Giá vàng hôm nay ngày 19/1: Vàng trong nước giữ ổn định ở vùng giá cao

Thu Hương
(TBTCO) - Sáng 19/1, giá vàng trong nước vẫn giữ ổn định ở cả hai phân khúc vàng miếng và vàng nhẫn, trong khi giá vàng thế giới điều chỉnh nhẹ so với phiên trước.
aa

Giá vàng trong nước

Theo ghi nhận của phóng viên, rạng sáng ngày 19/1, giá vàng trong nước tiếp tục duy trì trạng thái ổn định khi mặt bằng giá hầu như không có biến động so với phiên trước đó. Tại các doanh nghiệp kinh doanh vàng lớn như DOJI, Bảo Tín Minh Châu, SJC và PNJ, giá mua - bán vàng miếng vẫn được giữ nguyên, phổ biến trong khoảng 160,8 - 162,8 triệu đồng/lượng, cho thấy xu hướng đi ngang kéo dài sang ngày thứ hai liên tiếp.

Cùng diễn biến này, Tập đoàn Vàng bạc Đá quý Phú Quý tiếp tục niêm yết giá vàng miếng ở mức 160 triệu đồng/lượng ở chiều mua vào và 162,8 triệu đồng/lượng ở chiều bán ra. So với rạng sáng ngày 18/1, cả hai mức giá đều không có sự điều chỉnh.

Giá vàng hôm nay ngày 19/1: Vàng trong nước giữ ổn định ở vùng giá cao
Diễn biến giá vàng tính đến thời điểm sáng ngày 19/1. Nguồn: PV tổng hợp.

Ở phân khúc vàng nhẫn, mặt bằng giá rạng sáng nay cũng ghi nhận xu hướng ổn định tương tự khi hầu hết các thương hiệu lớn đều giữ nguyên mức niêm yết so với phiên liền trước. Vàng nhẫn SJC hiện đang được giao dịch ở mức 157,2 triệu đồng/lượng mua vào và 159,7 triệu đồng/lượng bán ra, không thay đổi so với rạng sáng ngày 18/1.

Tại DOJI, giá vàng nhẫn tiếp tục duy trì ở mức 158 triệu đồng/lượng mua vào và 161 triệu đồng/lượng bán ra. Trong khi đó, PNJ vẫn niêm yết vàng nhẫn trong khoảng 158 - 161 triệu đồng/lượng cho cả hai chiều giao dịch.

Bảo Tín Minh Châu cũng không điều chỉnh bảng giá, với mức mua vào đạt 159,8 triệu đồng/lượng và bán ra ở 162,8 triệu đồng/lượng. Tương tự, Tập đoàn Phú Quý tiếp tục giao dịch vàng nhẫn trong khoảng 158 - 161 triệu đồng/lượng, giữ nguyên so với phiên trước đó.

Nhìn chung, thị trường vàng trong nước rạng sáng ngày 19/1 vẫn duy trì trạng thái “đi ngang” ở cả hai phân khúc vàng miếng và vàng nhẫn, phản ánh sự ổn định của mặt bằng giá trong bối cảnh các yếu tố hỗ trợ và áp lực chưa tạo ra biến động đáng kể.

Giá vàng thế giới

Trên thị trường thế giới, giá vàng hiện giao dịch ở mức 4.598 USD/ounce, giảm 19,3 USD/ounce. Quy đổi theo tỷ giá Vietcombank, chưa bao gồm thuế và phí, giá vàng thế giới tương đương khoảng 146,7 triệu đồng/lượng. Trong khi đó, giá vàng miếng trong nước vẫn duy trì ở vùng cao, khiến chênh lệch giữa hai thị trường nới rộng lên khoảng 16,1 triệu đồng/lượng.

Giá vàng hôm nay ngày 19/1: Vàng trong nước giữ ổn định ở vùng giá cao
Diễn biến giá vàng thế giới trong 24 giờ qua. Nguồn: Kitco.

Tuần qua, giá vàng thế giới trải qua những biến động mạnh khi liên tục tăng cao rồi điều chỉnh sâu, phản ánh tâm lý thận trọng của nhà đầu tư trước các diễn biến phức tạp về địa chính trị và chính sách tiền tệ của Mỹ. Bước sang tuần giao dịch mới, thị trường sẽ theo dõi sát loạt dữ liệu kinh tế quan trọng liên quan đến lạm phát, tăng trưởng và thị trường lao động, trong bối cảnh nhiều yếu tố bên ngoài vẫn tiềm ẩn rủi ro.

