Động lực tăng trưởng cho hàng không Việt Nam năm 2026

Trí Dũng
(TBTCO) - Năm 2025, nhu cầu di chuyển, đi lại bằng đường hàng không tăng cao, mở ra nhiều đường bay quốc tế, nên lượng hành khách và hàng hóa của lĩnh vực hàng không tăng trưởng 2 con số, tạo tiền đề, động lực để ngành hàng không tăng trưởng mạnh mẽ trong năm 2026.
aa

Đạt 69,3 triệu lượt khách và 1,2 triệu tấn hàng hóa trong 11 tháng

Theo Cục Hàng không Việt Nam, 11 tháng của năm 2025, vận tải hàng không đạt 69,3 triệu lượt khách và 1,2 triệu tấn hàng hóa, tăng 10,8% về hành khách và 18,5% về hàng hóa so với cùng kỳ năm 2024.

Trong đó, vận chuyển nội địa đạt 30,9 triệu lượt khách và 186.800 tấn hàng hóa, tăng 7,4% về hành khách và xấp xỉ về hàng hóa so với cùng kỳ năm 2024; vận chuyển quốc tế đạt 38,4 triệu lượt khách và 1,1 triệu tấn hàng hóa, tương ứng tăng 13,6% và 22,7% so với cùng kỳ năm 2024. Dự kiến năm 2025, thị trường vận tải hàng không của Việt Nam sẽ đạt khoảng 84 triệu lượt khách và 1,4 triệu tấn hàng hóa, tương ứng tăng 11,4% và 18% so với năm 2024.

Động lực tăng trưởng cho hàng không Việt Nam năm 2026
Lượng hành khách qua các cảng hàng không tăng cao trong 11 tháng năm 2025.

Theo ông Uông Việt Dũng - Cục trưởng Cục Hàng không Việt Nam, nhu cầu di chuyển, đi lại bằng đường hàng không tăng cao và việc triển khai có hiệu quả các trao đổi, hợp tác trong khai thác hàng không quốc tế để hỗ trợ các hãng hàng không trong quá trình thực hiện hoạt động khai thác đã góp phần vào kết quả tích cực của vận tải hàng không năm 2025.

Đặc biệt, trong 11 tháng qua không để xảy ra tai nạn hàng không, công tác giám sát an toàn được duy trì liên tục. Ngoài ra, Hội đồng đánh giá rủi ro an toàn hàng không của Cục Hàng không Việt Nam hoạt động thường kỳ, theo dõi sát sao các yếu tố ảnh hưởng đến an toàn hàng không, nhận diện được các rủi ro tiềm ẩn uy hiếp an toàn như tác động của việc thiếu động cơ PW1100 trên đội tàu bay Airbus A320/1NEO, tình trạng gián đoạn chuỗi cung ứng vật tư toàn cầu, việc vận chuyển thiết bị có chứa pin lithium trên tàu bay… để kịp thời ban hành các chỉ thị, giải pháp nâng cao an toàn, cũng như thực hiện các giải pháp bảo đảm an toàn.

Để chuẩn bị đưa Cảng hàng không quốc tế Long Thành vào khai thác, Cục Hàng không Việt Nam chủ trì trình và báo cáo phương án phân chia khai thác giữa Cảng hàng không quốc tế Long Thành và Tân Sơn Nhất; phối hợp, triển khai với các cơ quan, đơn vị về công tác chuẩn bị thực hiện chuyến bay kỹ thuật tại Cảng hàng không quốc tế Long Thành trong dịp 19/12/2025 và triển khai văn bản tới Tổng công ty Quản lý bay Việt Nam để thực hiện thông báo tin tức hàng không phục vụ khai thác sân bay này...

Bên cạnh đó, Cục Hàng không Việt Nam cũng tham mưu trình lãnh đạo Bộ Xây dựng các quy hoạch Cảng hàng không quốc tế Cam Ranh, Vân Đồn; Cảng hàng không Tuy Hòa, Buôn Ma Thuột và đang thực hiện sửa đổi, bổ sung theo chỉ đạo của Bộ Xây dựng; hoàn thành công tác đấu thầu lựa chọn đơn vị tư vấn và triển khai điều chỉnh quy hoạch Cảng hàng không Lai Châu, Nà Sản, Phú Bài, Cần Thơ; phê duyệt điều chỉnh quy hoạch để bổ sung sân bay Măng Đen, Vân Phong.

