Năm 2020: Mức đóng bảo hiểm y tế theo hộ gia đình có gì thay đổi?

Thảo Miên
(TBTCVN) - Vào giữa năm 2020, khi mức lương cơ sở được tăng lên từ 1,45 triệu lên 1,6 triệu đồng/tháng thì mức đóng bảo hiểm y tế (BHYT) cũng sẽ tăng lên. Tuy nhiên, số tăng này không lớn.
aa

bh

Đại lý thu của bưu điện tại Hà Nội vận động người dân tham gia BHYT, BHXH tự nguyện.

Mức đóng BHYT tăng 4.950 đồng/tháng từ tháng 7/2020

Trả lời câu hỏi về việc trong thời điểm hiện tại, quy định mức đóng BHYT theo hộ gia đình trong năm 2020 có gì thay đổi, ông Nguyễn Tất Thao, Phó Trưởng Ban Thực hiện chính sách BHYT (Bảo hiểm xã hội Việt Nam) cho biết, mức đóng BHYT hiện đang được Chính phủ quy định bằng 4,5% mức lương cơ sở (theo Luật BHYT, mức đóng tối đa là 6% mức lương cơ sở). Theo Nghị định số 146/2018/NĐ-CP quy định chi tiết và hướng dẫn biện pháp thi hành một số điều của Luật BHYT, mức đóng BHYT của đối tượng tham gia BHYT theo hộ gia đình bằng 4,5% mức lương cơ sở; người thứ hai, thứ ba, thứ tư đóng lần lượt bằng 70%, 60%, 50% mức đóng của người thứ nhất; từ người thứ năm trở đi đóng bằng 40% mức đóng của người thứ nhất. Việc giảm trừ mức đóng BHYT theo quy định tại điểm này được thực hiện khi các thành viên tham gia BHYT theo hộ gia đình cùng tham gia trong năm tài chính.

Ông Thao cũng cho biết, năm 2020, khi Nhà nước điều chỉnh mức lương cơ sở tăng lên 1,6 triệu đồng/1 tháng (từ 1/7/2020) thì mức đóng BHYT của người tham gia BHYT theo hộ gia đình cũng tăng lên. Tuy nhiên, số tăng này không đáng kể. Cụ thể như sau: người thứ nhất đóng bằng 1,6 triệu đồng x 4,5% = 72.000 đồng/tháng (mức đóng trước đây là 67.050 đồng/tháng, tăng 4.950 đồng/tháng hay 59.400 đồng/năm). Người thứ hai = 1,6 triệu đồng x 4,5% x 70% = 50.400 đồng/tháng (tăng 3.465 đồng/tháng = 41.580 đồng/năm). Người thứ ba = 1,6 triệu đồng x 4,5% x 60% = 43.200 đồng/tháng (tăng 2.970 đồng/tháng = 35.640 đồng/năm). Người thứ tư = 1,6 triệu đồng x 4,5% x 50% = 36.000 đồng/tháng (tăng 2.475 đồng/tháng = 29.700 đồng/năm). Từ người thứ năm trở đi = 1,6 triệu đồng x 4,5% x 40% = 28.800 đồng/tháng (tăng 1.980 đồng/tháng = 23.760 đồng/năm).

Thay đổi mức giảm trừ khi tham gia BHYT theo hộ gia đình

Bộ Y tế đang xây dựng dự thảo Luật BHYT sửa đổi. Trong đó, cũng yêu cầu tất cả thành viên thuộc hộ gia đình phải tham gia cùng một thời điểm, thay vì có thể tham gia từng cá nhân như hiện nay. Tuy nhiên, mức đóng của thành viên thứ hai trong gia đình sẽ bằng 80% của người thứ nhất, thay vì mức 70% như hiện nay. Lý giải về điều này, ông Phan Văn Toàn, Phó Vụ trưởng Vụ BHYT (Bộ Y tế) cho biết, tất cả các thành viên trong một gia đình tham gia BHYT thì mức đóng sẽ được giảm dần, không quy định là cá nhân. Chính điều này cũng đang là vướng mắc hiện nay. Một số trường hợp cá nhân không có tên trong hộ khẩu nên rất khó để tham gia BHYT. Quy định hiện hành đang khó, tuy nhiên, nghị quyết của Quốc hội cũng có một số điều mở, đó là giao cho Chính phủ quy định tham gia BHYT gia đình linh hoạt. Linh hoạt ở đây là không bắt buộc phải tham gia đúng thời điểm, mà có thể tham gia ở các thời điểm khác nhau.

