Đại hội đồng cổ đông TPBank: Hướng tới 600.000 tỷ đồng tổng tài sản, tiết lộ "la bàn" định hướng hoạt động

Ánh Tuyết
(TBTCO) - Năm 2026, TPBank đặt mục tiêu lợi nhuận trước thuế 10.300 tỷ đồng, tăng 12%; tổng tài sản hướng mốc 600.000 tỷ đồng. Ngân hàng đồng thời mở rộng hệ sinh thái khi dự kiến thành lập công ty bảo hiểm phi nhân thọ, đa dạng hóa nguồn thu. Lãnh đạo TPBank cũng chỉ rõ "la bàn" định hướng của ngân hàng để vượt biến động thị trường, trong bối cảnh quy mô tăng mạnh.
aa
Đại hội đồng cổ đông TPBank: Đưa lợi nhuận vượt đỉnh đạt 9.000 tỷ đồng, chia cổ tức 15% Ngân hàng số biến “mỏ kim cương” thô thành dữ liệu đầy giá trị
TPBank đặt mục tiêu lợi nhuận 10.300 tỷ đồng, tăng 12%, muốn lập ngân hàng thành viên tại VIFC

Tăng trưởng gắn kiểm soát rủi ro, chia cổ tức 20% bằng tiền và cổ phiếu

Ngày 22/4, tại Hà Nội, Ngân hàng TMCP Tiên Phong (TPBank - mã Ck: TPB) tổ chức Đại hội đồng cổ đông. Đại hội ghi nhận 106 cổ đông và người được ủy quyền tham dự, đại diện hơn 1,97 tỷ cổ phần, tương ứng 71,18% tổng số cổ phần có quyền biểu quyết.

Đại hội đồng cổ đông TPBank
Ngân hàng TPBank tổ chức Đại hội đồng cổ đông.

Đại hội tập trung thảo luận báo cáo hoạt động năm 2025 và định hướng chiến lược năm 2026, phương án chi trả cổ tức bằng tiền và kế hoạch tăng vốn điều lệ. Ngân hàng cũng xin ý kiến cổ đông về việc thành lập ngân hàng con 100% vốn nhằm hiện diện tại Trung tâm Tài chính quốc tế Việt Nam (VIFC), cùng chủ trương thành lập công ty con trong lĩnh vực bảo hiểm phi nhân thọ để mở rộng hệ sinh thái. Bên cạnh đó, đại hội xem xét các nội dung về miễn nhiệm, bổ sung thành viên Hội đồng quản trị nhiệm kỳ 2023 - 2028.

Năm 2026, TPBank kiên định định hướng tăng trưởng gắn với kiểm soát rủi ro, nâng cao chất lượng tài sản và hiệu quả hoạt động. Theo đó, ngân hàng dự kiến tăng trưởng dư nợ cho vay và chứng khoán nợ do tổ chức kinh tế trong nước phát hành 15%, đưa tổng dư nợ lên khoảng 360.000 tỷ đồng. Chỉ tiêu chính thức thực hiện theo thông báo của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam từng thời kỳ. Còn huy động vốn tăng 16%, với tổng tiền gửi khách hàng và giấy tờ có giá đạt 391.000 tỷ đồng.

Chất lượng tài sản tiếp tục được kiểm soát chặt, với tỷ lệ nợ xấu mục tiêu dưới 2,5%, trong khi thực tế năm 2025 (theo báo cáo tài chính kiểm toán) ở mức 0,96%.

Đại hội đồng cổ đông TPBank: Hướng tới 600.000 tỷ đồng tổng tài sản, tiết lộ
Nguồn: TPBank.

TPBank trình phương án chia cổ tức tổng tỷ lệ 20%, gồm 5% bằng tiền mặt và 15% bằng cổ phiếu. Thông qua việc phát hành cổ phiếu trả cổ tức, vốn điều lệ dự kiến tăng từ 27.740 tỷ đồng lên 32.901 tỷ đồng.

Đưa lãi trước thuế vượt 10.000 tỷ đồng

Năm 2026, TPBank đặt kế hoạch lợi nhuận trước thuế hợp nhất năm 2026 đạt 10.300 tỷ đồng, tăng 12%. Đồng thời, tổng tài sản hợp nhất hướng tới mốc 600.000 tỷ đồng, tương ứng mức tăng 19%.

Phương án chia cổ tức này không chỉ đảm bảo hài hòa lợi ích cổ đông mà còn góp phần củng cố nền tảng vốn, nâng cao hệ số an toàn và tạo dư địa cho tăng trưởng. Đây là cơ sở để TPBank tiếp tục đẩy mạnh đầu tư công nghệ, mở rộng tín dụng có chọn lọc và phát triển các lĩnh vực kinh doanh mới trong giai đoạn tới.

