Dự kiến "nới tay" tiêu chuẩn tín dụng hầu hết các lĩnh vực, ngoại trừ 4 nhóm

Ánh Tuyết
Dự báo nửa đầu năm 2025, trong khi hầu hết các lĩnh vực đều được các tổ chức tín dụng nới lỏng nhẹ tiêu chuẩn tín dụng, thì 4 lĩnh vực dự kiến vẫn tiếp tục bị thắt chặt, trong đó có cho vay đầu tư kinh doanh bất động sản. Đây cũng là một trong những lĩnh vực bị đánh giá tiềm ẩn rủi ro cao nhất.
aa

Vụ Dự báo, Thống kê, Ngân hàng Nhà nước (NHNN) vừa công bố kết quả điều tra xu hướng tín dụng tháng 12/2024. Đối tượng điều tra là toàn bộ các tổ chức tín dụng và chi nhánh ngân hàng nước ngoài tại Việt Nam, tỷ lệ trả lời đạt 100%.

Điều gì khiến tổ chức tín dụng thắt chặt tiêu chuẩn tín dụng?

Kết quả điều tra của Vụ Dự báo, Thống kê cho thấy, để tạo điều kiện cho doanh nghiệp và người dân tiếp cận vốn tín dụng, trong nửa cuối năm 2024, nhìn chung, các tổ chức tín dụng tiếp tục có xu hướng nới lỏng nhẹ tiêu chuẩn tín dụng tương tự như nửa đầu năm 2024.

"Xu hướng này có thể tiếp tục thực hiện trong 6 tháng đầu năm 2025 đối với tất cả các nhóm khách hàng và hầu hết các lĩnh vực ngoại trừ 4 lĩnh vực: cho vay đầu tư kinh doanh bất động sản, cho vay đầu tư kinh doanh chứng khoán, cho vay kinh doanh tài chính, ngân hàng và bảo hiểm và xây dựng dự kiến vẫn tiếp tục thắt chặt, nhưng mức độ thắt chặt có thể được thu hẹp hơn so với nửa cuối năm 2024" - Vụ Dự báo, Thống kê thông tin.

Trong đó, xu hướng nới lỏng nhẹ tiêu chuẩn tín dụng tiếp tục ghi nhận ở các lĩnh vực: cho vay đầu tư ứng dụng công nghệ cao, cho vay đầu tư công nghiệp hỗ trợ, cho vay mua nhà để ở, công nghiệp chế biến, chế tạo, cho vay kinh doanh xuất nhập khẩu, cho vay đầu tư, kinh doanh du lịch, cho vay đầu tư ngành dịch vụ logistics.

Các tổ chức tín dụng cho biết, căn cứ chủ yếu của xu hướng nới lỏng nhẹ tiêu chuẩn tín dụng trong nửa cuối năm 2024 và dự kiến trong 6 tháng đầu năm 2025 trên cơ sở đánh giá triển vọng kinh tế vĩ mô khả quan và tác động tích cực của chính sách định hướng, quản lý phát triển các ngành kinh tế của Chính phủ và chính sách định hướng, quản lý tín dụng của Chính phủ, NHNN.

"Yếu tố khiến một số tổ chức tín dụng khác lựa chọn thắt chặt tiêu chuẩn tín dụng trong cùng kỳ là mức độ rủi ro của thị trường tăng lên, bao gồm: rủi ro từ phía khách hàng và rủi ro ngành nghề cùng với thay đổi rủi ro đối với tài sản bảo đảm" - Vụ Dự báo, Thống kê nêu rõ.

Dự kiến
Dự kiến "nới tay" tiêu chuẩn tín dụng hầu hết các lĩnh vực ngoại trừ 4 nhóm. Ảnh TL

Cũng theo kết quả điều tra, rủi ro tín dụng của các khoản vay được các tổ chức tín dụng đánh giá tiếp tục tăng trong nửa cuối năm 2024 và cả năm 2024, nhưng mức tăng được nhận định chậm lại nhiều so với năm 2023 và nửa đầu năm 2024.

Các tổ chức tín dụng dự báo mặt bằng rủi ro tổng thể năm 2025 sẽ không thay đổi so với năm 2024. Trong năm 2025, rủi ro tín dụng của 10/16 lĩnh vực khảo sát được các tổ chức tín dụng kỳ vọng theo chiều hướng giảm, bao gồm phát triển nông, lâm, thủy sản; công nghiệp chế biến, chế tạo; cho vay đầu tư ứng dụng công nghệ cao...