Ông Toàn cho biết, về quy định tham gia theo cá nhân, hiện nay vẫn chưa có. Do đó, trong lần dự thảo tới đây cũng phải đề cập đến những người trong xã hội có một bộ phận không có tên trong sổ hộ khẩu cũng phải được tham gia BHYT. Thậm chí, có những trường hợp không có một loại giấy tờ gì cả cũng phải được tham gia BHYT. Nếu không có giấy tờ gì có thể nộp ảnh để tham gia BHYT, khi có ảnh rồi, người tham gia BHYT đi khám chữa bệnh không còn cần phải có bất cứ một giấy tờ gì cả.

Cũng theo ông Toàn, mức giảm trừ theo hộ gia đình hiện nay giảm cao, người thứ hai đóng bằng 70% người thứ nhất; người thứ ba, thứ tư, thứ năm giảm dần; cho đến người thứ năm chỉ còn đóng có 40% thôi. Như vậy, việc giảm trừ này quỹ BHYT thu được đã tính trên mức lương cơ sở rồi lại còn giảm trừ chỉ còn đóng 40% thì mức đóng sẽ thấp so với nhu cầu về chi, không đáp ứng việc cân đối quỹ, đồng thời dẫn đến tình trạng không công bằng. Điều này thể hiện ở chỗ: trong khi học sinh, sinh viên, hộ gia đình có mức sống trung bình chỉ được hỗ trợ 30% BHYT, tức là phải đóng 70%, thì hộ gia đình trên mức sống trung bình cũng được hỗ trợ mức như vậy. Chính vì vậy, dự thảo đề xuất, nếu giảm chỉ giảm 80%, mức đóng phải cao hơn học sinh, sinh viên, mức đóng phải cao hơn mức đóng của hộ gia đình có mức sống trung bình.

Làm rõ hơn ý này trong dự thảo Luật BHYT sửa đổi, ông Bùi Sỹ Lợi, Phó Chủ nhiệm Ủy ban Các vấn đề xã hội của Quốc hội nhấn mạnh, trước kia có chính sách khuyến khích BHYT như vậy bởi mục tiêu là muốn để đẩy nhanh tốc độ bao phủ BHYT. Bây giờ, quỹ BHYT chi rất cao, kỹ thuật rất tốt, yêu cầu chăm sóc sức khỏe nhân dân phải được nâng lên thì phải điều chỉnh vấn đề này. Không nên để như cũ được vì rõ ràng, người tham gia muốn hưởng lợi cao thì phải đóng cao, mức giảm trừ là để khuyến khích. Hộ nghèo không phải đóng, hộ cận nghèo được giảm là đúng. Còn các hộ trung bình phải tuân thủ nguyên tắc. “Theo lộ trình, cũng phải tính toán đến lúc ai cũng phải đóng bình đẳng cả, không thể có ai giảm trừ. Người ốm đều như nhau. Tôi nghĩ, cũng phải đến lộ trình nào đó, bởi ai cũng phải đóng BHYT, đó là quyền và nghĩa vụ bình đẳng như nhau” - ông Lợi nêu quan điểm.

Thảo Miên

Thảo Miên

Đọc thêm

Thị trường bảo hiểm nhân thọ đang dịch chuyển từ cách tiếp cận cảm tính sang lựa chọn dựa trên nhu cầu thực tế

Thị trường bảo hiểm nhân thọ đang dịch chuyển từ cách tiếp cận cảm tính sang lựa chọn dựa trên nhu cầu thực tế

(TBTCO) - Báo cáo Nghiên cứu dư luận xã hội và Chính sách tiếp cận cộng đồng trong bảo hiểm nhân thọ do Hiệp hội Bảo hiểm Việt Nam công bố cho thấy, có tới 80% người dân trong nhóm chưa sở hữu bảo hiểm nhân thọ dự định mua trong 12 tháng tới. Điều này cho thấy tiềm năng của thị trường còn lớn, tuy nhiên, cách tiếp cận bảo hiểm của người dân đang có nhiều thay đổi.
Thị trường bảo hiểm nhân thọ "sáng dần", song nhiều doanh nghiệp lợi nhuận vẫn "rùa bò"

Thị trường bảo hiểm nhân thọ "sáng dần", song nhiều doanh nghiệp lợi nhuận vẫn "rùa bò"