Nhiều tín hiệu tốt cho năm 2026

Cũng theo ông Uông Việt Dũng, năm 2026 được dự báo là năm có nhiều động lực tăng trưởng cho ngành hàng không. Mục tiêu tăng trưởng GDP năm 2026 từ 10% trở lên đã được Quốc hội thông qua sẽ tạo ra một cú hích kinh tế vĩ mô quan trọng.

Luật Hàng không dân dụng thay thế được triển khai và các chính sách, quy định mới ban hành sẽ tạo thuận lợi lớn, hỗ trợ tích cực cho thị trường vận tải hàng không phát triển. Bên cạnh đó, các dự án hạ tầng chiến lược như Cảng hàng không quốc tế Long Thành được đưa vào khai thác, các cảng hàng không quốc tế Gia Bình, Phú Quốc tiếp tục được đẩy nhanh tiến độ, tạo cơ sở vật chất để nâng cao năng lực vận tải…

Với những đánh giá, nhận định và mục tiêu nêu trên cùng với việc tiếp tục triển khai các giải pháp đã mang lại hiệu quả để thúc đẩy đà tăng trưởng của thị trường vận tải hàng không trong năm 2026, Cục Hàng không Việt Nam xây dựng các chỉ tiêu về vận tải hàng không đạt mức sản lượng vận chuyển 95 triệu lượt khách và 1,6 triệu tấn hàng hoá, tương ứng tăng 13% về hành khách và 15% về hàng hóa so với năm 2025.

Ông Uông Việt Dũng cho biết thêm, để giải quyết các tồn tại, hạn chế và nắm bắt các động lực tăng trưởng mới, tạo nền tảng vững chắc cho sự phát triển ngành hàng không trong năm 2026 cũng như dài hạn, Cục Hàng không Việt Nam kiến nghị Bộ Xây dựng và các cấp có thẩm quyền hỗ trợ đầu tư mở rộng cơ sở hạ tầng hàng không, đặc biệt là các cảng hàng không quốc tế chính nhằm giải quyết triệt để tình trạng quá tải, làm tăng chi phí logistics; xem xét có chính sách ưu đãi về tài chính, lãi suất tín dụng cho các hãng hàng không Việt Nam để tiếp tục triển khai tiến trình tái cơ cấu doanh nghiệp hàng không, phục hồi phát triển bền vững.

Đồng thời, tiếp tục triển khai, mở rộng các chính sách ưu đãi về thị thực, lưu trú, xây dựng các chiến lược thu hút khách du lịch của quốc gia và các địa phương để kích cầu du lịch, tạo sức hút đối với du khách trong nước và quốc tế…

Hỗ trợ kinh phí khắc phục hậu quả thiên tai đối với kết cấu hạ tầng đường bộ

Cục Đường bộ Việt Nam mới có văn bản gửi các khu quản lý đường bộ, các ban quản lý dự án 3, 4, 5, 8 và các cơ quan, đơn vị khác trực thuộc Cục Đường bộ Việt Nam yêu cầu báo cáo tình hình thiệt hại và đề xuất nhu cầu hỗ trợ kinh phí từ ngân sách Trung ương để khắc phục hậu quả thiên tai đối với kết cấu hạ tầng đường bộ.

Theo Phó Cục trưởng Cục Đường bộ Việt Nam Nguyễn Mạnh Thắng, đối với thiệt hại về đường bộ, các khu quản lý đường bộ báo cáo thiệt hại về đường bộ do Trung ương quản lý. Các ban quản lý dự án báo cáo thiệt hại về các dự án, đoạn đường được giao quản lý tương tự như các khu quản lý đường bộ. Đối với các thiệt hại khác, như thiệt hại về nhà ở, công trình xây dựng, hệ thống thông tin liên lạc, hệ thống giao thông thông minh - ITS và thiệt hại khác, các cơ quan căn cứ thực tế báo cáo thiệt hại phù hợp.