Tại đại hội, lãnh đạo TPBank cũng trình bày tờ trình về chủ trương thành lập/mua lại công ty con hoạt động trong lĩnh vực bảo hiểm phi nhân thọ (tạm gọi là TPBank Insurance). Giá trị đầu tư của TPBank tối thiểu 400 tỷ đồng, tỷ lệ sở hữu dự kiến của TPBank tại công ty con trên 50% và tối đa 100% vốn điều lệ.

Đáng chú ý, TPBank cũng thông qua chủ trương thành lập ngân hàng con 100% tại Trung tâm Tài chính Quốc tế Việt Nam ở TP. Hồ Chí Minh (VIFC-HCMC) với vốn điều lệ 3.000 tỷ đồng.

Lãi quý I/2026 hơn 2.300 tỷ đồng, đẩy mạnh đa dạng nguồn thu

Tại ĐHĐCĐ TPBank, cổ đông tập trung vào các vấn đề cốt lõi liên quan đến động lực tăng trưởng và chiến lược dài hạn.

Theo đó, cổ đông đề nghị lãnh đạo TPBank làm rõ động lực tăng trưởng mạnh của thu nhập từ phí và dịch vụ trong bối cảnh tăng trưởng tín dụng năm nay bị hạn chế. Bên cạnh đó, cổ đông quan tâm cách ngân hàng duy trì tỷ suất sinh lời khi quy mô tài sản vượt 500.000 tỷ đồng. Một nội dung khác là “kim chỉ nam” quản trị giúp TPBank ổn định trong giai đoạn biến động. Ngoài ra, cổ đông cũng đặt câu hỏi về rủi ro và những điểm cần lưu ý trong quá trình số hóa, đặc biệt khi TPBank là một trong những ngân hàng đi đầu về chuyển đổi số...

Đại hội đồng cổ đông TPBank: Hướng tới 600.000 tỷ đồng tổng tài sản, tiết lộ
Đồ họa: Ánh Tuyết.

Trả lời cổ đông về giai đoạn thị trường và nền kinh tế gặp nhiều biến động, Chủ tịch TPBank Đỗ Minh Phú ví von khi đi vào vùng biển bão tố, xuyên qua rừng sâu hay leo lên đỉnh núi, một thứ không thể thiếu, đó là “la bàn”.

Chủ tịch TPBank Đỗ Minh Phú cho rằng, ngoài “la bàn” ra, kim chỉ nam trong mọi hoạt động của TPBank là kỷ luật quản trị. Nếu con tàu muốn xuyên qua bão tố, vượt trùng dương, đương nhiên phải có đội ngũ chỉ huy con tàu, chính là Hội đồng quản trị, Ban điều hành, Ban kiểm soát, những cán bộ tâm huyết, kiên định và luôn vì mục tiêu của ngân hàng, chứ không phải mục tiêu cá nhân.

Với TPBank, “la bàn” đó là kỷ luật trong quản trị. Thứ nhất, kỷ luật quản trị về nguồn lực. Nguồn lực ở đây có nhân lực (đội ngũ nhân sự), vật lực (tài sản đang có), tài lực (nguồn vốn).

Thứ hai, quản trị về tài nguyên, đó chính là room tín dụng Ngân hàng Nhà nước cấp, song room hạn hẹp.

“Chúng ta phải quản trị rất tốt để khai thác có hiệu quả, room tín dụng vào đúng những ngành nghề, những hướng Chính phủ và Ngân hàng Nhà nước yêu cầu” - ông Phú nhấn mạnh.

TPBank đi đầu trong lĩnh vực chuyển đổi số, dữ liệu là nguồn tài nguyên. Nguồn dữ liệu phải “đúng - đủ - sạch - sống”, chia sẻ và kiểm soát được, đây là nguồn tài nguyên phải quản trị.

Thứ ba, quản trị rủi ro đặc biệt trong thời kỳ nhiễu động, rủi ro cần kiểm soát chặt chẽ.

Trước quy mô, tổng tài sản của ngân hàng ngày càng lớn, ông Nguyễn Hưng - Tổng Giám đốc TPBank nêu rõ, mức 500 - 600 nghìn tỷ đồng là quy mô rất lớn, đòi hỏi việc quản trị điều hành phải chuyên nghiệp hơn, rõ ràng. Trong những năm qua, ngân hàng cố gắng xây dựng bộ máy để cơ cấu hoạt động, cùng các quy trình, thể chế, các quy định của cơ quan quản lý nhà nước càng ngày càng chặt chẽ hơn.

