Doanh nghiệp quy mô nhỏ “xoay mình” tiếp cận vốn tín dụng

Anh Tú
(TBTCO) - Dù chiếm áp đảo về số lượng, nhưng doanh nghiệp nhỏ và vừa hiện chỉ tiếp cận chưa đến 20% tổng dư nợ tín dụng toàn hệ thống. Trong bối cảnh nhiều ngân hàng cam kết đồng hành, cùng nhiều chính sách mới hỗ trợ, doanh nghiệp cần chủ động chuyển mình để nắm bắt cơ hội.
aa
Doanh nghiệp quy mô nhỏ “xoay mình” tiếp cận vốn tín dụng
Vốn là yếu tố sống còn để doanh nghiệp nhỏ và vừa phát triển. Ảnh tư liệu

80% doanh nghiệp vừa và nhỏ đứng ngoài dòng chảy tín dụng?

Chia sẻ gần đây, ông Nguyễn Danh Nghĩa - Người sáng lập Công ty TNHH Thực phẩm Hoàn Hảo cho biết, doanh nghiệp được thành lập từ năm 2012 chuyên kinh doanh các sản phẩm đông lạnh chế biến từ thủy sản. Là một doanh nghiệp vừa và nhỏ, công ty gặp không ít khó khăn trong quá trình phát triển, song nhờ đồng hành lâu dài với một ngân hàng suốt 10 năm đã giúp doanh nghiệp tiếp cận nguồn vốn kịp thời và hỗ trợ thêm nhiều vấn đề liên quan về pháp lý.

Theo ông Nguyễn Danh Nghĩa, khó khăn đầu tiên với doanh nghiệp là về nguồn lực, đặc biệt là việc thiếu hụt nhân sự chất lượng cao. Tiếp đó là vấn đề tiếp cận vốn, do đó, việc đầu tư mở rộng và phát triển sản phẩm chưa kịp thời theo mong muốn của ban lãnh đạo công ty. Doanh nghiệp còn gặp bất lợi nhất định về công nghệ và phải cạnh tranh với các đối thủ lớn trong ngành.

Dù vậy, do có nhiều thuận lợi và sự đồng hành của ngân hàng, công ty từng bước mở rộng thị trường và bắt nhịp với xu hướng thương mại điện tử. Doanh nghiệp đang định hướng đầu tư mở rộng sản xuất và đa dạng hóa mặt hàng để hướng đến xuất khẩu.

Công ty Thực phẩm Hoàn Hảo là một trong số những doanh nghiệp nhỏ và vừa có thể tiếp cận nguồn tín dụng ngân hàng để tạo đà tăng trưởng. Trong khi đó, phần lớn doanh nghiệp quy mô nhỏ lại gặp khó khăn khi vay vốn, đây là một nghịch lý lớn bởi khu vực này chiếm tới 98% tổng số doanh nghiệp cả nước, tạo ra khoảng 70% việc làm và đóng góp gần 40% GDP.

Thống kê của Ngân hàng Nhà nước cho thấy, tính đến cuối năm 2024, tổng dư nợ tín dụng dành cho doanh nghiệp nhỏ và vừa chỉ đạt khoảng 2,74 triệu tỷ đồng, chưa đầy 20% tổng dư nợ toàn hệ thống. Như vậy, gần 80% doanh nghiệp nhỏ và vừa không có dư nợ ngân hàng, đồng nghĩa với việc khó có thể sử dụng đòn bẩy tài chính để mở rộng và phát triển.

Theo ông Ngô Tấn Long - Phó Tổng Giám đốc Ngân hàng Á Châu (ACB), vốn là yếu tố sống còn để doanh nghiệp nhỏ và vừa phát triển, nhưng hiện chỉ khoảng 17 - 20% số lượng doanh nghiệp có quan hệ vay vốn với các tổ chức tín dụng, điều này cho thấy khoảng cách rất lớn trong khả năng tiếp cận vốn.

