Thị trường Trung Đông chỉ chiếm 2% xuất khẩu, nhưng rủi ro lan rộng tới chuỗi nông sản Việt

Khánh Linh
(TBTCO) - Bộ Nông nghiệp và Môi trường xây dựng nhiều kịch bản ứng phó, trong đó kim ngạch xuất khẩu có thể giảm từ 1 - 8 tỷ USD nếu căng thẳng kéo dài, do gián đoạn vận tải và chi phí logistics leo thang.
aa

Sáng ngày 11/3, Bộ Nông nghiệp và Môi trường tổ chức họp báo thường kỳ cung cấp thông tin về tình hình ngành trong 2 tháng đầu năm 2026, các nhiệm vụ trọng tâm trong thời gian tới.

Xuất khẩu nông sản có thể thiệt hại 1-8 tỷ USD

Báo cáo tại cuộc họp, ông Trần Gia Long - Phó Vụ trưởng Vụ Kế hoạch - Tài chính cho biết, Bộ Nông nghiệp và Môi trường đang lên các kịch bản ảnh hưởng của ngành Nông nghiệp trước diễn biến xung đột Trung Đông.

Theo ông Long, xung đột lần này tại khu vực Trung Đông làm gia tăng rủi ro đứt gãy chuỗi cung ứng, nhất là tuyến vận chuyển hàng sang châu Âu, chi phí năng lượng và vận tải quốc tế. Điều này ảnh hưởng đến hoạt động xuất khẩu nông sản Việt Nam.

Theo đó, với kịch bản xung đột kéo dài khoảng 1 tháng, tổng kim ngạch xuất khẩu nông, lâm, thủy sản giảm hơn 1 tỷ USD. Trong đó, xuất khẩu sang Trung Đông giảm khoảng 182 triệu USD, châu Âu mất 770 triệu USD và châu Phi là 91 triệu USD.

Kịch bản xung đột kéo dài 3 tháng, mức thiệt hại với xuất khẩu nông sản Việt khoảng 3 - 3,5 tỷ USD. Trong đó, hàng xuất sang Trung Đông giảm 500-600 triệu USD, Bắc Phi 200 - 250 triệu USD và châu Âu là 1,5 - 1,6 tỷ USD.

Trường hợp xung đột Trung Đông kéo dài một năm, xuất khẩu sang khu vực này sẽ bị gián đoạn hoàn toàn, trong khi xuất khẩu sang châu Âu và Bắc Phi giảm ít nhất 50 - 60%. Điều này có thể khiến tổng kim ngạch xuất khẩu nông sản Việt giảm 7 - 8 tỷ USD, tương đương 0,1 - 0,2 điểm phần trăm tốc độ tăng trưởng của ngành.

Theo ông Trần Gia Long, các kịch bản trên mới mang tính dự báo nhằm phục vụ công tác điều hành và chuẩn bị phương án ứng phó. Các đơn vị chuyên môn sẽ tiếp tục theo dõi sát diễn biến tình hình, tham mưu lãnh đạo Bộ xây dựng các giải pháp điều hành phù hợp, trong đó có việc điều chỉnh cơ cấu thị trường và đa dạng hóa thị trường xuất khẩu nhằm giảm thiểu rủi ro.

Giữ nhịp sản xuất, ổn định thị trường, thúc đẩy xuất khẩu trước diễn biến xung đột Trung Đông
Hạt điều là một trong những mặt hàng chủ lực xuất khẩu sang Trung Đông của Việt Nam. Ảnh: TL
Theo số liệu của Bộ Nông nghiệp và Môi trường, kim ngạch xuất khẩu nông, lâm, thủy sản tháng 2/2026 ước đạt 4,71 tỷ USD, giảm 28,4% so với tháng trước do yếu tố mùa vụ, nhưng vẫn tăng 1,9% so với cùng kỳ năm 2025. Tính chung 2 tháng đầu năm, tổng kim ngạch xuất khẩu đạt khoảng 11,3 tỷ USD, tăng 17,1% so với cùng kỳ năm trước. Trung Quốc, Hoa Kỳ và Nhật Bản tiếp tục là thị trường xuất khẩu lớn nhất của nông, lâm, thủy sản Việt Nam với thị phần lần lượt là 22,9%; 18,7% và 7,2%.

Xung đột sẽ tác động đến mặt hàng xuất khẩu truyền thống

Đánh giá thêm về vấn đề này, ông Lê Bá Anh - Phó Cục trưởng Cục Chất lượng, kim ngạch xuất khẩu nông, lâm, thủy sản của Việt Nam sang khu vực Trung Đông dao động khoảng 1,4 - 1,5 tỷ USD mỗi năm.

