Đại hội đồng cổ đông TPBank: Hướng tới 600.000 tỷ đồng tổng tài sản, tiết lộ "la bàn" định hướng hoạt động

Ánh Tuyết
(TBTCO) - Năm 2026, TPBank đặt mục tiêu lợi nhuận trước thuế 10.300 tỷ đồng, tăng 12%; tổng tài sản hướng mốc 600.000 tỷ đồng. Ngân hàng đồng thời mở rộng hệ sinh thái khi dự kiến thành lập công ty bảo hiểm phi nhân thọ, đa dạng hóa nguồn thu. Lãnh đạo TPBank cũng chỉ rõ "la bàn" định hướng của ngân hàng để vượt biến động thị trường, trong bối cảnh quy mô tăng mạnh.
aa
Đại hội đồng cổ đông TPBank: Đưa lợi nhuận vượt đỉnh đạt 9.000 tỷ đồng, chia cổ tức 15% Ngân hàng số biến “mỏ kim cương” thô thành dữ liệu đầy giá trị
TPBank đặt mục tiêu lợi nhuận 10.300 tỷ đồng, tăng 12%, muốn lập ngân hàng thành viên tại VIFC

Tăng trưởng gắn kiểm soát rủi ro, chia cổ tức 20% bằng tiền và cổ phiếu

Ngày 22/4, tại Hà Nội, Ngân hàng TMCP Tiên Phong (TPBank - mã Ck: TPB) tổ chức Đại hội đồng cổ đông. Đại hội ghi nhận 106 cổ đông và người được ủy quyền tham dự, đại diện hơn 1,97 tỷ cổ phần, tương ứng 71,18% tổng số cổ phần có quyền biểu quyết.

Đại hội đồng cổ đông TPBank
Ngân hàng TPBank tổ chức Đại hội đồng cổ đông.

Đại hội tập trung thảo luận báo cáo hoạt động năm 2025 và định hướng chiến lược năm 2026, phương án chi trả cổ tức bằng tiền và kế hoạch tăng vốn điều lệ. Ngân hàng cũng xin ý kiến cổ đông về việc thành lập ngân hàng con 100% vốn nhằm hiện diện tại Trung tâm Tài chính quốc tế Việt Nam (VIFC), cùng chủ trương thành lập công ty con trong lĩnh vực bảo hiểm phi nhân thọ để mở rộng hệ sinh thái. Bên cạnh đó, đại hội xem xét các nội dung về miễn nhiệm, bổ sung thành viên Hội đồng quản trị nhiệm kỳ 2023 - 2028.

Năm 2026, TPBank kiên định định hướng tăng trưởng gắn với kiểm soát rủi ro, nâng cao chất lượng tài sản và hiệu quả hoạt động. Theo đó, ngân hàng dự kiến tăng trưởng dư nợ cho vay và chứng khoán nợ do tổ chức kinh tế trong nước phát hành 15%, đưa tổng dư nợ lên khoảng 360.000 tỷ đồng. Chỉ tiêu chính thức thực hiện theo thông báo của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam từng thời kỳ. Còn huy động vốn tăng 16%, với tổng tiền gửi khách hàng và giấy tờ có giá đạt 391.000 tỷ đồng.

Chất lượng tài sản tiếp tục được kiểm soát chặt, với tỷ lệ nợ xấu mục tiêu dưới 2,5%, trong khi thực tế năm 2025 (theo báo cáo tài chính kiểm toán) ở mức 0,96%.

Đại hội đồng cổ đông TPBank: Hướng tới 600.000 tỷ đồng tổng tài sản, tiết lộ
Nguồn: TPBank.

TPBank trình phương án chia cổ tức tổng tỷ lệ 20%, gồm 5% bằng tiền mặt và 15% bằng cổ phiếu. Thông qua việc phát hành cổ phiếu trả cổ tức, vốn điều lệ dự kiến tăng từ 27.740 tỷ đồng lên 32.901 tỷ đồng.

Đưa lãi trước thuế vượt 10.000 tỷ đồng

Năm 2026, TPBank đặt kế hoạch lợi nhuận trước thuế hợp nhất năm 2026 đạt 10.300 tỷ đồng, tăng 12%. Đồng thời, tổng tài sản hợp nhất hướng tới mốc 600.000 tỷ đồng, tương ứng mức tăng 19%.

