Động lực để phát triển kinh tế số Việt Nam đạt mục tiêu đề ra

Đức Việt
(TBTCO) - Tại Hội thảo “Phát triển kinh tế số trong kỷ nguyên mới” được Báo Tài chính - Đầu tư tổ chức ngày 25/11, các chuyên gia đã phân tích xu hướng phát triển kinh tế số, những lĩnh vực tiềm năng, thách thức và động lực để kinh tế số Việt Nam đạt được mục tiêu đề ra.
aa

5G tạo nên làn sóng phát triển toàn diện và bền vững

Tham luận tại hội thảo, bà Rita Mokbel - Chủ tịch Ericsson Việt Nam cho biết, trong thập kỷ qua, Việt Nam đã đặt nền móng cho nền kinh tế số thông qua hạ tầng kết nối, dịch vụ công nghệ thông tin truyền thông và sớm ứng dụng công nghệ số. Hiện nay, Việt Nam đang bước vào một giai đoạn đầy tham vọng hơn, được dẫn dắt bởi đổi mới sáng tạo với động lực từ 5G, trí tuệ nhân tạo (AI) và điện toán đám mây.

Việt Nam đã xác lập tầm nhìn trở thành nền kinh tế có thu nhập cao vào năm 2045, trong đó kinh tế số đóng góp 30% GDP vào năm 2030. Chính phủ giữ vai trò trọng yếu trong việc tháo gỡ rào cản và thúc đẩy nhanh quá trình phát triển hạ tầng, đồng thời đặt mục tiêu xây dựng 100 thành phố thông minh vào năm 2040.

Động lực để phát triển kinh tế số Việt Nam đạt mục tiêu đề ra
Các diễn giả thảo luận tại diễn đàn. Ảnh: Chí Cường

Để hiện thực hóa mục tiêu này, Việt Nam sẽ tiếp tục khai thác sức mạnh của 5G nhằm triển khai Chương trình Chuyển đổi số Quốc gia, tập trung vào ba trụ cột chiến lược: chính phủ số, kinh tế số và xã hội số.

“Việc thương mại hóa 5G tại Việt Nam gần đây đã hiện thực hóa tầm nhìn của Chính phủ về việc tận dụng khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo để thúc đẩy chuyển đổi số trong doanh nghiệp, đồng thời tăng tốc triển khai Công nghiệp 4.0 trên phạm vi toàn quốc. 5G được kỳ vọng sẽ tạo nên làn sóng phát triển kinh tế - xã hội toàn diện và bền vững tiếp theo cho Việt Nam” - Chủ tịch Ericsson Việt Nam cho hay.

Các chính sách mới được đưa vào cuộc sống trong một thời gian ngắn

Phó Cục trưởng Cục Viễn thông Nguyễn Phong Nhã cho biết, về mặt chính sách, dựa trên 4 nghị quyết được đưa ra, tốc độ hoàn thiện các thể chế, giải quyết những vấn đề khó khăn của cuộc sống bằng pháp luật rất nhanh chóng. Các chính sách mới được đưa vào cuộc sống trong một thời gian ngắn, tạo nên môi trường kinh doanh ngày càng minh bạch, tạo điều kiện cho các hoạt động trên môi trường số nhanh chóng, thuận lợi.

Còn theo ông Nguyễn Phong Nhã - Phó Cục trưởng Cục Viễn thông, Bộ Khoa học và Công nghệ, hiện nay, ở Việt Nam, chỉ số phát triển hạ tầng viễn thông xếp hạng thứ 67/193 nước, tăng 7 bậc so với năm 2022. Về mặt giá cả, dịch vụ viễn thông cũng rất phổ biến, bình dân, tạo điều kiện để cho tất cả người dân tiếp cận với hạ tầng và dịch vụ Internet. Có thể thấy rằng, Việt Nam đã có một chính sách mở cửa thị trường, thúc đẩy cạnh tranh tốt giữa các doanh nghiệp viễn thông để có được kết quả như ngày hôm nay.

Qua đây, cho thấy vai trò rất lớn của các doanh nghiệp nhà nước như VNPT, Tập đoàn Viettel… trong việc đi trước một bước phát triển hạ tầng, các ngành kinh tế số hay các lĩnh vực trên môi trường mạng. Các doanh nghiệp nhà nước đã không quản ngại khó khăn chung tay đầu tư vào khu vực này.