Việc thiếu vốn khiến nhiều doanh nghiệp nhỏ và vừa bỏ lỡ cơ hội đầu tư hiệu quả, dù không ít dự án tuy quy mô nhỏ, nhưng giàu tính sáng tạo và linh hoạt có thể trở thành động lực đổi mới và tăng trưởng cho nền kinh tế. Nhiều doanh nghiệp gọi đây là “vòng xoáy con gà - quả trứng”, muốn phát triển thì cần vốn, nhưng chưa phát triển lại khó tiếp cận vốn vay.

Nhiều ngân hàng đồng hành, doanh nghiệp thêm cơ hội tiếp cận vốn

Thực tế, phần lớn ngân hàng thương mại vẫn ưu tiên các khoản vay lớn do hồ sơ tài chính rõ ràng, tài sản đảm bảo đầy đủ và chi phí thẩm định thấp. Trong khi đó, doanh nghiệp nhỏ và vừa thường gặp bất lợi vì thiếu minh bạch tài chính, tài sản thế chấp hạn chế và quy mô vay nhỏ nhưng lại đi kèm chi phí quản lý cao.

Đặc biệt, hệ thống tín dụng vẫn nặng về tài sản bảo đảm, chủ yếu là bất động sản. Các tài sản động như hàng tồn kho, máy móc hay dòng tiền tương lai dù tiềm năng nhưng chưa được đánh giá đúng mức. Hơn nữa, các doanh nghiệp lớn thường có quan hệ "hệ sinh thái" với ngân hàng. Họ không chỉ là khách hàng vay vốn, mà còn là người gửi tiền, sử dụng tài khoản thanh toán lương, bảo hiểm, dịch vụ bảo lãnh… nên được ưu đãi linh hoạt, kể cả khi cần tái cơ cấu nợ.

Tuy nhiên, nhiều ý kiến cho rằng, tập trung vốn vào một nhóm nhỏ doanh nghiệp cũng tiềm ẩn rủi ro hệ thống, chỉ cần một vài “ông lớn” gặp sự cố, toàn bộ hệ thống tài chính có thể chịu tác động dây chuyền.

Theo chia sẻ của ông Phạm Hồng Hải - Tổng Giám đốc Ngân hàng Phương Đông (OCB), ngân hàng đang dần chú trọng đến doanh nghiệp vừa và nhỏ, đặc biệt là nhóm startup, bởi đây là phân khúc tiềm năng phát triển lớn của thị trường.

Bài toán vốn vẫn là một trong những rào cản lớn nhất, đặc biệt đối với các startup chưa có tài sản bảo đảm. Nắm bắt thực tế này, OCB thiết kế chính sách tín dụng chuyên biệt, không đặt nặng yêu cầu tài sản thế chấp, mà tập trung đánh giá dựa trên dòng tiền, mô hình kinh doanh, năng lực quản trị và kinh nghiệm nhà sáng lập, đây là yếu tố phản ánh sát tiềm năng của một startup.

ACB cũng cam kết đồng hành cùng cộng đồng doanh nghiệp vừa và nhỏ không chỉ qua tín dụng, mà còn bằng các giải pháp tài chính toàn diện, giúp họ vượt qua các rào cản. "Hiện ACB phục vụ hơn 300.000 doanh nghiệp vừa và nhỏ, 800.000 hộ kinh doanh khắp Việt Nam và là ngân hàng tư nhân phục vụ doanh nghiệp vừa và nhỏ lớn nhất. ACB chứng kiến nhiều doanh nghiệp vươn mình lớn mạnh và tiếp tục đồng hành cùng họ" - Phó Tổng Giám đốc ACB Ngô Tấn Long cho biết.

Bên cạnh trông chờ vào hệ thống ngân hàng, theo lãnh đạo ACB, cần khơi thông và phát huy vai trò các công cụ hỗ trợ khác như quỹ bảo lãnh tín dụng, quỹ đầu tư tư nhân, hay các sàn gọi vốn cộng đồng, nhằm mở rộng các kênh huy động vốn cho doanh nghiệp.