Đối với việc đánh giá nhu cầu, rà soát, sắp xếp theo thứ tự ưu tiên và đề xuất danh mục dự án phòng, chống, khắc phục hậu quả thiên tai, khẩn cấp, cấp bách cần triển khai và cần hỗ trợ kinh phí từ ngân sách Trung ương (tập trung khôi phục ngay hạ tầng thiết yếu; công trình phòng, chống thiên tai...), bảo đảm có trọng tâm, trọng điểm, trực tiếp tại các địa bàn bị ảnh hưởng do thiên tai, sẽ ưu tiên đề xuất bổ sung vốn cho các nhiệm vụ, dự toán theo lệnh xây dựng công trình khẩn cấp, các dự án đã hoàn thiện thủ tục đầu tư, đảm bảo triển khai, giải ngân kịp thời ngay sau khi được cấp có thẩm quyền bố trí vốn. Các cơ quan, đơn vị triển khai lập bảng thống kế và báo cáo bổ sung vốn ngân sách Trung ương hỗ trợ để thực hiện theo thứ tự ưu tiên.

Đối với bổ sung kinh phí cho các dự án đầu tư xây dựng, dự án sửa chữa kết cấu hạ tầng đường bộ, máy móc, thiết bị phục vụ vận hành khai thác kết cấu hạ tầng đường bộ bị hư hỏng, thiệt hại do thiên tai, thì đề xuất kinh phí hỗ trợ năm 2025 và 2026.

Đồng thời, mua sắm bổ sung vật tư dự phòng, máy móc thiết bị dự phòng (nếu cần) cho công tác phòng, chống, khắc phục hậu quả thiên tai và các công việc cần thiết khác để bảo đảm giao thông, khôi phục các hạ tầng thiết yếu.

Bổ sung kinh phí cho các dự án đã duyệt để bổ sung công trình, hạng mục công trình nhằm nâng cao hiệu quả phòng, chống thiên tai. Bổ sung kinh phí khắc phục hậu quả thiên tai gây ra đối với trụ sở cơ quan, đơn vị và nhà làm việc, các công trình dân dụng khác, danh mục các công trình xây dựng mới, sửa chữa, cải tạo, bổ sung hạng mục để phục vụ công tác phòng, chống thiên tai, bảo đảm bền vững, hiệu quả.

Trí Dũng

Đọc thêm

Nâng cấp nền tảng công nghệ, Báo Tài chính - Đầu tư tiến vào chặng đường phát triển mạnh mẽ

Nâng cấp nền tảng công nghệ, Báo Tài chính - Đầu tư tiến vào chặng đường phát triển mạnh mẽ

(TBTCO) - Phát biểu tại Lễ ra mắt giao diện mới của báo điện tử Báo Tài chính - Đầu tư (thoibaotaichinhvietnam.vn), Thứ trưởng Trần Quốc Phương tin tưởng với bề dày truyền thống đã được xây dựng và phát triển qua nhiều năm của ba cơ quan báo chí tiền thân, cùng với sự đoàn kết, sáng tạo và quyết tâm đổi mới của tập thể lãnh đạo, phóng viên, biên tập viên và người lao động, Báo Tài chính - Đầu tư sẽ tiếp tục phát triển mạnh mẽ, đóng góp ngày càng tích cực vào công tác thông tin tuyên truyền của ngành Tài chính và vào sự phát triển chung của nền kinh tế đất nước.
Thủ tướng Phạm Minh Chính dự Diễn đàn doanh nghiệp Việt Nam - Nga

Thủ tướng Phạm Minh Chính dự Diễn đàn doanh nghiệp Việt Nam - Nga

Phát biểu tại Diễn đàn doanh nghiệp Việt Nam - Liên bang Nga, Thủ tướng Phạm Minh Chính mong muốn doanh nghiệp hai nước tăng cường trao đổi, tìm kiếm cơ hội hợp tác đầu tư, góp phần vào sự phát triển nhanh và bền vững của mỗi nước, vì hòa bình, ổn định, hợp tác, phát triển trong khu vực và trên thế giới.
Chuỗi cung ứng đảo chiều, luật chơi thay đổi: Doanh nghiệp Việt còn bao nhiêu thời gian?

Chuỗi cung ứng đảo chiều, luật chơi thay đổi: Doanh nghiệp Việt còn bao nhiêu thời gian?