“Để đầu tư vào những khu vực khó khăn, thì chính sách mà Chính phủ Việt Nam, Bộ Khoa học và Công nghệ làm rất tốt, tham gia một cách rất hiệu quả. Từ đó, có thể nói rằng hạ tầng của Việt Nam đã sẵn sàng” - ông Nhã cho biết.

Người dân vùng sâu, vùng xa sử dụng thuận tiện các dịch vụ công

Tuy nhiên, ông Nhã cho rằng, Việt Nam cần tiếp tục phát triển hơn nữa, thứ nhất, trước đây chúng ta có hạ tầng kết nối số, kết nối điện thoại, nhắn tin, kết nối truy cập Internet, rồi kết nối tốc độ cao, nhưng nhu cầu cần được cao hơn, kết nối số có thể sử dụng băng thông rộng, công nghệ xanh… tính phổ cập đã tốt rồi, nhưng cần tốt hơn nữa.

Còn kết nối Internet để thực hiện sản phẩm đến các bệnh viện, trạm y tế ở các phường, xã, thôn bản để sử dụng các dịch vụ viễn thông như khám bệnh từ xa, y tế từ xa, đào tạo từ xa, dịch vụ hành chính công để người dân ở vùng sâu, vùng xa có thể sử dụng được các dịch vụ công thuận tiện.

Tiếp đến, về lòng tin và an toàn bền vững, xây dựng hạ tầng viễn thông để có sức chống chịu, bảo vệ dữ liệu cá nhân, an toàn mạng minh bạch, thích ứng với biến đổi khí hậu, giảm thiểu tác động, thúc đẩy chuyển đổi số bền vững. Hạ tầng viễn thông còn có thêm trách nhiệm mới, vai trò mới trong phát triển nền kinh tế số.

Đối với doanh nghiệp thì cần hiểu rõ hơn khả năng cung cấp dịch vụ của hạ tầng viễn thông, tìm thấy được cơ hội phát triển các dịch vụ số ở trên môi trường của các doanh nghiệp viễn thông đã đầu tư. Tức là, các doanh nghiệp vừa và nhỏ hoàn toàn có thể kết nối vào mở và phát triển các dịch vụ ứng dụng viễn thông một cách mạnh mẽ hơn nữa, để làm sao có nhiều dịch vụ viễn thông trên hạ tầng đã tốt như giao thông thông minh, đô thị thông minh, đến nông thôn thông minh...

Theo ông Nhã, về mặt tổ chức, không có thời điểm nào có những cơ hội tốt như thời điểm hiện nay. Tức là, sự kết hợp giữa cơ quan quản lý nhà nước, doanh nghiệp viễn thông và các trường đại học để tạo ra một hệ sinh thái từ nhu cầu thực tế cuộc sống, đặt hàng cho các trường đại học cùng nghiên cứu để đưa các sản phẩm vào cuộc sống và đào tạo thì nó không xa với thực hành và không xa với nhu cầu của thực tế thị trường.

Dưới góc nhìn của doanh nghiệp, ông Lê Xuân Sơn - Phó Tổng giám đốc VNPT - IT cho rằng, yếu tố con người đóng vai trò quan trọng trong việc thực thi kinh tế số.

Việt Nam đã rất tự tin về hạ tầng, chúng ta không còn nghe câu chuyện “cá mập cắn” nhiều nữa, việc an toàn an ninh số cũng được đảm bảo. Các chính sách được ban hành ra tạo nhiều động lực khi Nghị quyết số 57-NQ/TW của Bộ Chính trị về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia như một đầu tàu dẫn dắt công nghệ và định hướng, Nghị quyết số 66-NQ/TW về đổi mới công tác xây dựng và thi hành pháp luật đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới như đường ray về thể chế để tháo gỡ, Nghị quyết số 59-NQ/TW về hội nhập quốc tế trong tình hình mới và Nghị quyết số 68-NQ/TW về phát triển kinh tế tư nhân là động cơ cho kinh tế tư nhân phát triển. Bốn trụ cột này ghép lại thành một cỗ máy thúc đẩy kinh tế số ở Việt Nam.

“Chúng ta không thể nhìn vào tỷ lệ Internet hay GDP tăng trưởng để định vị kinh tế số. Lúc này cần cách nhìn mới, khác với những giai đoạn trước, kinh tế số lấy dữ liệu là tài sản, khi nắm được dữ liệu tốt thì triển vọng phát triển kinh tế số rất lớn. Công nghệ chỉ là nền tảng vận hành và là công cụ, còn khi nói về thực thi thì con người là yếu tố chủ đạo nhất” - ông Sơn khẳng định.