"Tuy nhiên, các tổ chức tín dụng quan ngại nguy cơ rủi ro có thể tăng nhẹ ở 5/16 lĩnh vực khảo sát bao gồm lĩnh vực xây dựng, cho vay kinh doanh bất động sản; cho vay kinh doanh tài chính, ngân hàng, bảo hiểm; cho vay đầu tư kinh doanh chứng khoán, trong đó 2 lĩnh vực được đánh giá tiềm ẩn rủi ro cao nhất là cho vay đầu tư kinh doanh bất động sản và xây dựng" - Vụ Dự báo, Thống kê lưu ý.

Nhu cầu tín dụng cải thiện rõ rệt

Cũng theo đánh giá của các tổ chức tín dụng, nhu cầu tín dụng tổng thể của khách hàng trong nửa cuối năm 2024 và cả năm 2024 cải thiện mạnh hơn so với nửa đầu năm 2024, cả năm 2023 nhưng vẫn thấp hơn năm 2022 và mức kỳ vọng ghi nhận tại kỳ điều tra trước.

Xu hướng cải thiện nhu cầu tín dụng diễn ra ở hầu hết các đối tượng, loại tiền, kỳ hạn và lĩnh vực, trong đó lĩnh vực công nghiệp chế biến, chế tạo; kinh doanh xuất, nhập khẩu; đầu tư kinh doanh bất động sản; xây dựng; đầu tư ngành vận tải, kho bãi là 5 lĩnh vực có số lượng tổ chức tín dụng đánh giá nhu cầu tín dụng tăng nhiều nhất trong năm 2024.

Dự kiến

Đáng chú ý, nhu cầu tín dụng cho đầu tư kinh doanh bất động sản được đánh giá phục hồi trở lại trong năm 2024. Dự kiến 6 tháng đầu năm 2025 và cả năm 2025, nhu cầu tín dụng được kỳ vọng tăng đối với tất cả các lĩnh vực, đối tượng, loại tiền và kỳ hạn.

Tương tự như năm 2024, diễn biến tăng trưởng kinh tế; diễn biễn lãi suất; thay đổi nhu cầu đầu tư vào sản xuất kinh doanh; thay đổi lãi suất cho vay của tổ chức tín dụng; chất lượng phục vụ cải thiện là những nhân tố được nhiều tổ chức tín dụng nhận định và dự báo ảnh hưởng tích cực đến sự gia tăng nhu cầu tín dụng của nhóm khách hàng doanh nghiệp trong 6 tháng đầu năm và cả năm 2025.

Bên cạnh các nhân tố trên, nhân tố cải tiến sản phẩm cho vay, điều kiện và thủ tục cho vay của tổ chức tín dụng được dự báo tác động nhiều đến sự gia tăng nhu cầu vay vốn của nhóm khách hàng cá nhân trong 6 tháng đầu năm và cả năm 2025.

Bốn ngành đẩy mạnh vay vốn

Theo Vụ Dự báo, Thống kê, NHNN, trong 4 lĩnh vực chính được thống kê tại kỳ điều tra này, lĩnh vực phát triển công nghiệp và xây dựng có tỷ lệ tổ chức tín dụng dự báo nhu cầu vay vốn tăng cao nhất trong năm 2025; theo sau là nhu cầu vay phục vụ đời sống, tiêu dùng và nhu cầu vay thương mại và dịch vụ; sau đó đến lĩnh vực vay phát triển nông, lâm, thủy sản.

Ánh Tuyết

Đọc thêm

Giá vàng hôm nay ngày 18/5: Giá vàng trong nước giữ mốc 160,5 - 163,5 triệu đồng/lượng

Giá vàng hôm nay ngày 18/5: Giá vàng trong nước giữ mốc 160,5 - 163,5 triệu đồng/lượng

(TBTCO) - Giá vàng trong nước tiếp tục đi ngang tại nhiều doanh nghiệp lớn, với vàng miếng phổ biến ở mức 160,5 - 163,5 triệu đồng/lượng.
Ngân hàng Phương Đông khẳng định không liên quan đến tiền điện tử OCB

Ngân hàng Phương Đông khẳng định không liên quan đến tiền điện tử OCB

(TBTCO) - Ngân hàng Phương Đông (OCB) khẳng định, không phát hành, tham gia hay liên kết với bất kỳ dự án tiền điện tử, tiền ảo, token hay blockchain nào mang tên “OCB token”.
Tỷ giá USD hôm nay (16/5): USD mạnh lên đẩy DXY lên đỉnh 5 tuần, EUR và GBP đồng loạt lao dốc

Tỷ giá USD hôm nay (16/5): USD mạnh lên đẩy DXY lên đỉnh 5 tuần, EUR và GBP đồng loạt lao dốc