Phương án chia cổ tức này không chỉ đảm bảo hài hòa lợi ích cổ đông mà còn góp phần củng cố nền tảng vốn, nâng cao hệ số an toàn và tạo dư địa cho tăng trưởng. Đây là cơ sở để TPBank tiếp tục đẩy mạnh đầu tư công nghệ, mở rộng tín dụng có chọn lọc và phát triển các lĩnh vực kinh doanh mới trong giai đoạn tới.

Tại đại hội, lãnh đạo TPBank cũng trình bày tờ trình về chủ trương thành lập/mua lại công ty con hoạt động trong lĩnh vực bảo hiểm phi nhân thọ (tạm gọi là TPBank Insurance). Giá trị đầu tư của TPBank tối thiểu 400 tỷ đồng, tỷ lệ sở hữu dự kiến của TPBank tại công ty con trên 50% và tối đa 100% vốn điều lệ.

Đáng chú ý, TPBank cũng thông qua chủ trương thành lập ngân hàng con 100% tại Trung tâm Tài chính Quốc tế Việt Nam ở TP. Hồ Chí Minh (VIFC-HCMC) với vốn điều lệ 3.000 tỷ đồng.

Lãi quý I/2026 hơn 2.300 tỷ đồng, đẩy mạnh đa dạng nguồn thu

Tại ĐHĐCĐ TPBank, cổ đông tập trung vào các vấn đề cốt lõi liên quan đến động lực tăng trưởng và chiến lược dài hạn.

Theo đó, cổ đông đề nghị lãnh đạo TPBank làm rõ động lực tăng trưởng mạnh của thu nhập từ phí và dịch vụ trong bối cảnh tăng trưởng tín dụng năm nay bị hạn chế. Bên cạnh đó, cổ đông quan tâm cách ngân hàng duy trì tỷ suất sinh lời khi quy mô tài sản vượt 500.000 tỷ đồng. Một nội dung khác là “kim chỉ nam” quản trị giúp TPBank ổn định trong giai đoạn biến động. Ngoài ra, cổ đông cũng đặt câu hỏi về rủi ro và những điểm cần lưu ý trong quá trình số hóa, đặc biệt khi TPBank là một trong những ngân hàng đi đầu về chuyển đổi số...

Đại hội đồng cổ đông TPBank: Hướng tới 600.000 tỷ đồng tổng tài sản, tiết lộ
Đồ họa: Ánh Tuyết.

Trả lời cổ đông về giai đoạn thị trường và nền kinh tế gặp nhiều biến động, Chủ tịch TPBank Đỗ Minh Phú ví von khi đi vào vùng biển bão tố, xuyên qua rừng sâu hay leo lên đỉnh núi, một thứ không thể thiếu, đó là “la bàn”.

Chủ tịch TPBank Đỗ Minh Phú cho rằng, ngoài “la bàn” ra, kim chỉ nam trong mọi hoạt động của TPBank là kỷ luật quản trị. Nếu con tàu muốn xuyên qua bão tố, vượt trùng dương, đương nhiên phải có đội ngũ chỉ huy con tàu, chính là Hội đồng quản trị, Ban điều hành, Ban kiểm soát, những cán bộ tâm huyết, kiên định và luôn vì mục tiêu của ngân hàng, chứ không phải mục tiêu cá nhân.

Với TPBank, “la bàn” đó là kỷ luật trong quản trị. Thứ nhất, kỷ luật quản trị về nguồn lực. Nguồn lực ở đây có nhân lực (đội ngũ nhân sự), vật lực (tài sản đang có), tài lực (nguồn vốn).

Thứ hai, quản trị về tài nguyên, đó chính là room tín dụng Ngân hàng Nhà nước cấp, song room hạn hẹp.

“Chúng ta phải quản trị rất tốt để khai thác có hiệu quả, room tín dụng vào đúng những ngành nghề, những hướng Chính phủ và Ngân hàng Nhà nước yêu cầu” - ông Phú nhấn mạnh.

TPBank đi đầu trong lĩnh vực chuyển đổi số, dữ liệu là nguồn tài nguyên. Nguồn dữ liệu phải “đúng - đủ - sạch - sống”, chia sẻ và kiểm soát được, đây là nguồn tài nguyên phải quản trị.

Thứ ba, quản trị rủi ro đặc biệt trong thời kỳ nhiễu động, rủi ro cần kiểm soát chặt chẽ.