Thị trường chứng khoán Mỹ sẽ nghỉ giao dịch vào thứ Hai nhân ngày Martin Luther King Jr. Cùng thời điểm, Diễn đàn Kinh tế Thế giới (WEF) khai mạc tại Davos, Thụy Sĩ. Sang thứ Ba, số liệu việc làm ADP của Mỹ sẽ được công bố, tiếp đó là báo cáo về doanh số bán nhà chờ xử lý trong tháng 12 vào thứ Tư, cùng với bài phát biểu của Tổng thống Mỹ Donald Trump tại WEF. Các dữ liệu đáng chú ý khác như GDP quý III cuối cùng, chỉ số lạm phát PCE, số đơn xin trợ cấp thất nghiệp và PMI sơ bộ tháng 1 cũng sẽ lần lượt được công bố trong nửa cuối tuần.

Theo ông Marc Chandler - Giám đốc điều hành Bannockburn Global Forex, giá vàng đang trong giai đoạn ổn định và có thể điều chỉnh về quanh 4.550 USD/ounce. Ông cho rằng, lợi suất trái phiếu chính phủ Mỹ kỳ hạn 10 năm tăng mạnh lên trên 4,2% có thể tạo thêm áp lực lên kim loại quý, trong khi lịch kinh tế tuần tới tương đối “yên ắng”, thuận lợi cho xu hướng đi ngang.

Ở góc nhìn thận trọng hơn, ông Alex Kuptsikevich - chuyên gia phân tích tại FxPro, dự báo giá vàng có thể giảm trong ngắn hạn, khi lo ngại về thuế nhập khẩu đối với các khoáng sản quan trọng đã hạ nhiệt. Tuy nhiên, ông cũng nhấn mạnh rằng vị thế dài hạn của vàng vẫn vững chắc nhờ môi trường địa chính trị nhiều bất ổn và xu hướng các ngân hàng trung ương tiếp tục đa dạng hóa dự trữ, dù tốc độ mua vào đã chậm lại sau khi giá vàng tăng hơn 130% trong hai năm qua.

Trong khi đó, ông Michael Moor - nhà sáng lập Moor Analytics, lại kỳ vọng giá vàng sẽ tiếp tục đi lên, còn chuyên gia Jim Wyckoff của Kitco cho rằng, phe mua vẫn đang chiếm ưu thế khi thị trường liên tục thiết lập các mức đỉnh mới trong thời gian gần đây.

Thu Hương

Đọc thêm

Giá vàng hôm nay ngày 23/3: Giá vàng giao dịch quanh ngưỡng 168 - 171 triệu đồng/lượng

Giá vàng hôm nay ngày 23/3: Giá vàng giao dịch quanh ngưỡng 168 - 171 triệu đồng/lượng

(TBTCO) - Sáng ngày 23/3, giá vàng trong nước đi ngang khi các thương hiệu lớn đồng loạt giữ nguyên giá, với mặt bằng giao dịch phổ biến quanh 168 - 171 triệu đồng/lượng.
Giá vàng hôm nay ngày 22/3: Giá vàng lao dốc, “bốc hơi” hơn 5 triệu đồng/lượng

Giá vàng hôm nay ngày 22/3: Giá vàng lao dốc, “bốc hơi” hơn 5 triệu đồng/lượng

(TBTCO) - Giá vàng trong nước sáng ngày 22/3 đồng loạt giảm mạnh tại nhiều doanh nghiệp lớn, với mức giảm phổ biến hơn 5 triệu đồng/lượng, đưa mặt bằng giá lùi về quanh ngưỡng 168 - 171 triệu đồng/lượng.
Giá vàng hôm nay ngày 21/3: Giá vàng quay đầu tăng sau phiên giảm sâu

Giá vàng hôm nay ngày 21/3: Giá vàng quay đầu tăng sau phiên giảm sâu

(TBTCO) - Giá vàng trong nước sáng ngày 21/3 đảo chiều tăng trở lại tại hầu hết doanh nghiệp lớn. Mặt bằng giá được điều chỉnh tăng từ 300.000 - 600.000 đồng/lượng ở cả phân khúc vàng miếng và vàng nhẫn.
Giá vàng hôm nay ngày 20/3: Giá vàng giảm mạnh lên đến 7,5 triệu đồng/lượng

Giá vàng hôm nay ngày 20/3: Giá vàng giảm mạnh lên đến 7,5 triệu đồng/lượng

(TBTCO) - Giá vàng trong nước sáng ngày 20/3 giảm mạnh tại hầu hết doanh nghiệp, với mức điều chỉnh lên tới 7,5 triệu đồng/lượng, đưa mặt bằng giao dịch lùi về quanh 172 - 175 triệu đồng/lượng.
Bán tháo vàng và bạc tăng mạnh khi nỗi lo lạm phát bao trùm thị trường toàn cầu

Bán tháo vàng và bạc tăng mạnh khi nỗi lo lạm phát bao trùm thị trường toàn cầu

(TBTCO) - Vàng và bạc cùng tham gia đợt bán tháo trên diện rộng vào ngày 19/3, với giá giảm lần lượt khoảng 5% và 10%, do lo ngại về cuộc chiến tại Iran và lạm phát bao trùm thị trường toàn cầu.
WGC thúc đẩy hạ tầng chung, vàng kỹ thuật số có thể trở thành tài sản thế chấp