(TBTCO) - Sáng ngày 16/5, tỷ giá trung tâm chốt tuần ở mức 25.131 đồng, cao nhất trong khoảng 4 tháng và ghi nhận tuần tăng mạnh nhất gần hai tháng qua. Trong khi USD tự do giảm nhẹ về quanh 26.360 - 26.390 VND/USD, tương đương mặt bằng ngân hàng thương mại; nhiều nhà băng đồng loạt hạ tỷ giá EUR và GBP. Chỉ số DXY chốt tuần tại 99,3 điểm, tăng mạnh 1,43% và lên mức cao nhất trong 5 tuần gần đây.
Thị trường tiền tệ tuần 11 - 15/5: Tỷ giá trung tâm chạm đỉnh 4 tháng, lãi suất liên ngân hàng neo vùng cao 6 - 7%

Thị trường tiền tệ tuần 11 - 15/5: Tỷ giá trung tâm chạm đỉnh 4 tháng, lãi suất liên ngân hàng neo vùng cao 6 - 7%

(TBTCO) - Diễn biến nổi bật trên thị trường tiền tệ tuần qua, từ ngày 11 - 15/5 cho thấy, mặt bằng lãi suất liên ngân hàng tiếp tục neo cao vùng 6 - 7%/năm, trong khi nhà điều hành duy trì trạng thái hút ròng nhẹ 5.873 tỷ đồng qua kênh OMO. Tuần qua, tỷ giá trung tâm tăng mạnh nhất trong 2 tháng trở lại đây, trong bối cảnh DXY bật tăng lên trên 99 điểm.
Dòng vốn qua VDB đóng góp quan trọng vào chiến lược phát triển của đất nước

Dòng vốn qua VDB đóng góp quan trọng vào chiến lược phát triển của đất nước

(TBTCO) - Qua 20 năm hoạt động, Ngân hàng Phát triển Việt Nam (VDB) đã có nhiều đóng góp quan trọng đối với việc huy động nguồn lực hỗ trợ đầu tư phát triển hạ tầng có quy mô lớn, trọng điểm có ý nghĩa chiến lược của đất nước, bảo đảm an sinh xã hội, thúc đẩy tăng trưởng, qua đó góp phần phát triển kinh tế - xã hội bền vững của đất nước.
Ngân hàng Phát triển Việt Nam: 20 năm kiến tạo động lực tăng trưởng kinh tế - xã hội đất nước

Ngân hàng Phát triển Việt Nam: 20 năm kiến tạo động lực tăng trưởng kinh tế - xã hội đất nước

(TBTCO) - “Mỗi giai đoạn hình thành và phát triển của Ngân hàng Phát triển Việt Nam (VDB) đều mang dấu ấn riêng, phản ánh những nỗ lực không ngừng trong việc thực hiện sứ mệnh đồng hành cùng đất nước” - đó là chia sẻ của Tổng Giám đốc VDB Đào Quang Trường với phóng viên Báo Tài chính - Đầu tư về chặng đường 20 năm hình thành và phát triển.
VDB và hành trình làm “đòn bẩy” cho các dự án trọng điểm quốc gia

VDB và hành trình làm “đòn bẩy” cho các dự án trọng điểm quốc gia

(TBTCO) - Trong suốt 20 năm qua, Ngân hàng Phát triển Việt Nam (VDB) đã phát huy hiệu quả vai trò là công cụ điều tiết và dẫn dắt dòng vốn đầu tư vào các lĩnh vực ưu tiên, góp phần tạo lập nguồn lực cho nền kinh tế và thúc đẩy phát triển thị trường vốn, đặc biệt là thị trường vốn trung và dài hạn.
Doanh nghiệp bảo hiểm tìm động lực tăng trưởng mới

Doanh nghiệp bảo hiểm tìm động lực tăng trưởng mới

(TBTCO) - Thị trường bảo hiểm phi nhân thọ tiếp đà tăng tích cực 9,88%, với doanh thu phí gốc ước đạt 16.140 tỷ đồng hai tháng đầu năm và ghi nhận nhiều biến động đáng chú ý về tốc độ tăng trưởng, cũng như cục diện thị phần giữa các doanh nghiệp. Hiện nhiều doanh nghiệp đang chuyển dịch cơ cấu nghiệp vụ, tìm động lực tăng trưởng mới trong bảo hiểm kỹ thuật, dự án.
Xem thêm