Việt Nam hiện có 4 xu hướng chính đang chi phối

Ông Hoàng Văn Ngọc - Giám đốc Chiến lược, Tập đoàn Viettel cho biết, hiện có 4 xu hướng chính đang chi phối. Thứ nhất là AI hoá mọi thứ, đây là động lực cho nền kinh tế số. Thứ hai là xu hướng dữ liệu gồm khai thác dữ liệu, phân tích dữ liệu và sử dụng dữ liệu, xây dựng hệ sinh thái trên dữ liệu. Thứ ba là iCloud, tất cả chuyển đổi lên iCloud. Thứ tư là đổi mới sáng tạo trên các nền tảng số và hệ sinh thái dữ liệu.

Theo ông Ngọc, Việt Nam là nước phát triển rất nhanh về chuyển đổi số. Mục tiêu của chính phủ là 30% GDP đóng góp từ kinh tế số và tốc độ tăng trưởng kinh tế số ở Việt Nam cũng đang thuộc nhóm cao nhất nhì khu vực, khoảng từ 25 - 30% mỗi năm.

Việt Nam hoàn toàn có nhiều lợi thế để phát triển kinh tế số, vì có Chính phủ năng động cởi mở, thúc đẩy thay đổi thể chế và khát khao chuyển đổi. Đồng thời, là quy mô lớn về thuê bao số và có hạ tầng viễn thông hiện đại. Viettel tính đến hết năm 2025 đã có 28.000 trạm 5G và vùng phủ trên dân số đạt 90%. Cùng với đó, có lực lượng lao động cao trong lĩnh vực công nghệ thông tin tốt so với mặt bằng khu vực. Quan trọng hơn nữa là Việt Nam đã biến mình từ bên tiêu dùng sản phẩm số thành bên sản xuất sản phẩm số và có thể tiên tới xuất khẩu.

Đức Việt

Đọc thêm

Nâng cấp nền tảng công nghệ, Báo Tài chính - Đầu tư tiến vào chặng đường phát triển mạnh mẽ

Nâng cấp nền tảng công nghệ, Báo Tài chính - Đầu tư tiến vào chặng đường phát triển mạnh mẽ

(TBTCO) - Phát biểu tại Lễ ra mắt giao diện mới của báo điện tử Báo Tài chính - Đầu tư (thoibaotaichinhvietnam.vn), Thứ trưởng Trần Quốc Phương tin tưởng với bề dày truyền thống đã được xây dựng và phát triển qua nhiều năm của ba cơ quan báo chí tiền thân, cùng với sự đoàn kết, sáng tạo và quyết tâm đổi mới của tập thể lãnh đạo, phóng viên, biên tập viên và người lao động, Báo Tài chính - Đầu tư sẽ tiếp tục phát triển mạnh mẽ, đóng góp ngày càng tích cực vào công tác thông tin tuyên truyền của ngành Tài chính và vào sự phát triển chung của nền kinh tế đất nước.
Thủ tướng Phạm Minh Chính dự Diễn đàn doanh nghiệp Việt Nam - Nga

Thủ tướng Phạm Minh Chính dự Diễn đàn doanh nghiệp Việt Nam - Nga

Phát biểu tại Diễn đàn doanh nghiệp Việt Nam - Liên bang Nga, Thủ tướng Phạm Minh Chính mong muốn doanh nghiệp hai nước tăng cường trao đổi, tìm kiếm cơ hội hợp tác đầu tư, góp phần vào sự phát triển nhanh và bền vững của mỗi nước, vì hòa bình, ổn định, hợp tác, phát triển trong khu vực và trên thế giới.
Chuỗi cung ứng đảo chiều, luật chơi thay đổi: Doanh nghiệp Việt còn bao nhiêu thời gian?

Chuỗi cung ứng đảo chiều, luật chơi thay đổi: Doanh nghiệp Việt còn bao nhiêu thời gian?