Để đảm bảo danh mục tài sản sinh lời, lãnh đạo TPBank nêu rõ, ngân hàng không chỉ dựa vào tín dụng, nhất là trong bối cảnh chi phí vốn tăng, nhưng lãi suất cho vay lại giảm xuống. Do đó, một trong những động lực là thu ngoài lãi. Thứ hai, phải có được mức giá vốn bình quân hợp lý và thấp, thông qua việc nâng cao tỷ lệ CASA (tiền gửi không kỳ hạn).

Kết hợp với CASA, thu nhập lãi thuần, các hoạt động phí dịch vụ và thu ngoài lãi khác; đồng thời, việc quản trị danh mục tín dụng theo hướng rủi ro thấp, kiểm soát nợ xấu cũng góp phần giảm chi phí dự phòng. Bên cạnh đó, đẩy mạnh ứng dụng công nghệ giúp nâng cao năng suất lao động và tiết kiệm chi phí, đảm bảo lợi nhuận của ngân hàng.

Thông tin từ đại hội cũng cho thấy, TPBank khởi đầu tích cực năm 2026, hướng tới tăng trưởng bền vững. Theo đó, quý I/2026, TPBank ghi nhận lợi nhuận trước thuế hơn 2.310 tỷ đồng, tăng 9,5%; tổng tài sản vượt 519.000 tỷ đồng. Tỷ lệ nợ xấu kiểm soát dưới 1,5%, tiếp tục đảm bảo an toàn hệ thống.

Đại hội đồng cổ đông năm 2026 đã thông qua nhiều nội dung quan trọng nhằm củng cố nền tảng tài chính và năng lực quản trị. Về nhân sự, TPBank bầu bổ sung bà Đỗ Quỳnh Anh - Thành viên Hội đồng quản trị và bà Nguyễn Thị Hương Trang - Thành viên Hội đồng quản trị độc lập nhiệm kỳ 2023 - 2028, góp phần nâng cao tính đa dạng và độc lập trong quản trị./.

Ánh Tuyết

Đọc thêm

Xây dựng hệ sinh thái fintech ASEAN mở, an toàn và bền vững

Xây dựng hệ sinh thái fintech ASEAN mở, an toàn và bền vững

(TBTCO) - Chia sẻ tại Tọa đàm “Kiến tạo hệ sinh thái công nghệ tài chính khu vực: Từ chính sách đến hành động”, trong khuôn khổ Diễn đàn Tương lai ASEAN, ngày 9/6, Phó Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Văn Thắng đề nghị kiến tạo một hệ sinh thái công nghệ tài chính ASEAN mở, an toàn, minh bạch, bao trùm và bền vững.
Chất lượng tài sản ngân hàng có dấu hiệu suy yếu, ba "biến số" làm gia tăng áp lực nợ xấu

Chất lượng tài sản ngân hàng có dấu hiệu suy yếu, ba "biến số" làm gia tăng áp lực nợ xấu

SSI Research cho rằng, ngành ngân hàng sẽ tiếp tục đối mặt áp lực thanh khoản, NIM thu hẹp và chất lượng tài sản suy yếu trong nửa cuối năm 2026. Đáng chú ý, rủi ro từ lãi suất thả nổi, nhu cầu tái cấp vốn cho chủ đầu tư bất động sản và điều chỉnh quy hoạch Hà Nội có thể tạo thêm áp lực lên nợ xấu.
Tín dụng tiếp đà tăng, thanh khoản ngân hàng kỳ vọng cải thiện dần từ cuối năm 2026

Tín dụng tiếp đà tăng, thanh khoản ngân hàng kỳ vọng cải thiện dần từ cuối năm 2026

(TBTCO) - Thanh khoản hệ thống ngân hàng tiếp tục chịu áp lực khi tín dụng tăng 5,71% tính đến cuối tháng 5, vượt xa tốc độ huy động vốn và khiến chênh lệch giữa tín dụng - huy động ngày càng nới rộng. Tuy nhiên, giới phân tích kỳ vọng, nguồn vốn huy động sẽ cải thiện dần từ cuối năm 2026 nhờ sự hỗ trợ của nhiều động lực trong và ngoài hệ thống.
Eximbank biến động nhân sự cấp cao trước thềm Đại hội đồng cổ đông bất thường