Các mặt hàng chủ lực gồm: rau quả khoảng 170 triệu USD, cà phê 122 triệu USD, hạt điều khoảng 490 triệu USD, hồ tiêu 185 triệu USD và thủy sản khoảng 400 triệu USD (số liệu năm 2025).

Mặc dù vậy, tỷ trọng xuất khẩu sang Trung Đông hiện chỉ chiếm khoảng 2% tổng kim ngạch xuất khẩu nông, lâm, thủy sản của Việt Nam ra toàn cầu. Trong 2 tháng đầu năm 2026, kim ngạch xuất khẩu sang khu vực này đạt khoảng 206 triệu USD, bình quân mỗi tháng hơn 100 triệu USD. Do đó, khi xung đột xảy ra trong giai đoạn này, chắc chắn sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến các doanh nghiệp đang xuất khẩu hàng hóa vào thị trường Trung Đông.

Bên cạnh tác động trực tiếp, xung đột quân sự còn gây ra nhiều hệ lụy khác đối với chuỗi cung ứng. Trước hết là nguy cơ gián đoạn vận tải, thời gian vận chuyển kéo dài. Một số hãng tàu biển đã thông báo tạm ngừng hoặc hạn chế vận chuyển tới khu vực Trung Đông. Đồng thời, chi phí bảo hiểm hàng hải tại các khu vực có xung đột tăng mạnh, làm gia tăng chi phí logistics.

Những yếu tố này ảnh hưởng đến toàn bộ chuỗi cung ứng, đặc biệt đối với các mặt hàng cần container lạnh như thủy sản, rau quả tươi. Ngoài các chi phí trực tiếp như vận chuyển, thời gian giao hàng và bảo hiểm tăng, các chi phí gián tiếp cũng gia tăng do giá dầu thế giới biến động, kéo theo chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm tăng lên.

Đây là những khó khăn có thể ảnh hưởng đến việc duy trì xuất khẩu nông sản sang thị trường Trung Đông nếu xung đột kéo dài, đồng thời tác động lan tỏa đến chuỗi cung ứng và chi phí sản xuất của nhiều mặt hàng xuất khẩu khác.

Thị trường Trung Đông chỉ chiếm 2% xuất khẩu, nhưng rủi ro lan rộng tới chuỗi nông sản Việt
Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường Phùng Đức Tiến phát biểu chỉ đạo tại cuộc họp.

Chủ động các phương án ứng phó khi chuỗi cung ứng đứt gãy

Tuy nhiên, theo ông Lê Bá Anh, Việt Nam vẫn có khả năng linh hoạt điều chỉnh thị trường xuất khẩu, năm nay một số thị trường lớn đang có điều kiện thuận lợi hơn. Ví dụ, thị trường Mỹ đang tích cực hơn nhờ các điều chỉnh về thuế, trong khi thuế đối với tôm và một số mặt hàng thủy sản cũng được điều chỉnh theo hướng thuận lợi.

Bên cạnh đó, các thị trường truyền thống như Trung Quốc, Nhật Bản và Hàn Quốc vẫn là những điểm đến quan trọng để doanh nghiệp Việt Nam chuyển hướng và đa dạng hóa xuất khẩu khi cần thiết.

Ngoài ra, các đơn vị chuyên môn đang tiếp tục theo dõi chặt chẽ diễn biến tình hình, đồng thời phối hợp với Bộ Công thương, Bộ Tài chính và hệ thống thương vụ Việt Nam ở nước ngoài để cập nhật thông tin thị trường. Trên cơ sở đó, sẽ tham mưu cho lãnh đạo bộ các giải pháp phù hợp, đồng thời đưa ra khuyến nghị đối với doanh nghiệp nhằm chủ động điều chỉnh kế hoạch sản xuất, xuất khẩu.

Ông Trần Gia Long cho biết thêm, dự báo tình hình thế giới tiếp tục biến động phức tạp, khó lường và có khả năng tác động tới ngành Nông nghiệp, đặc biệt là vấn đề chi phí sản xuất, xuất khẩu, đảm bảo an ninh lương thực…

"Trước tình hình đó, Thủ tướng Chính phủ đã chỉ đạo các bộ ngành, địa phương rà soát các nhiệm vụ trọng tâm trong quý I và năm 2026 để ưu tiên nguồn lực, tập trung chỉ đạo, thực hiện hiệu quả các nhiệm vụ cấp bách, chủ động các phương án ứng phó khi chuỗi cung ứng đứt gãy do xung đột quân sự leo thang, tạo đà cho sự phát triển những tháng cuối năm" - ông Long nói.