(TBTCO) - Thị trường bảo hiểm nhân thọ lấy lại đà tăng trưởng dương từ năm 2025 và kỳ vọng đón kết quả khả quan trong năm nay. Tuy nhiên, phía sau đà tăng tích cực đó vẫn còn những khoảng lặng đến từ sự sụt giảm doanh thu, lợi nhuận, thậm chí báo lỗ tại một số doanh nghiệp.
“Cuộc đua” sức khỏe thương hiệu ngành tài chính tiêu dùng trong thế bám đuổi

“Cuộc đua” sức khỏe thương hiệu ngành tài chính tiêu dùng trong thế bám đuổi

(TBTCO) - Mibrand Vietnam vừa công bố Bảng xếp hạng sức khỏe thương hiệu tài chính tiêu dùng Việt Nam 2025. Dữ liệu cho thấy, nhóm thương hiệu dẫn đầu chưa tạo ra khoảng cách quá lớn về điểm số. "Cuộc đua" giữa các doanh nghiệp dịch chuyển sang niềm tin, chất lượng dịch vụ và khả năng tối ưu trải nghiệm khách hàng sau vay.
Việt Nam và Lào ký kết hợp tác về bảo hiểm xã hội giai đoạn 2026 - 2028

Việt Nam và Lào ký kết hợp tác về bảo hiểm xã hội giai đoạn 2026 - 2028

(TBTCO) - Ngày 27/5, tại Hà Nội, Bảo hiểm xã hội Việt Nam và Cơ quan Bảo hiểm xã hội Quốc gia Lào đã ký kết Biên bản Ghi nhớ hợp tác giai đoạn 2026 - 2028.
VIS Rating lo ngại thanh khoản thắt chặt, nợ xấu tăng khiến ngân hàng thêm áp lực

VIS Rating lo ngại thanh khoản thắt chặt, nợ xấu tăng khiến ngân hàng thêm áp lực

(TBTCO) - Theo VIS Rating, điều kiện huy động tiếp tục thắt chặt, với tăng trưởng tiền gửi toàn hệ thống chỉ đạt 0,6%, trong bối cảnh nợ xấu gia tăng, lãi suất và đòn bẩy cao kéo dài đang tạo áp lực lên ngành ngân hàng. Từ đó, xu hướng thu hẹp NIM và chi phí tín dụng gia tăng dự kiến sẽ tiếp diễn.
Trải nghiệm khách hàng là thước đo chất lượng ngân hàng

Trải nghiệm khách hàng là thước đo chất lượng ngân hàng

(TBTCO) - Các ngân hàng đang tăng tốc chuyển đổi số với nhiều sáng kiến, nhằm nâng cao trải nghiệm khách hàng và tối ưu chi phí vận hành. Việc đẩy mạnh ứng dụng công nghệ cũng góp phần kéo giảm mạnh tỷ lệ CIR. Hiện nhiều tổ chức tín dụng đã có trên 90% giao dịch thực hiện qua kênh số.
Tín dụng tại TP. Hồ Chí Minh và Đồng Nai chảy mạnh vào khu vực sản xuất

Tín dụng tại TP. Hồ Chí Minh và Đồng Nai chảy mạnh vào khu vực sản xuất

(TBTCO) - Trong 4 tháng đầu năm 2026, dòng vốn tín dụng tại TP. Hồ Chí Minh và Đồng Nai tiếp tục chảy mạnh vào các lĩnh vực sản xuất, công nghiệp chế biến, nông nghiệp và thương mại. Đây cũng là nhóm ngành đang có nhu cầu vốn lớn nhất tại khu vực phía Nam.
Cả nước có 21,73 triệu người tham gia bảo hiểm xã hội

Cả nước có 21,73 triệu người tham gia bảo hiểm xã hội

(TBTCO) - Theo số liệu mới được Bảo hiểm xã hội Việt Nam công bố, tính đến hết tháng 4/2026, cả nước có 21,73 triệu người tham gia bảo hiểm xã hội, tăng 182.000 người so với tháng 3/2026 và tăng 206.000 người so với năm 2025.
Xem thêm