Eximbank biến động nhân sự cấp cao trước thềm Đại hội đồng cổ đông bất thường

(TBTCO) - Ngân hàng TMCP Xuất nhập khẩu Việt Nam (Eximbank, mã ck: EIB) đã chính thức phát đi thông báo về việc tiếp tục triển khai các nội dung quản trị và thay đổi nhân sự quan trọng thuộc Hội đồng quản trị. Đây là bước đi nằm trong định hướng chuyển đổi đã được Đại hội đồng cổ đông thường niên năm 2026 thông qua.
Hơn 60% dư nợ tập trung cho lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn

Hơn 60% dư nợ tập trung cho lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn

(TBTCO) - Phó Tổng Giám đốc Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam (Agribank) cho biết, hiện dư nợ lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn chiếm trên 60% trong tổng dư nợ cho vay nền kinh tế trên 2 triệu tỷ đồng của Agribank.
Tỷ giá chịu sức ép ngắn hạn khi nhập siêu tăng, USD phục hồi

Tỷ giá chịu sức ép ngắn hạn khi nhập siêu tăng, USD phục hồi

(TBTCO) - Sau giai đoạn hạ nhiệt đầu năm, tỷ giá USD/VND chịu áp lực trở lại khi USD phục hồi mạnh trước căng thẳng Mỹ - Iran. Dù mới tăng khoảng 0,1% từ đầu năm, tỷ giá vẫn đối mặt sức ép từ xu hướng trượt giá của VND và cán cân thương mại thâm hụt 6 tháng liên tiếp, dù triển vọng cuối năm được kỳ vọng tích cực hơn.
Bắt nhịp “sóng” lãi suất, doanh nghiệp bảo hiểm xoay trục danh mục "trăm nghìn tỷ"

Bắt nhịp “sóng” lãi suất, doanh nghiệp bảo hiểm xoay trục danh mục "trăm nghìn tỷ"

(TBTCO) - Mặt bằng lãi suất huy động ở mức cao là động lực, đưa tổng lợi nhuận hoạt động tài chính các doanh nghiệp bảo hiểm niêm yết quý I/2026 tăng 14% so với cùng kỳ. Quản lý danh mục đầu tư hơn 350.000 tỷ đồng, các doanh nghiệp chủ động cơ cấu danh mục tài sản, tăng tiền gửi và khóa lãi suất nhằm cải thiện hiệu quả sinh lời.
Giá vàng hôm nay ngày 7/6: Vàng miếng và vàng nhẫn đồng loạt lao dốc

Giá vàng hôm nay ngày 7/6: Vàng miếng và vàng nhẫn đồng loạt lao dốc

(TBTCO) - Giá vàng trong nước tiếp tục giảm mạnh tại nhiều doanh nghiệp lớn, với mức điều chỉnh phổ biến từ 3 - 4 triệu đồng/lượng. Vàng miếng và vàng nhẫn đồng loạt lùi về vùng 146,2 - 150,2 triệu đồng/lượng.
Xem thêm