Đặc biệt, ông Long lưu ý các địa phương chủ động theo dõi thông tin, phương án ứng phó trước diễn biến khó lường trên thị trường thế giới khi xung đột quân sự leo thang tại Trung Đông và diễn biến chính sách thuế quan của chính quyền Hoa Kỳ.

Phát biểu chỉ đạo tại cuộc họp, Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường Phùng Đức Tiến nhấn mạnh, năm 2026 mở ra trong bối cảnh đan xen cơ hội và thách thức: thị trường quốc tế biến động nhanh, yêu cầu về tiêu chuẩn chất lượng - truy xuất - phát triển xanh ngày càng cao; chuỗi cung ứng và logistics chịu tác động bởi căng thẳng khu vực.

Do đó, ngành Nông nghiệp sẽ triển khai đồng bộ các giải pháp từ hoàn thiện thể chế, thúc đẩy khoa học công nghệ, đẩy mạnh chuyển đổi số đến mở rộng và đa dạng hóa thị trường xuất khẩu. Việc chuyển tập trung vào các thị trường truyền thống và chuyển hướng sang thị trường khác có thể bù đắp 2% kim ngạch xuất khẩu trực tiếp từ Trung Đông.

Đồng thời, việc theo dõi sát diễn biến thị trường và kịp thời điều chỉnh chính sách cũng sẽ được tăng cường nhằm bảo đảm mục tiêu tăng trưởng của ngành

Khánh Linh

Đọc thêm

Nâng cấp nền tảng công nghệ, Báo Tài chính - Đầu tư tiến vào chặng đường phát triển mạnh mẽ

Nâng cấp nền tảng công nghệ, Báo Tài chính - Đầu tư tiến vào chặng đường phát triển mạnh mẽ

(TBTCO) - Phát biểu tại Lễ ra mắt giao diện mới của báo điện tử Báo Tài chính - Đầu tư (thoibaotaichinhvietnam.vn), Thứ trưởng Trần Quốc Phương tin tưởng với bề dày truyền thống đã được xây dựng và phát triển qua nhiều năm của ba cơ quan báo chí tiền thân, cùng với sự đoàn kết, sáng tạo và quyết tâm đổi mới của tập thể lãnh đạo, phóng viên, biên tập viên và người lao động, Báo Tài chính - Đầu tư sẽ tiếp tục phát triển mạnh mẽ, đóng góp ngày càng tích cực vào công tác thông tin tuyên truyền của ngành Tài chính và vào sự phát triển chung của nền kinh tế đất nước.
Thủ tướng Phạm Minh Chính dự Diễn đàn doanh nghiệp Việt Nam - Nga

Thủ tướng Phạm Minh Chính dự Diễn đàn doanh nghiệp Việt Nam - Nga

Phát biểu tại Diễn đàn doanh nghiệp Việt Nam - Liên bang Nga, Thủ tướng Phạm Minh Chính mong muốn doanh nghiệp hai nước tăng cường trao đổi, tìm kiếm cơ hội hợp tác đầu tư, góp phần vào sự phát triển nhanh và bền vững của mỗi nước, vì hòa bình, ổn định, hợp tác, phát triển trong khu vực và trên thế giới.
Chuỗi cung ứng đảo chiều, luật chơi thay đổi: Doanh nghiệp Việt còn bao nhiêu thời gian?

Chuỗi cung ứng đảo chiều, luật chơi thay đổi: Doanh nghiệp Việt còn bao nhiêu thời gian?

(TBTCO) - Theo các chuyên gia, doanh nghiệp Việt đang bước vào một cuộc cạnh tranh mới, khi chuỗi cung ứng đảo chiều và “luật chơi” thị trường thay đổi nhanh chóng. Lợi thế giá rẻ không còn mang tính quyết định, trong khi áp lực từ địa chính trị, tiêu chuẩn xanh và yêu cầu chuỗi cung ứng buộc doanh nghiệp phải tái cấu trúc nhanh hơn, sâu hơn và thực chất hơn.
EuroCham ra mắt Sách Trắng 2026: Định vị Việt Nam cho làn sóng đầu tư châu Âu tiếp theo

EuroCham ra mắt Sách Trắng 2026: Định vị Việt Nam cho làn sóng đầu tư châu Âu tiếp theo

