Dịch vụ công toàn trình bảo hiểm xã hội: Chuyển từ “đưa lên mạng” sang phục vụ thực chất

Hà My
(TBTCO) - Việc vận hành các dịch vụ công trực tuyến toàn trình cho thấy chuyển biến rõ nét trong cung cấp dịch vụ công: không chỉ “được đưa lên môi trường số” mà thực sự vận hành theo hướng phục vụ, lấy sự thuận tiện của người dân làm trung tâm.
aa

Từ số hóa đến vận hành dịch vụ công toàn trình

Từ ngày 16/3/2026, 10 dịch vụ công trực tuyến toàn trình về bảo hiểm xã hội (BHXH), bảo hiểm y tế (BHYT) đã được đưa vào vận hành tại Hà Nội. Đây không chỉ là bước tiến trong cải cách thủ tục hành chính, mà còn cho thấy rõ điều kiện cốt lõi để dịch vụ công vận hành hiệu quả, thông suốt: đó là nền tảng dữ liệu đồng bộ, chính xác và năng lực tổ chức thực thi được chuẩn bị bài bản, lâu dài của BHXH Việt Nam.

Dịch vụ công toàn trình bảo hiểm xã hội: Chuyển từ “đưa lên mạng” sang phục vụ thực chất
Người dân thực hiện thủ tục hành chính về BHXH tại Trung tâm phục vụ hành chính công Đống Đa, Hà Nội. Ảnh: BHXHVN

Khác với số hóa thủ tục hành chính đơn thuần, dịch vụ công trực tuyến toàn trình cho phép toàn bộ quy trình từ tiếp nhận, kiểm tra, xử lý đến trả kết quả hồ sơ đều được thực hiện tự động trên môi trường số, với mức độ tự động hoá cao. Điều này đòi hỏi dữ liệu phải đầy đủ, chính xác và đồng bộ ngay từ đầu vào.

BHXH Việt Nam được giao quản lý, vận hành Cơ sở dữ liệu quốc gia về bảo hiểm - một trong 6 cơ sở dữ liệu quốc gia quan trọng, phục vụ chuyển đổi số quốc gia và cải cách thủ tục hành chính. Hệ thống dữ liệu của BHXH có quy mô lớn, bao phủ hầu hết người tham gia, thụ hưởng chính sách BHXH, BHYT trên phạm vi toàn quốc và liên tục được cập nhật, làm giàu theo tiêu chí “đúng, đủ, sạch, sống”. Đây chính là nền tảng để các dịch vụ công toàn trình có thể tự động hóa quy trình, hạn chế tối đa giấy tờ và rút ngắn thời gian xử lý.

Với việc vận hành 10 dịch vụ công trực tuyến toàn trình về bảo hiểm xã hội, người tham gia, thụ hưởng chính sách BHXH, BHYT có thể thực hiện toàn bộ thủ tục trực tuyến, không cần nộp hồ sơ giấy; đồng thời nhận kết quả qua môi trường điện tử hoặc dịch vụ bưu chính công ích. Nhờ đó, giúp tiết tiệm được đáng kể chi phí, thời gian giao dịch và không phụ thuộc vào địa giới hành chính.

Theo thống kê, tính đến hết năm 2025, BHXH Việt Nam đã xác thực hơn 100,2 triệu thông tin công dân; đồng bộ, chuẩn hóa 99,59% dữ liệu người tham gia, thụ hưởng; tiếp nhận 123,7 triệu hồ sơ, trong đó 91,81% thực hiện qua giao dịch điện tử; đồng thời kết nối với khoảng 13.000 cơ sở khám, chữa bệnh và nhiều nền tảng số quốc gia.

Trong năm 2025, BHXH Việt Nam cũng đã tiến hành rà soát 25 thủ tục hành chính trong các lĩnh vực thu - chi, giải quyết chế độ BHXH, BHYT, đảm bảo mục tiêu giảm tối thiểu 30% thời gian giải quyết và 30% chi phí tuân thủ theo yêu cầu của Chính phủ. Cùng với đó là việc chuẩn hóa mẫu biểu, thành phần hồ sơ, quy trình nghiệp vụ và dữ liệu, đặc biệt đối với 8 thủ tục hành chính trọng điểm phục vụ triển khai 82 nhóm thủ tục hành chính thiết yếu trong năm 2025.

Những kết quả này không chỉ cho thấy quy mô mà còn là mức độ sẵn sàng cao của dữ liệu - yếu tố nền tảng để 10 dịch vụ công toàn trình được vận hành thông suốt, bảo đảm mỗi giao dịch của người dân đều được xử lý nhanh chóng, chính xác và minh bạch hơn.