Trước quy mô, tổng tài sản của ngân hàng ngày càng lớn, ông Nguyễn Hưng - Tổng Giám đốc TPBank nêu rõ, mức 500 - 600 nghìn tỷ đồng là quy mô rất lớn, đòi hỏi việc quản trị điều hành phải chuyên nghiệp hơn, rõ ràng. Trong những năm qua, ngân hàng cố gắng xây dựng bộ máy để cơ cấu hoạt động, cùng các quy trình, thể chế, các quy định của cơ quan quản lý nhà nước càng ngày càng chặt chẽ hơn.

Để đảm bảo danh mục tài sản sinh lời, lãnh đạo TPBank nêu rõ, ngân hàng không chỉ dựa vào tín dụng, nhất là trong bối cảnh chi phí vốn tăng, nhưng lãi suất cho vay lại giảm xuống. Do đó, một trong những động lực là thu ngoài lãi. Thứ hai, phải có được mức giá vốn bình quân hợp lý và thấp, thông qua việc nâng cao tỷ lệ CASA (tiền gửi không kỳ hạn).

Kết hợp với CASA, thu nhập lãi thuần, các hoạt động phí dịch vụ và thu ngoài lãi khác; đồng thời, việc quản trị danh mục tín dụng theo hướng rủi ro thấp, kiểm soát nợ xấu cũng góp phần giảm chi phí dự phòng. Bên cạnh đó, đẩy mạnh ứng dụng công nghệ giúp nâng cao năng suất lao động và tiết kiệm chi phí, đảm bảo lợi nhuận của ngân hàng.

Thông tin từ đại hội cũng cho thấy, TPBank khởi đầu tích cực năm 2026, hướng tới tăng trưởng bền vững. Theo đó, quý I/2026, TPBank ghi nhận lợi nhuận trước thuế hơn 2.310 tỷ đồng, tăng 9,5%; tổng tài sản vượt 519.000 tỷ đồng. Tỷ lệ nợ xấu kiểm soát dưới 1,5%, tiếp tục đảm bảo an toàn hệ thống.

Đại hội đồng cổ đông năm 2026 đã thông qua nhiều nội dung quan trọng nhằm củng cố nền tảng tài chính và năng lực quản trị. Về nhân sự, TPBank bầu bổ sung bà Đỗ Quỳnh Anh - Thành viên Hội đồng quản trị và bà Nguyễn Thị Hương Trang - Thành viên Hội đồng quản trị độc lập nhiệm kỳ 2023 - 2028, góp phần nâng cao tính đa dạng và độc lập trong quản trị./.

Ánh Tuyết

Đọc thêm

HDBank huy động thành công 721 triệu USD từ ADB, Standard Chartered và các định chế tài chính quốc tế

HDBank huy động thành công 721 triệu USD từ ADB, Standard Chartered và các định chế tài chính quốc tế

(TBTCO) - Ngân hàng TMCP Phát triển TP.HCM (HDBank - HoSE: HDB) vừa ký kết khoản vay hợp vốn quốc tế theo hình thức Khoản vay xã hội (Social Loan) trị giá 721 triệu USD, vượt khoảng 60% quy mô huy động ban đầu. Thành công của giao dịch tiếp tục khẳng định niềm tin của các định chế tài chính quốc tế đối với năng lực quản trị, chiến lược phát triển bền vững và triển vọng tăng trưởng của HDBank.
Diễn biến thị trường tiền tệ tuần 6 - 10/7: Hút ròng mạnh 31.000 tỷ đồng, tỷ giá giữ nhịp tăng 8 tuần

Diễn biến thị trường tiền tệ tuần 6 - 10/7: Hút ròng mạnh 31.000 tỷ đồng, tỷ giá giữ nhịp tăng 8 tuần

(TBTCO) - Diễn biến nổi bật thị trường tiền tệ tuần qua từ ngày 6 - 10/7 cho thấy, Ngân hàng Nhà nước dù hút ròng mạnh 31.379,6 tỷ đồng qua kênh OMO, nhưng lãi suất VND qua đêm vẫn giảm nhiệt còn 4,68%/năm. Trong khi đó, tỷ giá trung tâm tăng 8 đồng, lên 25.214 đồng, đánh dấu tuần tăng thứ 8 liên tiếp.
Tín dụng mở rộng, doanh nghiệp vẫn chờ thay đổi trong cách cho vay