(TBTCO) - Trong bối cảnh các cam kết đầu tư trị giá hàng tỷ EUR đang là tâm điểm tại Diễn đàn Kinh doanh và Đầu tư EU - Việt Nam - Chiến lược Cửa ngõ toàn cầu tổ chức ngày 24/3 tại Hà Nội, Hiệp hội Doanh nghiệp châu Âu tại Việt Nam (EuroCham) đã chính thức ra mắt ấn bản thứ 17 của Sách Trắng. Ấn phẩm thường niên này đóng vai trò là công cụ chiến lược nhằm hỗ trợ việc triển khai hiệu quả và bền vững các dòng vốn đầu tư quy mô lớn từ châu Âu vào Việt Nam.
Việt Nam - EU mở rộng hợp tác chiến lược, đón dòng vốn 560 triệu EUR cho hạ tầng và tăng trưởng xanh

Việt Nam - EU mở rộng hợp tác chiến lược, đón dòng vốn 560 triệu EUR cho hạ tầng và tăng trưởng xanh

(TBTCO) - Sáng 24/3 tại Hà Nội, Diễn đàn Kinh doanh và Đầu tư EU - Việt Nam quy tụ khoảng 500 đại biểu cấp cao hai bên, diễn ra trong bối cảnh quan hệ vừa nâng cấp lên Đối tác Chiến lược Toàn diện. Sự kiện ghi nhận gói đầu tư hơn 560 triệu EUR, mở rộng hợp tác trong giao thông hiện đại, năng lượng sạch và các động lực tăng trưởng mới.
Các quốc gia chủ động ứng phó nguy cơ gián đoạn nguồn cung năng lượng toàn cầu

Các quốc gia chủ động ứng phó nguy cơ gián đoạn nguồn cung năng lượng toàn cầu

(TBTCO) - Cục Quản lý và Phát triển thị trường trong nước (Bộ Công thương) cho biết, gián đoạn tại eo biển Hormuz đang gây biến động mạnh thị trường năng lượng toàn cầu, vượt cả các cú sốc dầu mỏ thập niên 1970, buộc nhiều quốc gia, trong đó có Việt Nam, khẩn trương ứng phó để bảo đảm nguồn cung và ổn định kinh tế.
“Nắn” dòng vốn PPP vào khu vực phía Nam TP. Đà Nẵng

“Nắn” dòng vốn PPP vào khu vực phía Nam TP. Đà Nẵng

(TBTCO) - Gần 300 nghìn tỷ đồng là số vốn đầu tư mà Đà Nẵng dự kiến thu hút đầu tư theo phương thức đối tác công - tư (PPP) vào khu vực phía Nam thành phố nhằm khai thác dư địa cho phát triển công nghiệp, du lịch, hệ sinh thái đô thị sân bay, cảng biển, hạ tầng, hướng đến xây dựng khu vực này trở thành cực tăng trưởng tích cực.
Thúc đẩy phát triển ngành công nghiệp năng lượng tái tạo, năng lượng mới