(TBTCO) - Theo các chuyên gia, doanh nghiệp Việt đang bước vào một cuộc cạnh tranh mới, khi chuỗi cung ứng đảo chiều và “luật chơi” thị trường thay đổi nhanh chóng. Lợi thế giá rẻ không còn mang tính quyết định, trong khi áp lực từ địa chính trị, tiêu chuẩn xanh và yêu cầu chuỗi cung ứng buộc doanh nghiệp phải tái cấu trúc nhanh hơn, sâu hơn và thực chất hơn.
EuroCham ra mắt Sách Trắng 2026: Định vị Việt Nam cho làn sóng đầu tư châu Âu tiếp theo

EuroCham ra mắt Sách Trắng 2026: Định vị Việt Nam cho làn sóng đầu tư châu Âu tiếp theo

(TBTCO) - Trong bối cảnh các cam kết đầu tư trị giá hàng tỷ EUR đang là tâm điểm tại Diễn đàn Kinh doanh và Đầu tư EU - Việt Nam - Chiến lược Cửa ngõ toàn cầu tổ chức ngày 24/3 tại Hà Nội, Hiệp hội Doanh nghiệp châu Âu tại Việt Nam (EuroCham) đã chính thức ra mắt ấn bản thứ 17 của Sách Trắng. Ấn phẩm thường niên này đóng vai trò là công cụ chiến lược nhằm hỗ trợ việc triển khai hiệu quả và bền vững các dòng vốn đầu tư quy mô lớn từ châu Âu vào Việt Nam.
Việt Nam - EU mở rộng hợp tác chiến lược, đón dòng vốn 560 triệu EUR cho hạ tầng và tăng trưởng xanh

Việt Nam - EU mở rộng hợp tác chiến lược, đón dòng vốn 560 triệu EUR cho hạ tầng và tăng trưởng xanh

(TBTCO) - Sáng 24/3 tại Hà Nội, Diễn đàn Kinh doanh và Đầu tư EU - Việt Nam quy tụ khoảng 500 đại biểu cấp cao hai bên, diễn ra trong bối cảnh quan hệ vừa nâng cấp lên Đối tác Chiến lược Toàn diện. Sự kiện ghi nhận gói đầu tư hơn 560 triệu EUR, mở rộng hợp tác trong giao thông hiện đại, năng lượng sạch và các động lực tăng trưởng mới.
Các quốc gia chủ động ứng phó nguy cơ gián đoạn nguồn cung năng lượng toàn cầu

Các quốc gia chủ động ứng phó nguy cơ gián đoạn nguồn cung năng lượng toàn cầu

(TBTCO) - Cục Quản lý và Phát triển thị trường trong nước (Bộ Công thương) cho biết, gián đoạn tại eo biển Hormuz đang gây biến động mạnh thị trường năng lượng toàn cầu, vượt cả các cú sốc dầu mỏ thập niên 1970, buộc nhiều quốc gia, trong đó có Việt Nam, khẩn trương ứng phó để bảo đảm nguồn cung và ổn định kinh tế.
“Nắn” dòng vốn PPP vào khu vực phía Nam TP. Đà Nẵng

“Nắn” dòng vốn PPP vào khu vực phía Nam TP. Đà Nẵng

(TBTCO) - Gần 300 nghìn tỷ đồng là số vốn đầu tư mà Đà Nẵng dự kiến thu hút đầu tư theo phương thức đối tác công - tư (PPP) vào khu vực phía Nam thành phố nhằm khai thác dư địa cho phát triển công nghiệp, du lịch, hệ sinh thái đô thị sân bay, cảng biển, hạ tầng, hướng đến xây dựng khu vực này trở thành cực tăng trưởng tích cực.
Thúc đẩy phát triển ngành công nghiệp năng lượng tái tạo, năng lượng mới