Vận hành đồng bộ, bảo đảm thông suốt, liên tục

Bên cạnh cung cấp nền tảng dữ liệu, một điểm nổi bật trong triển khai 10 dịch vụ công toàn trình là cách thức tổ chức vận hành mang tính hệ thống, nhiều tầng, bảo đảm xử lý thông suốt từ “đầu vào” đến “đầu ra”.

Tại các chi nhánh Trung tâm phục vụ hành chính công của TP. Hà Nội, cơ quan BHXH bố trí viên chức trực tiếp hướng dẫn, hỗ trợ người dân thực hiện thủ tục; đồng thời phối hợp với Trung tâm trong việc tiếp nhận, kiểm tra hồ sơ và xử lý các tình huống phát sinh ngay trên hệ thống.

Song song với đó, các bộ phận chuyên môn tại cơ quan BHXH luôn sẵn sàng hỗ trợ theo từng lĩnh vực nghiệp vụ như: thu, cấp sổ thẻ, giải quyết chế độ BHXH, BHYT…, tạo thành một quy trình xử lý thống nhất, liên thông và linh hoạt.

Ông Nguyễn Ngọc Huyến - Giám đốc BHXH TP. Hà Nội cho biết, với mục tiêu là hỗ trợ người dân ngay từ khâu đầu tiên, sau khi ký quy chế phối hợp với Trung tâm Phục vụ hành chính công, BHXH TP. Hà Nội đã bố trí cán bộ có kinh nghiệm, am hiểu nghiệp vụ, trực tiếp hỗ trợ tại các điểm tiếp nhận; đồng thời thiết lập cơ chế kết nối trực tiếp giữa cán bộ tại trung tâm với BHXH cơ sở. Nhờ đó, các vướng mắc phát sinh được trao đổi, xác minh và xử lý kịp thời, bảo đảm quá trình giải quyết hồ sơ của người dân diễn ra thông suốt.

Cùng với lực lượng hỗ trợ trực tiếp, các bộ phận phía sau thực hiện giám sát hệ thống, theo dõi tình trạng vận hành và kịp thời phối hợp xử lý các sự cố kỹ thuật. Đây là yếu tố then chốt bảo đảm dịch vụ công toàn trình vận hành thông suốt, liên tục, không gián đoạn, không ảnh hưởng đến quyền lợi của người tham gia, thụ hưởng chính sách BHXH, BHYT và bảo hiểm thất nghiệp.

Việc vận hành các dịch vụ công trực tuyến toàn trình cho thấy chuyển biến rõ nét trong cung cấp dịch vụ công: không chỉ “được đưa lên môi trường số” mà thực sự vận hành theo hướng phục vụ, lấy sự thuận tiện của người dân làm trung tâm.

Đằng sau sự thuận tiện của người dân là sự vận hành đồng bộ của toàn hệ thống. Mỗi hồ sơ, dù được thực hiện trực tuyến hay tại điểm tiếp nhận, đều được theo dõi, kiểm soát và xử lý kịp thời bởi các bộ phận chuyên môn. Điều này bảo đảm quyền lợi của người tham gia, thụ hưởng chính sách được giải quyết đầy đủ, nhanh chóng và chính xác./.

Việc triển khai hiệu quả 10 dịch vụ công trực tiếp toàn trình tại TP. Hà Nội không chỉ có ý nghĩa ở phạm vi địa phương, mà còn cho thấy sự chuẩn bị chủ động, bài bản của BHXH Việt Nam trong xây dựng dữ liệu, chuẩn hóa quy trình và đẩy mạnh giao dịch điện tử, sẵn sàng đáp ứng ngay khi triển khai dịch vụ công toàn trình trên diện rộng. Xuyên suốt quá trình đó, người dân luôn được xác định là trung tâm phục vụ, là mục tiêu và cũng là động lực của mọi nỗ lực cải cách của hệ thống BHXH Việt Nam.
Hà My

Đọc thêm

VPBank nâng vốn điều lệ lên ngưỡng 100.000 tỷ đồng trong bối cảnh tín dụng tăng mạnh

VPBank nâng vốn điều lệ lên ngưỡng 100.000 tỷ đồng trong bối cảnh tín dụng tăng mạnh

(TBTCO) - VPBank dự kiến phát hành hơn 2,06 tỷ cổ phiếu thưởng với tỷ lệ 26,04%, qua đó nâng vốn điều lệ từ 79.339 tỷ đồng lên 100.000 tỷ đồng ngay trong quý II - III/2026 và trở thành một trong những ngân hàng đầu tiên vượt mốc này. Kế hoạch tăng vốn diễn ra trong bối cảnh quy mô tín dụng hợp nhất mở rộng mạnh 10,2% chỉ sau một quý, đạt 1,06 triệu tỷ đồng.
Mức đóng và hưởng bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế điều chỉnh theo lương cơ sở mới thế nào?