Thúc đẩy phát triển ngành công nghiệp năng lượng tái tạo, năng lượng mới

(TBTCO) - Phó Thủ tướng Bùi Thanh Sơn vừa ký Quyết định số 458/QĐ-TTg phê duyệt Đề án cập nhật triển khai Tuyên bố chính trị thiết lập quan hệ đối tác chuyển đổi năng lượng công bằng.
Xem thêm
DOJI Giá mua Giá bán
SJC -Bán Lẻ 16,800 ▼250K 17,100 ▼250K
Kim TT/AVPL 16,810 ▼250K 17,110 ▼250K
NHẪN TRÒN 9999 HƯNG THỊNH VƯỢNG 16,750 ▼300K 17,050 ▼300K
Nguyên Liệu 99.99 15,950 ▼400K 16,150 ▼400K
Nguyên Liệu 99.9 15,900 ▼400K 16,100 ▼400K
NỮ TRANG 9999 - BÁN LẺ 16,600 ▼300K 17,000 ▼300K
NỮ TRANG 999 - BÁN LẺ 16,550 ▼300K 16,950 ▼300K
Nữ trang 99 - Bán Lẻ 16,480 ▼300K 16,930 ▼300K
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 168,000 ▼2500K 171,000 ▼2500K
Hà Nội - PNJ 168,000 ▼2500K 171,000 ▼2500K
Đà Nẵng - PNJ 168,000 ▼2500K 171,000 ▼2500K
Miền Tây - PNJ 168,000 ▼2500K 171,000 ▼2500K
Tây Nguyên - PNJ 168,000 ▼2500K 171,000 ▼2500K
Đông Nam Bộ - PNJ 168,000 ▼2500K 171,000 ▼2500K
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 16,800 ▼250K 17,100 ▼250K
Miếng SJC Nghệ An 16,800 ▼250K 17,100 ▼250K
Miếng SJC Thái Bình 16,800 ▼250K 17,100 ▼250K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 16,800 ▼250K 17,100 ▼250K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 16,800 ▼250K 17,100 ▼250K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 16,800 ▼250K 17,100 ▼250K
NL 99.90 15,820 ▼450K
NL 99.99, Nhẫn Tròn Thái Bình 15,850 ▼450K
Trang sức 99.9 16,290 ▼250K 16,990 ▼250K
Trang sức 99.99 16,300 ▼250K 17,000 ▼250K
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 168 ▼1537K 171 ▼1564K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 168 ▼1537K 17,102 ▼250K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 168 ▼1537K 17,103 ▼250K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,678 ▼25K 1,708 ▼25K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,678 ▼25K 1,709 ▼25K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,658 ▼25K 1,693 ▼25K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 161,124 ▼2475K 167,624 ▼2475K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 118,238 ▼1875K 127,138 ▼1875K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 106,386 ▼1700K 115,286 ▼1700K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 94,533 ▼1525K 103,433 ▼1525K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 89,962 ▼1457K 98,862 ▼1457K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 61,855 ▼1043K 70,755 ▼1043K
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 168 ▼1537K 171 ▼1564K
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 168 ▼1537K 171 ▼1564K
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 168 ▼1537K 171 ▼1564K
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 168 ▼1537K 171 ▼1564K
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 168 ▼1537K 171 ▼1564K
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 168 ▼1537K 171 ▼1564K
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 168 ▼1537K 171 ▼1564K
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 168 ▼1537K 171 ▼1564K
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 168 ▼1537K 171 ▼1564K
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 168 ▼1537K 171 ▼1564K
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 168 ▼1537K 171 ▼1564K
Cập nhật: 26/03/2026 14:00
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17767 18041 18614
CAD 18517 18794 19412
CHF 32591 32975 33624
CNY 0 3470 3830
EUR 29812 30084 31114
GBP 34376 34767 35701
HKD 0 3239 3440
JPY 158 162 168
KRW 0 16 18
NZD 0 14961 15549
SGD 19985 20267 20795
THB 717 780 834
USD (1,2) 26077 0 0
USD (5,10,20) 26118 0 0
USD (50,100) 26146 26166 26357
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,137 26,137 26,357
USD(1-2-5) 25,092 - -
USD(10-20) 25,092 - -
EUR 29,921 29,945 31,186
JPY 160.54 160.83 169.53
GBP 34,535 34,628 35,609
AUD 17,934 17,999 18,566
CAD 18,694 18,754 19,327
CHF 32,838 32,940 33,708
SGD 20,114 20,177 20,847
CNY - 3,780 3,897
HKD 3,300 3,310 3,428
KRW 16.12 16.81 18.18
THB 765.32 774.77 825.43
NZD 14,937 15,076 15,430
SEK - 2,766 2,847
DKK - 4,004 4,120
NOK - 2,670 2,748
LAK - 0.93 1.28
MYR 6,189.53 - 6,948.24
TWD 743.56 - 894.69
SAR - 6,897.55 7,220.87
KWD - 83,576 88,380
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,107 26,137 26,357
EUR 29,877 29,997 31,173
GBP 34,551 34,690 35,694
HKD 3,300 3,313 3,428
CHF 32,676 32,807 33,723
JPY 161.21 161.86 169.12
AUD 17,923 17,995 18,581
SGD 20,190 20,271 20,850
THB 783 786 821
CAD 18,705 18,780 19,347
NZD 15,025 15,555
KRW 16.77 18.40
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26150 26150 26357
AUD 17917 18017 18943
CAD 18692 18792 19809
CHF 32837 32867 34454
CNY 3753.6 3778.6 3914.1
CZK 0 1185 0
DKK 0 4050 0
EUR 29990 30020 31748
GBP 34660 34710 36473
HKD 0 3355 0
JPY 161.6 162.1 172.64
KHR 0 6.097 0
KRW 0 17.1 0
LAK 0 1.172 0
MYR 0 6810 0
NOK 0 2720 0
NZD 0 15065 0
PHP 0 410 0
SEK 0 2830 0
SGD 20154 20284 21006
THB 0 748.2 0
TWD 0 810 0
SJC 9999 17050000 17050000 17350000
SBJ 15000000 15000000 17350000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,167 26,217 26,357
USD20 26,167 26,217 26,357
USD1 23,847 26,217 26,357
AUD 17,973 18,073 19,192
EUR 30,143 30,143 31,577
CAD 18,652 18,752 20,073
SGD 20,242 20,392 20,971
JPY 162.11 163.61 168.28
GBP 34,570 34,920 36,015
XAU 17,048,000 0 17,352,000
CNY 0 3,666 0
THB 0 783 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 26/03/2026 14:00
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80