(TBTCO) - Theo các chuyên gia, doanh nghiệp Việt đang bước vào một cuộc cạnh tranh mới, khi chuỗi cung ứng đảo chiều và “luật chơi” thị trường thay đổi nhanh chóng. Lợi thế giá rẻ không còn mang tính quyết định, trong khi áp lực từ địa chính trị, tiêu chuẩn xanh và yêu cầu chuỗi cung ứng buộc doanh nghiệp phải tái cấu trúc nhanh hơn, sâu hơn và thực chất hơn.
EuroCham ra mắt Sách Trắng 2026: Định vị Việt Nam cho làn sóng đầu tư châu Âu tiếp theo

EuroCham ra mắt Sách Trắng 2026: Định vị Việt Nam cho làn sóng đầu tư châu Âu tiếp theo

(TBTCO) - Trong bối cảnh các cam kết đầu tư trị giá hàng tỷ EUR đang là tâm điểm tại Diễn đàn Kinh doanh và Đầu tư EU - Việt Nam - Chiến lược Cửa ngõ toàn cầu tổ chức ngày 24/3 tại Hà Nội, Hiệp hội Doanh nghiệp châu Âu tại Việt Nam (EuroCham) đã chính thức ra mắt ấn bản thứ 17 của Sách Trắng. Ấn phẩm thường niên này đóng vai trò là công cụ chiến lược nhằm hỗ trợ việc triển khai hiệu quả và bền vững các dòng vốn đầu tư quy mô lớn từ châu Âu vào Việt Nam.
Việt Nam - EU mở rộng hợp tác chiến lược, đón dòng vốn 560 triệu EUR cho hạ tầng và tăng trưởng xanh

Việt Nam - EU mở rộng hợp tác chiến lược, đón dòng vốn 560 triệu EUR cho hạ tầng và tăng trưởng xanh

(TBTCO) - Sáng 24/3 tại Hà Nội, Diễn đàn Kinh doanh và Đầu tư EU - Việt Nam quy tụ khoảng 500 đại biểu cấp cao hai bên, diễn ra trong bối cảnh quan hệ vừa nâng cấp lên Đối tác Chiến lược Toàn diện. Sự kiện ghi nhận gói đầu tư hơn 560 triệu EUR, mở rộng hợp tác trong giao thông hiện đại, năng lượng sạch và các động lực tăng trưởng mới.
Các quốc gia chủ động ứng phó nguy cơ gián đoạn nguồn cung năng lượng toàn cầu

Các quốc gia chủ động ứng phó nguy cơ gián đoạn nguồn cung năng lượng toàn cầu

(TBTCO) - Cục Quản lý và Phát triển thị trường trong nước (Bộ Công thương) cho biết, gián đoạn tại eo biển Hormuz đang gây biến động mạnh thị trường năng lượng toàn cầu, vượt cả các cú sốc dầu mỏ thập niên 1970, buộc nhiều quốc gia, trong đó có Việt Nam, khẩn trương ứng phó để bảo đảm nguồn cung và ổn định kinh tế.
“Nắn” dòng vốn PPP vào khu vực phía Nam TP. Đà Nẵng

“Nắn” dòng vốn PPP vào khu vực phía Nam TP. Đà Nẵng

(TBTCO) - Gần 300 nghìn tỷ đồng là số vốn đầu tư mà Đà Nẵng dự kiến thu hút đầu tư theo phương thức đối tác công - tư (PPP) vào khu vực phía Nam thành phố nhằm khai thác dư địa cho phát triển công nghiệp, du lịch, hệ sinh thái đô thị sân bay, cảng biển, hạ tầng, hướng đến xây dựng khu vực này trở thành cực tăng trưởng tích cực.
Thúc đẩy phát triển ngành công nghiệp năng lượng tái tạo, năng lượng mới