Mức đóng và hưởng bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế điều chỉnh theo lương cơ sở mới thế nào?

(TBTCO) - Từ ngày 1/7/2026, mức lương cơ sở được điều chỉnh từ 2.340.000 đồng/tháng lên 2.530.000 đồng/tháng. Việc điều chỉnh này không chỉ tác động đến tiền lương, phụ cấp của cán bộ, công chức, viên chức và lực lượng vũ trang, mà còn là căn cứ để tính một số khoản đóng, mức hưởng trong chính sách bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế theo quy định của pháp luật.
Giải “cơn khát vốn” của doanh nghiệp vừa và nhỏ qua tổ chức cho vay không nhận tiền gửi

Giải “cơn khát vốn” của doanh nghiệp vừa và nhỏ qua tổ chức cho vay không nhận tiền gửi

(TBTCO) - Trong khi nhiều quốc gia phát triển mạnh các tổ chức cho vay không nhận tiền gửi, đặc biệt là cho thuê tài chính để hỗ trợ doanh nghiệp sản xuất, Việt Nam lại thiếu vắng các định chế tài chính trung gian đủ mạnh. Điều này khiến ngân hàng thương mại tiếp tục “gánh” phần lớn nhu cầu vốn của nền kinh tế.
BIDV phát hành gần 500 triệu cổ phiếu, nâng vốn điều lệ lên sát 78.000 tỷ đồng

BIDV phát hành gần 500 triệu cổ phiếu, nâng vốn điều lệ lên sát 78.000 tỷ đồng

(TBTCO) - BIDV vừa phê duyệt phương án phát hành hơn 498 triệu cổ phiếu để tăng vốn điều lệ thêm gần 4.982 tỷ đồng từ nguồn vốn chủ sở hữu, nâng vốn điều lệ lên hơn 77.782 tỷ đồng, tức tăng 6,8433%. Động thái tăng vốn diễn ra trong bối cảnh BIDV cần củng cố hệ số CAR, đáp ứng lộ trình triển khai Basel III và tạo dư địa mở rộng tín dụng.
Khảo sát từ Sun Life: Trách nhiệm chăm sóc gia đình khiến phụ nữ Việt Nam đối mặt với “ba tầng áp lực”

Khảo sát từ Sun Life: Trách nhiệm chăm sóc gia đình khiến phụ nữ Việt Nam đối mặt với “ba tầng áp lực”

(TBTCO) - Khảo sát mới đây do Sun Life thực hiện cho thấy phụ nữ Việt Nam đang phải đối mặt với nhiều áp lực chồng chéo về tài chính, sự nghiệp và sức khỏe cá nhân, xuất phát từ vai trò chăm sóc gia đình đa thế hệ, trong khi sự chuẩn bị cho các rủi ro tài chính dài hạn vẫn còn hạn chế.
Manulife Việt Nam nhận giải thưởng quốc tế về hoạt động cộng đồng

Manulife Việt Nam nhận giải thưởng quốc tế về hoạt động cộng đồng

(TBTCO) - Chiến dịch “Chọn Xanh cho Khỏe - Vì một Việt Nam thật Khỏe” của Manulife Việt Nam vừa được vinh danh tại giải thưởng quốc tế uy tín Global CSR & ESG Awards, ở hạng mục “Doanh nghiệp có chương trình cộng đồng xuất sắc”.
Tỷ giá USD hôm nay (20/5): Tỷ giá trung tâm tiếp tục tăng, DXY giữ đà phục hồi trên 99 điểm

Tỷ giá USD hôm nay (20/5): Tỷ giá trung tâm tiếp tục tăng, DXY giữ đà phục hồi trên 99 điểm

(TBTCO) - Sáng ngày 20/5, tỷ giá trung tâm được Ngân hàng Nhà nước nâng lên 25.135 đồng, tăng 2 đồng. Chỉ số DXY hiện ở mức 99,3 điểm, giữ đà phục hồi sau một đợt điều chỉnh mạnh vào ngày trước đó, phản ánh kỳ vọng Fed chưa sớm cắt giảm lãi suất trong năm nay. Đồng yên tiếp tục chịu áp lực mất giá dù kinh tế Nhật Bản tăng trưởng vượt dự báo.
Giá vàng hôm nay ngày 20/5: Vàng miếng lùi về vùng 163,5 triệu đồng/lượng

Giá vàng hôm nay ngày 20/5: Vàng miếng lùi về vùng 163,5 triệu đồng/lượng

(TBTCO) - Giá vàng trong nước điều chỉnh giảm tại nhiều doanh nghiệp lớn, đưa giá vàng miếng phổ biến lùi về vùng 161 - 163,5 triệu đồng/lượng.
Xem thêm