Doanh nghiệp vừa và nhỏ chuyển mình để đón cơ hội

"Doanh nghiệp vừa và nhỏ cần tập trung vào ba điểm. Thứ nhất, thích ứng linh hoạt với môi trường kinh doanh, nắm bắt các cơ hội mới như Nghị quyết 68-NQ/TW với ưu đãi miễn thuế thu nhập doanh nghiệp 3 năm cho doanh nghiệp mới thành lập, giảm 30% tiền thuê đất 5 năm đầu tại khu/cụm công nghiệp cùng cắt giảm nhiều thủ tục hành chính. Thứ hai, đẩy mạnh chuyển đổi số và đổi mới sáng tạo, đây là cánh cửa dẫn đến phát triển bền vững. Bán hàng qua kênh số chứng minh mang lại lợi thế vượt trội, giúp tăng trưởng doanh thu. Thứ ba, tối ưu hóa quy trình quản lý tài chính, sổ sách minh bạch và quản lý dòng tiền tốt hơn để nâng cao uy tín khi quan hệ với ngân hàng" - ông Ngô Tấn Long - Phó Tổng Giám đốc ACB.

Anh Tú

Đọc thêm

IMF nâng dự báo GDP, loạt khuyến nghị giúp Việt Nam giữ đà tăng bền vững

IMF nâng dự báo GDP, loạt khuyến nghị giúp Việt Nam giữ đà tăng bền vững

(TBTCO) - Giữa nhiều biến động kinh tế toàn cầu, Việt Nam vẫn tăng trưởng nổi bật, được Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF) nâng dự báo GDP. Để duy trì thành quả này, IMF nhấn mạnh yêu cầu chuyển đổi mô hình, nâng cao chất lượng tăng trưởng, đồng thời khuyến nghị củng cố bộ đệm tài khóa và kiểm soát lạm phát trước những rủi ro toàn cầu.
Tỷ giá USD hôm nay (20/10): Tỷ giá trung tâm tăng, DXY đi ngang trước thềm cuộc họp Fed

Tỷ giá USD hôm nay (20/10): Tỷ giá trung tâm tăng, DXY đi ngang trước thềm cuộc họp Fed

(TBTCO) - Sáng 20/10, tỷ giá trung tâm tăng 6 đồng lên 25.639 đồng, trong khi USD ngân hàng biến động hẹp, chỉ số DXY quanh 101,95 điểm. Dù lạm phát Mỹ vượt dự báo, thị trường vẫn nghiêng về khả năng Fed giữ nguyên lãi suất tháng 10. Đồng USD được hỗ trợ bởi sự suy yếu của euro giữa bất ổn chính trị tại châu Âu.
Giá vàng hôm nay ngày 20/10: Vàng thế giới giảm về 4.143 USD/ounce, trong nước biến động trái chiều

Giá vàng hôm nay ngày 20/10: Vàng thế giới giảm về 4.143 USD/ounce, trong nước biến động trái chiều

(TBTCO) - Giá vàng thế giới giảm khoảng 23 USD/ounce, trong khi vàng miếng và vàng nhẫn trong nước biến động trái chiều, với mức điều chỉnh khác nhau giữa các thương hiệu.
VietinBank triển khai các giải pháp giảm lãi suất cho vay tới 2%/năm, tiếp sức tăng trưởng kinh tế

VietinBank triển khai các giải pháp giảm lãi suất cho vay tới 2%/năm, tiếp sức tăng trưởng kinh tế

(TBTCO) - Giảm lãi suất đến 2%/năm, VietinBank triển khai đồng bộ các giải pháp hỗ trợ hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp và người dân.
Giảm lãi suất không cào bằng, nhiều ngân hàng tung gói vay ưu đãi chỉ từ 6%/năm

Giảm lãi suất không cào bằng, nhiều ngân hàng tung gói vay ưu đãi chỉ từ 6%/năm

Thống đốc Ngân hàng Nhà nước đề nghị các tổ chức tín dụng giảm lãi suất cho vay thực chất, không cào bằng mà cần lựa chọn đúng đối tượng. Nhiều ngân hàng nhanh chóng công bố các gói tín dụng ưu đãi, giảm lãi suất cho vay tới 2%, với mức lãi suất từ 6%/năm, đồng thời chấp nhận giảm thu nhập để hỗ trợ doanh nghiệp.
LPBank được vinh danh Thương hiệu truyền cảm hứng tại APEA 2026