Tín dụng mở rộng, doanh nghiệp vẫn chờ thay đổi trong cách cho vay

(TBTCO) - Tại Hội nghị Đối thoại Doanh nghiệp - Chính quyền TP. Hồ Chí Minh chuyên đề lĩnh vực ngân hàng, diễn ra ngày 10/7, Ngân hàng Nhà nước cho biết đang triển khai nhiều chương trình tín dụng quy mô lớn dành cho các lĩnh vực ưu tiên. Tuy nhiên, nhiều doanh nghiệp vẫn bày tỏ băn khoăn về khả năng tiếp cận vốn, đặc biệt là những vướng mắc trong quá trình thẩm định và cấp tín dụng.
Quỹ Prudence ra mắt Levela - nền tảng giáo dục tài chính miễn phí giúp nâng cao hiểu biết tài chính cho người trẻ tại châu Á và châu Phi

Quỹ Prudence ra mắt Levela - nền tảng giáo dục tài chính miễn phí giúp nâng cao hiểu biết tài chính cho người trẻ tại châu Á và châu Phi

(TBTCO) - Prudence Foundation, quỹ đầu tư cộng đồng của Prudential plc vừa công bố ra mắt Levela, nền tảng giáo dục tài chính miễn phí giúp người trẻ nhanh chóng trang bị các kỹ năng quản lý tài chính thiết yếu, hình thành thói quen tài chính tích cực và nâng cao sự tự tin trong việc quản lý tiền bạc.
Tỷ giá USD hôm nay (10/7): Tỷ giá trung tâm tăng nhẹ, thị trường chờ động thái tiếp theo của Fed và ECB

Tỷ giá USD hôm nay (10/7): Tỷ giá trung tâm tăng nhẹ, thị trường chờ động thái tiếp theo của Fed và ECB

(TBTCO) - Sáng 10/7, Ngân hàng Nhà nước công bố tỷ giá trung tâm ở mức 25.214 đồng, tăng 3 đồng. Trên thị trường quốc tế, chỉ số DXY giảm 0,13% xuống 100,94 điểm, trong bối cảnh Fed tiếp tục đánh giá các kịch bản khi lạm phát tại Mỹ vẫn ở mức quá cao, trong khi khả năng ECB tăng lãi suất vào tháng 9 vẫn hiện hữu.
Giá vàng hôm nay ngày 10/7: Vàng thế giới tăng lên 4.125 USD/ounce, vàng trong nước biến động trái chiều

Giá vàng hôm nay ngày 10/7: Vàng thế giới tăng lên 4.125 USD/ounce, vàng trong nước biến động trái chiều

(TBTCO) - Giá vàng thế giới giao dịch quanh 4.125 USD/ounce, tăng hơn 50 USD so với hôm qua. Trong nước, giá vàng miếng đồng loạt tăng trong khi giá vàng nhẫn ghi nhận diễn biến trái chiều giữa các thương hiệu.
Chuyên gia Ngân hàng Shinhan nhận diện nhân tố chi phối tăng trưởng GDP, tỷ giá nửa cuối năm

Chuyên gia Ngân hàng Shinhan nhận diện nhân tố chi phối tăng trưởng GDP, tỷ giá nửa cuối năm

(TBTCO) - Các chuyên gia Ngân hàng Shinhan đánh giá, nền kinh tế Việt Nam tiếp tục duy trì nền tảng tăng trưởng vững, với dòng FDI, đặc biệt từ Hàn Quốc vẫn gia tăng. Tuy nhiên, với độ mở của nền kinh tế, tỷ giá VND/USD trong nửa cuối năm sẽ chịu tác động từ nhiều yếu tố, trong đó có hai nhóm doanh nghiệp đối mặt rủi ro lớn.
SHB SAHA ra mắt tính năng “Sinh lời nhàn tênh”: Tự động sinh lời tới 6%/năm