Mới nhất Đọc nhiều

DOJI Giá mua Giá bán
SJC -Bán Lẻ 15,940 16,240
Kim TT/AVPL 15,940 16,240
NHẪN TRÒN 9999 HƯNG THỊNH VƯỢNG 15,940 16,240
Nguyên Liệu 99.99 14,890 15,090
Nguyên Liệu 99.9 14,840 15,040
NỮ TRANG 9999 - BÁN LẺ 15,690 16,090
NỮ TRANG 999 - BÁN LẺ 15,640 16,040
Nữ trang 99 - Bán Lẻ 15,570 16,020
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 159,400 162,400
Hà Nội - PNJ 159,400 162,400
Đà Nẵng - PNJ 159,400 162,400
Miền Tây - PNJ 159,400 162,400
Tây Nguyên - PNJ 159,400 162,400
Đông Nam Bộ - PNJ 159,400 162,400
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 15,940 16,240
Miếng SJC Nghệ An 15,940 16,240
Miếng SJC Thái Bình 15,940 16,240
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 15,940 16,240
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 15,940 16,240
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 15,940 16,240
NL 99.90 14,600
NL 99.99, Nhẫn Tròn Thái Bình 14,650
Trang sức 99.9 15,430 16,130
Trang sức 99.99 15,440 16,140
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,594 1,624
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,594 16,242
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,594 16,243
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,589 1,619
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,589 162
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,569 1,604
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 152,312 158,812
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 111,562 120,462
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 100,333 109,233
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 89,104 98,004
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 84,773 93,673
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 58,143 67,043
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,594 1,624
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,594 1,624
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,594 1,624
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,594 1,624
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,594 1,624
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,594 1,624
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,594 1,624
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,594 1,624
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,594 1,624
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,594 1,624
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,594 1,624
Cập nhật: 22/05/2026 02:00
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 18279 18555 19130
CAD 18612 18889 19511
CHF 32876 33261 33915
CNY 0 3837 3929
EUR 30020 30293 31321
GBP 34640 35033 35959
HKD 0 3234 3436
JPY 159 163 169
KRW 0 16 18
NZD 0 15162 15753
SGD 20077 20359 20884
THB 723 786 839
USD (1,2) 26095 0 0
USD (5,10,20) 26137 0 0
USD (50,100) 26165 26180 26391
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,161 26,161 26,391
USD(1-2-5) 25,115 - -
USD(10-20) 25,115 - -
EUR 30,201 30,225 31,484
JPY 161.69 161.98 170.76
GBP 34,874 34,968 35,968
AUD 18,470 18,537 19,124
CAD 18,849 18,910 19,493
CHF 33,165 33,268 34,052
SGD 20,227 20,290 20,972
CNY - 3,811 3,934
HKD 3,307 3,317 3,436
KRW 16.19 16.88 18.26
THB 771.86 781.39 831.25
NZD 15,140 15,281 15,645
SEK - 2,780 2,861
DKK - 4,041 4,160
NOK - 2,801 2,884
LAK - 0.92 1.27
MYR 6,223.64 - 6,985.42
TWD 756.56 - 911.22
SAR - 6,925.36 7,252.09
KWD - 83,849 88,699
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,141 26,161 26,391
EUR 30,084 30,205 31,384
GBP 34,788 34,928 35,934
HKD 3,296 3,309 3,424
CHF 32,904 33,036 33,965
JPY 162 162.65 169.99
AUD 18,490 18,564 19,153
SGD 20,267 20,348 20,930
THB 789 792 827
CAD 18,818 18,894 19,465
NZD 15,206 15,739
KRW 16.85 18.49
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26203 26203 26391
AUD 18452 18552 19478
CAD 18793 18893 19907
CHF 33110 33140 34715
CNY 3816.9 3841.9 3977.1
CZK 0 1220 0
DKK 0 4140 0
EUR 30194 30224 31947
GBP 34917 34967 36728
HKD 0 3355 0
JPY 162.3 162.8 173.35
KHR 0 6.097 0
KRW 0 17 0
LAK 0 1.165 0
MYR 0 6920 0
NOK 0 2850 0
NZD 0 15266 0
PHP 0 400 0
SEK 0 2840 0
SGD 20228 20358 21091
THB 0 752.5 0
TWD 0 820 0
SJC 9999 15940000 15940000 16240000
SBJ 14000000 14000000 16240000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,191 26,241 26,391
USD20 26,191 26,241 26,391
USD1 26,191 26,241 26,391
AUD 18,472 18,572 19,684
EUR 30,310 30,310 31,719
CAD 18,735 18,835 20,143
SGD 20,301 20,451 21,360
JPY 162.79 164.29 168.83
GBP 34,811 35,161 36,033
XAU 15,948,000 0 16,242,000
CNY 0 3,726 0
THB 0 788 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 22/05/2026 02:00
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80