LPBank được vinh danh Thương hiệu truyền cảm hứng tại APEA 2026

(TBTCO) - LPBank được vinh danh Thương hiệu truyền cảm hứng tại Giải thưởng Doanh nghiệp Châu Á – Thái Bình Dương (APEA) 2026, ghi nhận hành trình tái định vị thương hiệu, đổi mới sản phẩm, nâng cao trải nghiệm khách hàng và tạo ra những giá trị tích cực cho cộng đồng.
Tỷ giá USD hôm nay (19/10): USD biến động hẹp, thị trường chờ tín hiệu từ các ngân hàng trung ương

Tỷ giá USD hôm nay (19/10): USD biến động hẹp, thị trường chờ tín hiệu từ các ngân hàng trung ương

(TBTCO) - Sáng 19/10, tỷ giá trung tâm giảm 4 đồng xuống 25.633 đồng, trong khi USD ngân hàng và thị trường tự do biến động hẹp. Chỉ số DXY dao động quanh 101,82 điểm. Tuần này, thị trường hướng sự chú ý đến dữ liệu PMI sơ bộ tháng 10 của Mỹ, các chỉ báo kinh tế và loạt quyết định lãi suất của các ngân hàng trung ương.
Giá vàng hôm nay ngày 19/10: Vàng trong nước giữ giá, thế giới giao dịch quanh 4.166 USD/ounce

Giá vàng hôm nay ngày 19/10: Vàng trong nước giữ giá, thế giới giao dịch quanh 4.166 USD/ounce

(TBTCO) - Giá vàng thế giới giao dịch quanh 4.166 USD/ounce, trong khi giá vàng miếng trong nước không có sự thay đổi với giá bán ra phổ biến ở mức 143,6 triệu đồng/lượng.
Xem thêm

