17,973 18,073 19,192
EUR 30,143 30,143 31,577
CAD 18,652 18,752 20,073
SGD 20,242 20,392 20,971
JPY 162.11 163.61 168.28
GBP 34,570 34,920 36,015
XAU 17,048,000 0 17,352,000
CNY 0 3,666 0
THB 0 783 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 26/03/2026 13:00
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80