Mới nhất Đọc nhiều

DOJI Giá mua Giá bán
SJC -Bán Lẻ 13,330 ▼550K 13,830 ▼550K
Kim TT/AVPL 13,430 ▼450K 13,830 ▼550K
NHẪN TRÒN 9999 HƯNG THỊNH VƯỢNG 13,270 ▼610K 13,830 ▼550K
Nguyên Liệu 99.99 13,350 ▼450K 13,550 ▼450K
Nguyên Liệu 99.9 13,300 ▼450K 13,500 ▼450K
NỮ TRANG 9999 - BÁN LẺ 13,400 ▼400K 13,800 ▼500K
NỮ TRANG 999 - BÁN LẺ 13,350 ▼400K 13,750 ▼500K
Nữ trang 99 - Bán Lẻ 13,280 ▼400K 13,730 ▼500K
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 133,800 ▼5000K 138,800 ▼5000K
Hà Nội - PNJ 133,800 ▼5000K 138,800 ▼5000K
Đà Nẵng - PNJ 133,800 ▼5000K 138,800 ▼5000K
Miền Tây - PNJ 133,800 ▼5000K 138,800 ▼5000K
Tây Nguyên - PNJ 133,800 ▼5000K 138,800 ▼5000K
Đông Nam Bộ - PNJ 133,800 ▼5000K 138,800 ▼5000K
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 13,330 ▼550K 13,830 ▼550K
Miếng SJC Nghệ An 13,330 ▼550K 13,830 ▼550K
Miếng SJC Thái Bình 13,330 ▼550K 13,830 ▼550K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 13,330 ▼550K 13,830 ▼550K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 13,330 ▼550K 13,830 ▼550K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 13,330 ▼550K 13,830 ▼550K
NL 99.90 13,050 ▼400K
NL 99.99, Nhẫn Tròn Thái Bình 13,100 ▼400K
Trang sức 99.9 13,020 ▼550K 13,720 ▼550K
Trang sức 99.99 13,030 ▼550K 13,730 ▼550K
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,333 ▼55K 1,383 ▼55K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,333 ▼55K 13,832 ▼550K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,333 ▼55K 13,833 ▼550K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,332 ▼54K 1,382 ▼54K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,332 ▼54K 1,383 ▼54K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,312 ▼54K 1,367 ▼54K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 128,347 ▼5346K 135,347 ▼5346K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 93,185 ▼4051K 102,685 ▼4051K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 83,615 ▼3673K 93,115 ▼3673K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 74,045 ▲66311K 83,545 ▲74861K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 70,354 ▼3149K 79,854 ▼3149K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 4,766 ▼45146K 5,716 ▼53696K
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,333 ▼55K 1,383 ▼55K
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,333 ▼55K 1,383 ▼55K
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,333 ▼55K 1,383 ▼55K
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,333 ▼55K 1,383 ▼55K
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,333 ▼55K 1,383 ▼55K
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,333 ▼55K 1,383 ▼55K
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,333 ▼55K 1,383 ▼55K
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,333 ▼55K 1,383 ▼55K
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,333 ▼55K 1,383 ▼55K
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,333 ▼55K 1,383 ▼55K
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,333 ▼55K 1,383 ▼55K
Cập nhật: 10/06/2026 18:30
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17911 18185 18764
CAD 18364 18640 19260
CHF 32310 32693 33334
CNY 0 3842 3935
EUR 29785 30007 31088
GBP 34458 34850 35783
HKD 0 3228 3430
JPY 157 161 167
KRW 0 16 18
NZD 0 14985 15573
SGD 19899 20181 20757
THB 716 779 832
USD (1,2) 26054 0 0
USD (5,10,20) 26095 0 0
USD (50,100) 26124 26138 26410
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,130 26,130 26,410
USD(1-2-5) 25,085 - -
USD(10-20) 25,085 - -
EUR 29,941 29,965 31,273
JPY 159.88 160.17 169.2
GBP 34,673 34,767 35,827
AUD 18,166 18,232 18,854
CAD 18,558 18,618 19,229
CHF 32,636 32,737 33,576
SGD 20,050 20,112 20,824
CNY - 3,817 3,948
HKD 3,296 3,306 3,432
KRW 15.94 16.62 18.01
THB 764.27 773.71 825.41
NZD 15,002 15,141 15,531
SEK - 2,739 2,825
DKK - 4,006 4,131
NOK - 2,735 2,820
LAK - 0.91 1.26
MYR 6,063.87 - 6,818.96
TWD 752.89 - 908.55
SAR - 6,901.9 7,242.16
KWD - 83,501 88,500
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,120 26,140 26,410
EUR 29,830 29,950 31,137
GBP 34,602 34,741 35,759
HKD 3,291 3,304 3,420
CHF 32,403 32,533 33,442
JPY 160.16 160.80 168.62
AUD 18,156 18,229 18,820
SGD 20,107 20,188 20,771
THB 780 783 817
CAD 18,534 18,608 19,175
NZD 15,068 15,605
KRW 16.63 18.23
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26148 26148 26410
AUD 18096 18196 19121
CAD 18545 18645 19660
CHF 32542 32572 34162
CNY 3822.3 3847.3 3982.7
CZK 0 1220 0
DKK 0 4140 0
EUR 29962 29992 31715
GBP 34752 34802 36562
HKD 0 3355 0
JPY 160.51 161.01 171.52
KHR 0 6.097 0
KRW 0 16.9 0
LAK 0 1.165 0
MYR 0 6920 0
NOK 0 2850 0
NZD 0 15098 0
PHP 0 400 0
SEK 0 2840 0
SGD 20057 20187 20920
THB 0 744.7 0
TWD 0 820 0
SJC 9999 13330000 13330000 13830000
SBJ 11000000 11000000 13830000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,100 26,142 26,410
USD20 26,100 26,142 26,410
USD1 23,896 26,142 26,410
AUD 18,180 18,280 19,384
EUR 30,105 30,105 31,513
CAD 18,475 18,575 19,879
SGD 20,139 20,289 20,844
JPY 161.06 162.56 167.12
GBP 34,638 34,988 35,861
XAU 13,328,000 13,328,000 13,832,000
CNY 0 3,735 0
THB 0 780 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 10/06/2026 18:30
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80