Thúc đẩy phát triển ngành công nghiệp năng lượng tái tạo, năng lượng mới

(TBTCO) - Phó Thủ tướng Bùi Thanh Sơn vừa ký Quyết định số 458/QĐ-TTg phê duyệt Đề án cập nhật triển khai Tuyên bố chính trị thiết lập quan hệ đối tác chuyển đổi năng lượng công bằng.
Xem thêm
DOJI Giá mua Giá bán
SJC -Bán Lẻ 17,050 17,350
Kim TT/AVPL 17,060 17,360
NHẪN TRÒN 9999 HƯNG THỊNH VƯỢNG 17,050 17,350
Nguyên Liệu 99.99 16,250 ▼100K 16,450 ▼100K
Nguyên Liệu 99.9 16,200 ▼100K 16,400 ▼100K
NỮ TRANG 9999 - BÁN LẺ 16,900 17,300
NỮ TRANG 999 - BÁN LẺ 16,850 17,250
Nữ trang 99 - Bán Lẻ 16,780 17,230
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 170,500 173,500
Hà Nội - PNJ 170,500 173,500
Đà Nẵng - PNJ 170,500 173,500
Miền Tây - PNJ 170,500 173,500
Tây Nguyên - PNJ 170,500 173,500
Đông Nam Bộ - PNJ 170,500 173,500
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 17,050 17,350
Miếng SJC Nghệ An 17,050 17,350
Miếng SJC Thái Bình 17,050 17,350
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 17,050 17,350
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 17,050 17,350
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 17,050 17,350
NL 99.90 15,970 ▼300K
NL 99.99, Nhẫn Tròn Thái Bình 16,000 ▼300K
Trang sức 99.9 16,540 17,240
Trang sức 99.99 16,550 17,250
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 1,735
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,705 17,352
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,705 17,353
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,703 1,733
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,703 1,734
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,683 1,718
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 163,599 170,099
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 120,113 129,013
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 108,086 116,986
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 96,058 104,958
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 91,419 100,319
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 62,898 71,798
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 1,735
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 1,735
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 1,735
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 1,735
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 1,735
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 1,735
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 1,735
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 1,735
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 1,735
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 1,735
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 1,735
Cập nhật: 26/03/2026 12:00
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17767 18041 18627
CAD 18525 18802 19419
CHF 32612 32996 33645
CNY 0 3470 3830
EUR 29835 30108 31141
GBP 34397 34788 35725
HKD 0 3238 3440
JPY 158 162 168
KRW 0 16 18
NZD 0 14980 15568
SGD 20001 20283 20811
THB 719 782 836
USD (1,2) 26077 0 0
USD (5,10,20) 26118 0 0
USD (50,100) 26146 26166 26357
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,137 26,137 26,357
USD(1-2-5) 25,092 - -
USD(10-20) 25,092 - -
EUR 29,921 29,945 31,186
JPY 160.54 160.83 169.53
GBP 34,535 34,628 35,609
AUD 17,934 17,999 18,566
CAD 18,694 18,754 19,327
CHF 32,838 32,940 33,708
SGD 20,114 20,177 20,847
CNY - 3,780 3,897
HKD 3,300 3,310 3,428
KRW 16.12 16.81 18.18
THB 765.32 774.77 825.43
NZD 14,937 15,076 15,430
SEK - 2,766 2,847
DKK - 4,004 4,120
NOK - 2,670 2,748
LAK - 0.93 1.28
MYR 6,189.53 - 6,948.24
TWD 743.56 - 894.69
SAR - 6,897.55 7,220.87
KWD - 83,576 88,380
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,107 26,137 26,357
EUR 29,877 29,997 31,173
GBP 34,551 34,690 35,694
HKD 3,300 3,313 3,428
CHF 32,676 32,807 33,723
JPY 161.21 161.86 169.12
AUD 17,923 17,995 18,581
SGD 20,190 20,271 20,850
THB 783 786 821
CAD 18,705 18,780 19,347
NZD 15,025 15,555
KRW 16.77 18.40
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26150 26150 26357
AUD 17917 18017 18943
CAD 18692 18792 19809
CHF 32837 32867 34454
CNY 3753.6 3778.6 3914.1
CZK 0 1185 0
DKK 0 4050 0
EUR 29990 30020 31748
GBP 34660 34710 36473
HKD 0 3355 0
JPY 161.6 162.1 172.64
KHR 0 6.097 0
KRW 0 17.1 0
LAK 0 1.172 0
MYR 0 6810 0
NOK 0 2720 0
NZD 0 15065 0
PHP 0 410 0
SEK 0 2830 0
SGD 20154 20284 21006
THB 0 748.2 0
TWD 0 810 0
SJC 9999 17050000 17050000 17350000
SBJ 15000000 15000000 17350000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,167 26,217 26,357
USD20 26,167 26,217 26,357
USD1 23,847 26,217 26,357
AUD 17,973 18,073 19,192
EUR 30,143 30,143 31,577
CAD 18,652 18,752 20,073
SGD 20,242 20,392 20,971
JPY 162.11 163.61 168.28
GBP 34,570 34,920 36,015
XAU 17,048,000 0 17,352,000
CNY 0 3,666 0
THB 0 783 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 26/03/2026 12:00
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80