Mới nhất Đọc nhiều

PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 138,400 ▼100K 141,400 ▼100K
Hà Nội - PNJ 138,400 ▼100K 141,400 ▼100K
Đà Nẵng - PNJ 138,400 ▼100K 141,400 ▼100K
Miền Tây - PNJ 138,400 ▼100K 141,400 ▼100K
Tây Nguyên - PNJ 138,400 ▼100K 141,400 ▼100K
Đông Nam Bộ - PNJ 138,400 ▼100K 141,400 ▼100K
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 13,930 ▼30K 14,230 ▼30K
Miếng SJC Nghệ An 13,930 ▼30K 14,230 ▼30K
Miếng SJC Thái Bình 13,930 ▼30K 14,230 ▼30K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 13,830 ▼40K 14,230 ▼20K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 13,830 ▼40K 14,230 ▼20K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 13,830 ▼40K 14,230 ▼20K
NL 99.99 13,150 ▼50K
Nhẫn Tròn Thái Bình 13,000 ▼50K
Trang sức 99.9 13,510 ▼20K 14,110 ▼20K
Trang sức 99.99 13,520 ▼20K 14,120 ▼20K
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,393 ▼3K 1,423 ▼3K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,393 ▼3K 14,232 ▼30K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,393 ▼3K 14,233 ▼30K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,374 ▼3K 1,409 ▼3K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,374 ▼3K 141 ▼1272K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,354 ▼3K 1,399 ▼3K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 131,515 ▼297K 138,515 ▼297K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 95,285 ▼226K 105,085 ▼226K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 85,492 ▼204K 95,292 ▼204K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 75,698 ▼183K 85,498 ▼183K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 7,192 ▼64903K 8,172 ▼73723K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 48,694 ▼125K 58,494 ▼125K
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,393 ▼3K 1,423 ▼3K
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,393 ▼3K 1,423 ▼3K
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,393 ▼3K 1,423 ▼3K
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,393 ▼3K 1,423 ▼3K
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,393 ▼3K 1,423 ▼3K
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,393 ▼3K 1,423 ▼3K
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,393 ▼3K 1,423 ▼3K
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,393 ▼3K 1,423 ▼3K
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,393 ▼3K 1,423 ▼3K
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,393 ▼3K 1,423 ▼3K
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,393 ▼3K 1,423 ▼3K
Cập nhật: 21/10/2026 10:30
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17644 17917 18492
CAD 17875 18149 18763
CHF 30686 31062 31697
CNY 0 3831 3926
EUR 28426 28643 29719
GBP 33804 34193 35133
HKD 0 3166 3368
JPY 156 160 167
KRW 0 18 20
NZD 0 14387 14971
SGD 19707 19989 20557
THB 685 748 801
USD (1,2) 25616 0 0
USD (5,10,20) 25654 0 0
USD (50,100) 25682 25696 26060
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 25,690 25,690 26,070
USD(1-2-5) 24,663 - -
USD(10-20) 24,663 - -
EUR 28,479 28,502 29,857
JPY 158.96 159.25 168.89
GBP 33,975 34,067 35,261
AUD 17,809 17,873 18,552
CAD 18,055 18,113 18,784
CHF 30,929 31,025 31,964
SGD 19,824 19,886 20,676
CNY - 3,800 3,946
HKD 3,230 3,240 3,376
KRW 17.97 18.74 20.39
THB 733.02 742.07 794.83
NZD 14,366 14,499 14,930
SEK - 2,566 2,658
DKK - 3,820 3,956
NOK - 2,704 2,800
LAK - 0.88 1.22
MYR 5,925.73 - 6,687.29
TWD 715.69 - 867.13
SAR - 6,780.49 7,143.39
KWD - 81,747 86,992
AED - 6,791 7,318
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 25,660 25,690 26,070
EUR 28,458 28,601 29,825
GBP 33,958 34,129 35,165
HKD 3,224 3,243 3,360
CHF 30,780 30,935 31,878
JPY 158.61 160.21 168.19
AUD 17,768 17,893 18,491
SGD 19,804 19,984 20,579
THB 738 753 790
CAD 18,016 18,143 18,742
NZD 14,447 15,004
KRW 18.83 20.82
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 25650 25680 26060
AUD 17800 17900 18835
CAD 18049 18149 19163
CHF 30924 30954 32536
CNY 3815.1 3840.1 3975.2
CZK 0 1140 0
DKK 0 3860 0
EUR 28600 28630 30355
GBP 34107 34157 35915
HKD 0 3300 0
JPY 159.95 160.45 170.97
KHR 0 6.097 0
KRW 0 19 0
LAK 0 1.0945 0
MYR 0 6445 0
NOK 0 2730 0
NZD 0 14489 0
PHP 0 380 0
SEK 0 2605 0
SGD 19867 19997 20722
THB 0 714.3 0
TWD 0 785 0
SJC 9999 14050000 14050000 14350000
SBJ 12500000 12500000 14350000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 25,584 25,704 26,000
USD20 25,554 25,704 26,000
USD1 25,534 25,704 26,000
AUD 17,876 17,976 19,081
EUR 28,399 28,499 29,970
CAD 18,000 18,100 19,406
SGD 19,943 20,093 20,910
JPY 160.47 161.97 167.53
GBP 33,996 34,146 35,460
XAU 13,928,000 0 14,232,000
CNY 0 3,793 0
THB 0 748 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 21/10/2026 10:30
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
BIDV 0,10 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
VietinBank 0,10 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
Agribank 0,20 - - - 2,60 2,60 2,90 4,00 4,00 5,90 6,00
ACB 0,50 - - - 4,00 4,20 4,40 4,50 4,70 5,30 5,40
Sacombank 0,50 - - - 4,75 4,75 4,75 6,30 6,30 6,10 6,80
Techcombank 0,05 - - - 4,20 4,20 4,50 6,20 6,20 6,40 5,50
LPBank 0,20 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 4,60 4,60
Vikki Bank 0,49 0,49 - - 4,64 4,64 4,64 5,75 5,52 5,76 5,43
Eximbank 0,20 0,20 0,20 0,20 2,80 3,00 3,10 4,20 4.00 4,70 5,30