Mới nhất Đọc nhiều

DOJI Giá mua Giá bán
SJC -Bán Lẻ 16,050 16,350
Kim TT/AVPL 16,050 16,350
NHẪN TRÒN 9999 HƯNG THỊNH VƯỢNG 16,050 16,350
Nguyên Liệu 99.99 15,000 ▲100K 15,200 ▲100K
Nguyên Liệu 99.9 14,950 ▲100K 15,150 ▲100K
NỮ TRANG 9999 - BÁN LẺ 15,800 16,200
NỮ TRANG 999 - BÁN LẺ 15,750 16,150
Nữ trang 99 - Bán Lẻ 15,680 16,130
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 160,500 163,500
Hà Nội - PNJ 160,500 163,500
Đà Nẵng - PNJ 160,500 163,500
Miền Tây - PNJ 160,500 163,500
Tây Nguyên - PNJ 160,500 163,500
Đông Nam Bộ - PNJ 160,500 163,500
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 16,050 16,350
Miếng SJC Nghệ An 16,050 16,350
Miếng SJC Thái Bình 16,050 16,350
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 16,000 ▼50K 16,300 ▼50K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 16,000 ▼50K 16,300 ▼50K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 16,000 ▼50K 16,300 ▼50K
NL 99.90 14,550 ▼250K
NL 99.99, Nhẫn Tròn Thái Bình 14,600 ▼250K
Trang sức 99.9 15,490 ▼50K 16,190 ▼50K
Trang sức 99.99 15,500 ▼50K 16,200 ▼50K
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,605 1,635
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,605 16,352
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,605 16,353
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,603 1,633
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,603 1,634
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,583 1,618
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 153,698 160,198
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 112,612 121,512
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 101,285 110,185
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 89,958 98,858
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 85,589 94,489
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 58,727 67,627
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,605 1,635
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,605 1,635
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,605 1,635
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,605 1,635
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,605 1,635
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,605 1,635
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,605 1,635
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,605 1,635
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,605 1,635
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,605 1,635
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,605 1,635
Cập nhật: 18/05/2026 12:30
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 18262 18537 19115
CAD 18631 18908 19525
CHF 32844 33229 33872
CNY 0 3827 3919
EUR 29999 30272 31299
GBP 34283 34674 35615
HKD 0 3236 3438
JPY 159 163 169
KRW 0 16 18
NZD 0 15074 15659
SGD 20033 20316 20838
THB 721 784 838
USD (1,2) 26093 0 0
USD (5,10,20) 26135 0 0
USD (50,100) 26163 26183 26387
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,137 26,137 26,387
USD(1-2-5) 25,092 - -
USD(10-20) 25,092 - -
EUR 30,157 30,181 31,464
JPY 161.7 161.99 170.92
GBP 34,526 34,619 35,633
AUD 18,478 18,545 19,147
CAD 18,845 18,905 19,500
CHF 33,130 33,233 34,042
SGD 20,184 20,247 20,939
CNY - 3,805 3,931
HKD 3,306 3,316 3,438
KRW 16.2 16.89 18.28
THB 769.21 778.71 829.53
NZD 15,065 15,205 15,574
SEK - 2,742 2,826
DKK - 4,035 4,157
NOK - 2,786 2,870
LAK - 0.92 1.27
MYR 6,206.87 - 6,970.13
TWD 754.94 - 909.96
SAR - 6,920.06 7,252.64
KWD - 83,792 88,705
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,127 26,147 26,387
EUR 30,019 30,140 31,317
GBP 34,427 34,565 35,566
HKD 3,295 3,308 3,424
CHF 32,865 32,997 33,926
JPY 161.82 162.47 169.79
AUD 18,413 18,487 19,075
SGD 20,197 20,278 20,856
THB 784 787 822
CAD 18,793 18,868 19,438
NZD 15,099 15,630
KRW 16.80 18.43
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26160 26160 26387
AUD 18455 18555 19482
CAD 18816 18916 19927
CHF 33097 33127 34710
CNY 3807.5 3832.5 3968
CZK 0 1220 0
DKK 0 4140 0
EUR 30184 30214 31940
GBP 34522 34542 36402
HKD 0 3355 0
JPY 162.22 162.72 173.23
KHR 0 6.097 0
KRW 0 17.1 0
LAK 0 1.165 0
MYR 0 6920 0
NOK 0 2850 0
NZD 0 15191 0
PHP 0 400 0
SEK 0 2840 0
SGD 20195 20325 21047
THB 0 750.3 0
TWD 0 820 0
SJC 9999 16050000 16050000 16350000
SBJ 14000000 14000000 16350000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,160 26,210 26,387
USD20 26,160 26,210 26,387
USD1 23,875 26,210 26,387
AUD 18,457 18,557 19,689
EUR 30,272 30,272 31,625
CAD 18,738 18,838 20,168
SGD 20,240 20,390 20,982
JPY 162.71 164.21 168.97
GBP 34,429 34,779 35,950
XAU 16,098,000 0 16,402,000
CNY 0 3,670 0
THB 0 785 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 18/05/2026 12:30
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80