Mới nhất Đọc nhiều

DOJI Giá mua Giá bán
SJC -Bán Lẻ 15,450 15,750
Kim TT/AVPL 15,450 15,750
NHẪN TRÒN 9999 HƯNG THỊNH VƯỢNG 15,450 15,750
Nguyên Liệu 99.99 14,400 14,600
Nguyên Liệu 99.9 14,350 14,550
NỮ TRANG 9999 - BÁN LẺ 15,000 15,400
NỮ TRANG 999 - BÁN LẺ 14,950 15,350
Nữ trang 99 - Bán Lẻ 14,880 15,330
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 154,500 157,500
Hà Nội - PNJ 154,500 157,500
Đà Nẵng - PNJ 154,500 157,500
Miền Tây - PNJ 154,500 157,500
Tây Nguyên - PNJ 154,500 157,500
Đông Nam Bộ - PNJ 154,500 157,500
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 15,450 15,750
Miếng SJC Nghệ An 15,450 15,750
Miếng SJC Thái Bình 15,450 15,750
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 15,450 15,750
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 15,450 15,750
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 15,450 15,750
NL 99.90 14,050
NL 99.99, Nhẫn Tròn Thái Bình 14,100
Trang sức 99.9 14,940 15,640
Trang sức 99.99 14,950 15,650
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,545 1,575
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,545 15,752
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,545 15,753
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,543 1,573
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,543 1,574
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,523 1,558
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 147,757 154,257
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 108,112 117,012
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 97,205 106,105
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 86,298 95,198
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 8,209 9,099
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 56,225 65,125
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,545 1,575
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,545 1,575
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,545 1,575
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,545 1,575
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,545 1,575
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,545 1,575
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,545 1,575
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,545 1,575
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,545 1,575
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,545 1,575
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,545 1,575
Cập nhật: 29/05/2026 02:00
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 18204 18479 19055
CAD 18451 18728 19341
CHF 32696 33080 33724
CNY 0 3842 3934
EUR 29936 30209 31234
GBP 34453 34845 35779
HKD 0 3230 3432
JPY 158 162 168
KRW 0 16 18
NZD 0 15196 15781
SGD 20034 20317 20838
THB 720 783 837
USD (1,2) 26060 0 0
USD (5,10,20) 26101 0 0
USD (50,100) 26130 26144 26393
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,123 26,123 26,393
USD(1-2-5) 25,079 - -
USD(10-20) 25,079 - -
EUR 30,109 30,133 31,438
JPY 160.85 161.14 170.12
GBP 34,719 34,813 35,866
AUD 18,440 18,507 19,123
CAD 18,685 18,745 19,353
CHF 33,064 33,167 33,992
SGD 20,193 20,256 20,964
CNY - 3,815 3,943
HKD 3,300 3,310 3,434
KRW 16.17 16.86 18.27
THB 769.62 779.13 830.62
NZD 15,191 15,332 15,721
SEK - 2,789 2,875
DKK - 4,029 4,154
NOK - 2,795 2,881
LAK - 0.92 1.27
MYR 6,196.93 - 6,964.34
TWD 757.3 - 913.52
SAR - 6,909.35 7,246.42
KWD - 83,685 88,661
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,143 26,163 26,393
EUR 30,055 30,176 31,355
GBP 34,718 34,857 35,863
HKD 3,296 3,309 3,424
CHF 32,867 32,999 33,927
JPY 161.30 161.95 169.23
AUD 18,440 18,514 19,103
SGD 20,260 20,341 20,922
THB 787 790 825
CAD 18,686 18,761 19,326
NZD 15,304 15,838
KRW 16.80 18.43
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26171 26171 26393
AUD 18395 18495 19420
CAD 18635 18735 19749
CHF 32958 32988 34567
CNY 3822.4 3847.4 3982.7
CZK 0 1220 0
DKK 0 4140 0
EUR 30127 30157 31882
GBP 34768 34818 36575
HKD 0 3355 0
JPY 161.62 162.12 172.65
KHR 0 6.097 0
KRW 0 17 0
LAK 0 1.165 0
MYR 0 6920 0
NOK 0 2850 0
NZD 0 15310 0
PHP 0 400 0
SEK 0 2840 0
SGD 20196 20326 21054
THB 0 750.2 0
TWD 0 820 0
SJC 9999 15450000 15450000 15750000
SBJ 14000000 14000000 15750000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,158 26,208 26,393
USD20 26,158 26,208 26,393
USD1 23,881 26,208 26,393
AUD 18,464 18,564 19,799
EUR 30,291 30,291 31,725
CAD 18,609 18,709 20,025
SGD 20,288 20,438 21,012
JPY 161.99 163.49 170.2
GBP 34,698 35,048 35,943
XAU 15,768,000 0 16,072,000
CNY 0 3,734 0
THB 0 788 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 29/05/2026 02:00
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80