Thúc đẩy phát triển ngành công nghiệp năng lượng tái tạo, năng lượng mới

(TBTCO) - Phó Thủ tướng Bùi Thanh Sơn vừa ký Quyết định số 458/QĐ-TTg phê duyệt Đề án cập nhật triển khai Tuyên bố chính trị thiết lập quan hệ đối tác chuyển đổi năng lượng công bằng.
Xem thêm
DOJI Giá mua Giá bán
SJC -Bán Lẻ 17,050 17,350
Kim TT/AVPL 17,060 17,360
NHẪN TRÒN 9999 HƯNG THỊNH VƯỢNG 17,050 17,350
Nguyên Liệu 99.99 16,250 ▼100K 16,450 ▼100K
Nguyên Liệu 99.9 16,200 ▼100K 16,400 ▼100K
NỮ TRANG 9999 - BÁN LẺ 16,900 17,300
NỮ TRANG 999 - BÁN LẺ 16,850 17,250
Nữ trang 99 - Bán Lẻ 16,780 17,230
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 170,500 173,500
Hà Nội - PNJ 170,500 173,500
Đà Nẵng - PNJ 170,500 173,500
Miền Tây - PNJ 170,500 173,500
Tây Nguyên - PNJ 170,500 173,500
Đông Nam Bộ - PNJ 170,500 173,500
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 17,050 17,350
Miếng SJC Nghệ An 17,050 17,350
Miếng SJC Thái Bình 17,050 17,350
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 17,050 17,350
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 17,050 17,350
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 17,050 17,350
NL 99.90 15,970 ▼300K
NL 99.99, Nhẫn Tròn Thái Bình 16,000 ▼300K
Trang sức 99.9 16,540 17,240
Trang sức 99.99 16,550 17,250
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 1,735
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,705 17,352
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,705 17,353
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,703 1,733
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,703 1,734
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,683 1,718
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 163,599 170,099
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 120,113 129,013
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 108,086 116,986
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 96,058 104,958
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 91,419 100,319
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 62,898 71,798
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 1,735
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 1,735
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 1,735
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 1,735
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 1,735
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 1,735
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 1,735
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 1,735
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 1,735
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 1,735
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 1,735
Cập nhật: 26/03/2026 12:00
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17767 18041 18627
CAD 18525 18802 19419
CHF 32612 32996 33645
CNY 0 3470 3830
EUR 29835 30108 31141
GBP 34397 34788 35725
HKD 0 3238 3440
JPY 158 162 168
KRW 0 16 18
NZD 0 14980 15568
SGD 20001 20283 20811
THB 719 782 836
USD (1,2) 26077 0 0
USD (5,10,20) 26118 0 0
USD (50,100) 26146 26166 26357
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,137 26,137 26,357
USD(1-2-5) 25,092 - -
USD(10-20) 25,092 - -
EUR 29,921 29,945 31,186
JPY 160.54 160.83 169.53
GBP 34,535 34,628 35,609
AUD 17,934 17,999 18,566
CAD 18,694 18,754 19,327
CHF 32,838 32,940 33,708
SGD 20,114 20,177 20,847
CNY - 3,780 3,897
HKD 3,300 3,310 3,428
KRW 16.12 16.81 18.18
THB 765.32 774.77 825.43
NZD 14,937 15,076 15,430
SEK - 2,766 2,847
DKK - 4,004 4,120
NOK - 2,670 2,748
LAK - 0.93 1.28
MYR 6,189.53 - 6,948.24
TWD 743.56 - 894.69
SAR - 6,897.55 7,220.87
KWD - 83,576 88,380
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,107 26,137 26,357
EUR 29,877 29,997 31,173
GBP 34,551 34,690 35,694
HKD 3,300 3,313 3,428
CHF 32,676 32,807 33,723
JPY 161.21 161.86 169.12
AUD 17,923 17,995 18,581
SGD 20,190 20,271 20,850
THB 783 786 821
CAD 18,705 18,780 19,347
NZD 15,025 15,555
KRW 16.77 18.40
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26150 26150 26357
AUD 17917 18017 18943
CAD 18692 18792 19809
CHF 32837 32867 34454
CNY 3753.6 3778.6 3914.1
CZK 0 1185 0
DKK 0 4050 0
EUR 29990 30020 31748
GBP 34660 34710 36473
HKD 0 3355 0
JPY 161.6 162.1 172.64
KHR 0 6.097 0
KRW 0 17.1 0
LAK 0 1.172 0
MYR 0 6810 0
NOK 0 2720 0
NZD 0 15065 0
PHP 0 410 0
SEK 0 2830 0
SGD 20154 20284 21006
THB 0 748.2 0
TWD 0 810 0
SJC 9999 17050000 17050000 17350000
SBJ 15000000 15000000 17350000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,167 26,217 26,357
USD20 26,167 26,217 26,357
USD1 23,847 26,217 26,357
AUD 17,973 18,073 19,192
EUR 30,143 30,143 31,577
CAD 18,652 18,752 20,073
SGD 20,242 20,392 20,971
JPY 162.11 163.61 168.28
GBP 34,570 34,920 36,015
XAU 17,048,000 0 17,352,000
CNY 0 3,666 0
THB 0 783 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 26/03/2026 12:00
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80