WGC thúc đẩy hạ tầng chung, vàng kỹ thuật số có thể trở thành tài sản thế chấp

Hội đồng Vàng Thế giới (WGC) vừa công bố sáng kiến “Vàng như một dịch vụ” (Gold-as-a-Service) nhằm xây dựng hạ tầng mới, mở ra giai đoạn phát triển tiếp theo cho vàng kỹ thuật số. Mô hình này được kỳ vọng định hình lại cách phát hành, vận hành các sản phẩm, tăng tính liên thông, thanh khoản; qua đó, vàng kỹ thuật số có thể dùng làm tài sản thế chấp cho các khoản vay.
Giá vàng hôm nay ngày 19/3:  Vàng nhẫn giảm giá tại nhiều doanh nghiệp lớn

Giá vàng hôm nay ngày 19/3: Vàng nhẫn giảm giá tại nhiều doanh nghiệp lớn

(TBTCO) - Sáng ngày 19/3, giá vàng nhẫn được niêm yết quanh vùng 178,8 - 182,9 triệu đồng/lượng, ghi nhận điều chỉnh giảm tại một số doanh nghiệp lớn.
Giá vàng hôm nay ngày 17/3: Giá vàng tăng nhẹ 500.000 đồng/lượng

Giá vàng hôm nay ngày 17/3: Giá vàng tăng nhẹ 500.000 đồng/lượng

(TBTCO) - Giá vàng trong nước sáng 17/3 ghi nhận tăng nhẹ khi nhiều doanh nghiệp đồng loạt nâng giá vàng miếng và vàng nhẫn thêm khoảng 500.000 đồng/lượng.
Xem thêm
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17775 18049 18627
CAD 18529 18806 19419
CHF 32625 33009 33657
CNY 0 3470 3830
EUR 29848 30121 31149
GBP 34402 34794 35736
HKD 0 3238 3440
JPY 158 162 168
KRW 0 16 18
NZD 0 14983 15570
SGD 20003 20285 20809
THB 719 782 836
USD (1,2) 26077 0 0
USD (5,10,20) 26118 0 0
USD (50,100) 26146 26166 26357
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,137 26,137 26,357
USD(1-2-5) 25,092 - -
USD(10-20) 25,092 - -
EUR 29,921 29,945 31,186
JPY 160.54 160.83 169.53
GBP 34,535 34,628 35,609
AUD 17,934 17,999 18,566
CAD 18,694 18,754 19,327
CHF 32,838 32,940 33,708
SGD 20,114 20,177 20,847
CNY - 3,780 3,897
HKD 3,300 3,310 3,428
KRW 16.12 16.81 18.18
THB 765.32 774.77 825.43
NZD 14,937 15,076 15,430
SEK - 2,766 2,847
DKK - 4,004 4,120
NOK - 2,670 2,748
LAK - 0.93 1.28
MYR 6,189.53 - 6,948.24
TWD 743.56 - 894.69
SAR - 6,897.55 7,220.87
KWD - 83,576 88,380
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,107 26,137 26,357
EUR 29,877 29,997 31,173
GBP 34,551 34,690 35,694
HKD 3,300 3,313 3,428
CHF 32,676 32,807 33,723
JPY 161.21 161.86 169.12
AUD 17,923 17,995 18,581
SGD 20,190 20,271 20,850
THB 783 786 821
CAD 18,705 18,780 19,347
NZD 15,025 15,555
KRW 16.77 18.40
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26150 26150 26357
AUD 17917 18017 18943
CAD 18692 18792 19809
CHF 32837 32867 34454
CNY 3753.6 3778.6 3914.1
CZK 0 1185 0
DKK 0 4050 0
EUR 29990 30020 31748
GBP 34660 34710 36473
HKD 0 3355 0
JPY 161.6 162.1 172.64
KHR 0 6.097 0
KRW 0 17.1 0
LAK 0 1.172 0
MYR 0 6810 0
NOK 0 2720 0
NZD 0 15065 0
PHP 0 410 0
SEK 0 2830 0
SGD 20154 20284 21006
THB 0 748.2 0
TWD 0 810 0
SJC 9999 17050000 17050000 17350000
SBJ 15000000 15000000 17350000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,167 26,217 26,357
USD20 26,167 26,217 26,357
USD1 23,847 26,217 26,357
AUD 17,973 18,073 19,192
EUR 30,143 30,143 31,577
CAD 18,652 18,752 20,073
SGD 20,242 20,392 20,971
JPY 162.11 163.61 168.28
GBP 34,570 34,920 36,015
XAU 17,048,000 0 17,352,000
CNY 0 3,666 0
THB 0 783 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 26/03/2026 12:30
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80