SHB SAHA ra mắt tính năng “Sinh lời nhàn tênh”: Tự động sinh lời tới 6%/năm

(TBTCO) - Ngân hàng TMCP Sài Gòn - Hà Nội (SHB) chính thức ra mắt tính năng “Sinh lời nhàn tênh” trên ứng dụng ngân hàng số thế hệ mới SHB SAHA, mang đến giải pháp tài chính thông minh giúp khách hàng tối ưu dòng tiền nhàn rỗi, gia tăng hiệu quả sinh lời, đồng thời vẫn bảo đảm tính linh hoạt trong chi tiêu và quản lý tài chính hằng ngày.
Xem thêm
DOJI Giá mua Giá bán
SJC -Bán Lẻ 14,690 14,990
Kim TT/AVPL 14,500 14,900
NHẪN TRÒN 9999 HƯNG THỊNH VƯỢNG 14,500 14,900
Nguyên Liệu 99.99 13,400 13,600
Nguyên Liệu 99.9 13,350 13,550
NỮ TRANG 9999 - BÁN LẺ 13,900 14,400
NỮ TRANG 999 - BÁN LẺ 13,850 14,350
Nữ trang 99 - Bán Lẻ 13,780 14,330
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 145,000 149,000
Hà Nội - PNJ 145,000 149,000
Đà Nẵng - PNJ 145,000 149,000
Miền Tây - PNJ 145,000 149,000
Tây Nguyên - PNJ 145,000 149,000
Đông Nam Bộ - PNJ 145,000 149,000
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 14,690 14,990
Miếng SJC Nghệ An 14,690 14,990
Miếng SJC Thái Bình 14,690 14,990
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 14,550 14,900
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 14,550 14,900
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 14,550 14,900
NL 99.90 12,950
NL 99.99, Nhẫn Tròn Thái Bình 13,000
Trang sức 99.9 14,090 14,790
Trang sức 99.99 14,100 14,800
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,469 1,499
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,469 14,992
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,469 14,993
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,464 1,494
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,464 1,495
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,439 1,474
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 138,941 145,941
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 100,911 110,711
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 90,592 100,392
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 80,273 90,073
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 76,293 86,093
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 51,822 61,622
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,469 1,499
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,469 1,499
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,469 1,499
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,469 1,499
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,469 1,499
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,469 1,499
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,469 1,499
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,469 1,499
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,469 1,499
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,469 1,499
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,469 1,499
Cập nhật: 12/07/2026 04:00
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17719 17992 18579
CAD 18016 18291 18915
CHF 31829 32210 32858
CNY 0 3834 3927
EUR 29342 29562 30643
GBP 34402 34793 35736
HKD 0 3219 3422
JPY 155 159 166
KRW 0 16 18
NZD 0 14815 15410
SGD 19787 20068 20647
THB 704 767 821
USD (1,2) 25996 0 0
USD (5,10,20) 26037 0 0
USD (50,100) 26066 26080 26445
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,090 26,090 26,470
USD(1-2-5) 25,047 - -
USD(10-20) 25,047 - -
EUR 29,541 29,565 30,973
JPY 158.07 158.36 167.94
GBP 34,627 34,721 35,920
AUD 17,915 17,980 18,664
CAD 18,203 18,261 18,933
CHF 32,221 32,321 33,272
SGD 19,931 19,993 20,784
CNY - 3,802 3,947
HKD 3,284 3,294 3,432
KRW 16.1 16.79 18.26
THB 751.79 761.08 814.78
NZD 14,833 14,971 15,413
SEK - 2,675 2,769
DKK - 3,952 4,091
NOK - 2,646 2,740
LAK - 0.89 1.24
MYR 6,040.19 - 6,816.63
TWD 738.39 - 894.44
SAR - 6,880.56 7,246.62
KWD - 83,101 88,412
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,084 26,104 26,474
EUR 29,523 29,642 30,835
GBP 34,671 34,810 35,842
HKD 3,287 3,300 3,417
CHF 32,088 32,217 33,153
JPY 158.31 158.95 166.89
AUD 17,918 17,990 18,584
SGD 20,008 20,088 20,677
THB 768 771 808
CAD 18,237 18,310 18,882
NZD 14,937 15,479
KRW 16.70 18.47
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26048 26048 26474
AUD 17888 17988 18914
CAD 18182 18282 19295
CHF 32146 32176 33754
CNY 3815 3840 3975.4
CZK 0 1190 0
DKK 0 4025 0
EUR 29558 29588 31314
GBP 34716 34766 36521
HKD 0 3355 0
JPY 158.76 159.26 169.77
KHR 0 6.097 0
KRW 0 16.9 0
LAK 0 1.1677 0
MYR 0 6600 0
NOK 0 2710 0
NZD 0 14950 0
PHP 0 395 0
SEK 0 2735 0
SGD 19958 20088 20815
THB 0 733.1 0
TWD 0 820 0
SJC 9999 14690000 14690000 14990000
SBJ 13000000 13000000 14990000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,113 26,163 26,474
USD20 26,113 26,163 26,474
USD1 26,113 26,163 26,474
AUD 17,993 18,093 19,208
EUR 29,449 29,549 31,208
CAD 18,177 18,277 19,586
SGD 20,062 20,212 20,777
JPY 159.77 161.27 166.81
GBP 34,730 34,880 35,936
XAU 14,688,000 0 14,992,000
CNY 0 3,726 0
THB 0 769 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 12/07/2026 04:00
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80