Ngân hàng Phát triển Việt Nam đồng hành cùng nhà đầu tư giải quyết bài toán về nguồn vốn vay dài hạn

Sơn Thuận
(TBTCO) - Với nhu cầu đầu tư trong thời gian đến tại Ninh Thuận, lãnh đạo các doanh nghiệp đều mong muốn nhận được hỗ trợ từ Ngân hàng Phát triển Việt Nam bởi lợi thế về nguốn vốn vay ổn định, dài hạn.
aa

Doanh nghiệp cần nguồn vốn dài hạn

Là doanh nghiệp có gần 25 năm đồng hành cùng với Ngân hàng Phát triển Việt Nam (VDB), ông Đoàn Quốc Huy - Chủ tịch HĐQT Tập đoàn BIM Group cho hay, tập đoàn có khoảng 6 dự án đã phối hợp với Quỹ Đầu tư Phát triển Việt Nam trước đây và sau này là VDB.

Chỉ riêng tại tỉnh Ninh Thuận, VDB tài trợ cho BIM Group với 2 dự án trong mảng sản xuất muối và chế biến muối công nghiệp.

Ngân hàng Phát triển Việt Nam đồng hành cùng nhà đầu tư giải quyết bài toán về nguồn vốn vay dài hạn
Tập đoàn Trung Nam và VDB sẽ hợp tác để tiếp tục thực hiện Dự án Cảng biển tổng hợp Cà Ná (bến 1A đã hoàn thành).

Theo ông Huy, trong giai đoạn phát triển mới, BIM Group nhận thấy tỉnh Ninh Thuận còn nhiều thặng dư để phát triển hơn nữa. “Trong tình hình đó, BIM Group quyết định đầu tư thêm 25.000 tỷ đồng tại tỉnh trong các mảng chế biến hóa chất, năng lượng tái tạo và đầu tư về du lịch” - Chủ tịch HĐQT Tập đoàn BIM nói.

“Chúng tôi thấy được việc tiếp cận nguồn vốn từ Ngân hàng Phát triển Việt Nam cũng là một điều kiện quan trọng để BIM Group và các nhà đầu tư khác có thể thực hiện kế hoạch đầu tư của mình”, Chủ tịch HĐQT Tập đoàn BIM Group nhận định.

Và với dự định trên, đại diện Tập đoàn BIM cho rằng đòi hỏi có một nguồn vốn rất dài hạn, đồng thời lãi suất cần ổn định.

Ông Nguyễn Tâm Thịnh - Chủ tịch HĐQT Tập đoàn Trung Nam đánh giá cao nguồn vốn từ VDB khi đã hỗ trợ cho các dự án của tập đoàn trong các năm qua.

Điều này thể hiện qua loạt dự án được VDB hỗ trợ tín dụng cho vay như Dự án Thủy điện Đồng Nai 2 (1.523 tỷ đồng); Dự án Nhà máy Điện gió Trung Nam tại huyện Thuận Bắc (giai đoạn đầu 792 tỷ đồng); Dự án Thủy điện tại Krông Nô 2 (320 tỷ đồng)...

Đồng thời, Chủ tịch HĐQT Tập đoàn Trung Nam cũng cho hay, sắp đến đây, Trung Nam tiếp tục phát triển các dự án năng lượng tái tạo, cũng như mở rộng khu công nghiệp. “Trong 5 năm tới, chúng tôi cố gắng đầu tư tương ứng 100.000 tỷ đồng vào đây”, ông Thịnh cho hay.

Đại diện Tập đoàn Trung Nam mong muốn VDB tiếp tục tài trợ cho Trung Nam thực hiện Dự án Cảng biển Cà Ná. “Với số vốn cho vay từ VDB, tương ứng khoảng 3.000 tỷ đồng, chúng tôi hoàn thành Cảng biển Cà Ná thì kinh tế tỉnh Ninh Thuận sẽ tăng lên vượt 2 con số”, ông Thịnh tin tưởng.

Lợi thế từ dòng vốn của VDB

Ông Lê Văn Hoan - Chủ tịch HĐQT VDB cũng đánh giá, với vị trí thuận lợi tỉnh Ninh Thuận đang trở thành điểm đến hấp dẫn cho các nhà đầu tư, các doanh nghiệp; đặc biệt sắp tới triển khai các dự án trọng điểm quốc gia như Dự án Điện hạt nhân Ninh Thuận 1 và 2.

Đồng thời, tỉnh Ninh Thuận thuộc địa bàn khó khăn và đặc biệt khó khăn nên các dự án tiềm năng của tỉnh đều thuộc đối tượng cho vay vốn của VDB.

Ngân hàng Phát triển Việt Nam đồng hành cùng nhà đầu tư giải quyết bài toán về nguồn vốn vay dài hạn
Đại diện VDB ký kết ghi nhớ thỏa thuận hợp tác cấp vốn tín dụng đầu tư của Nhà nước với Công ty cổ phần Tập đoàn K-MS.

Trong bối cảnh này, ông Hoan cho biết, VDB với tầm nhìn trở thành định chế tài chính phát triển hàng đầu của Chính phủ trong việc thực hiện chính sách về phát triển kinh tế xã hội của Đảng và Nhà nước. “Với sứ mệnh này, VDB cung cấp một lượng tài chính để kiến tạo động lực thúc đẩy tăng trưởng, phát triển kinh tế xã hội của đất nước, của khu vực và từng địa phương” - ông Hoan nhấn mạnh.

Tổng giám đốc VDB cho biết, sau 1 năm thực hiện quy định mới, tính đến nay, VDB đã ký kết hợp đồng cho vay 40 dự án. Với cam kết của các tập đoàn, nhà đầu tư, tổng công ty thì hiện nay tổng số vốn đã lên đến 120.000 tỷ đồng.

Thông tin thêm, ông Đào Quang Trường -Tổng giám đốc VDB cho hay, Đảng, Nhà nước và Chính phủ cũng đã, đang quan tâm, tháo gỡ những nút thắt, vướng mắc về cơ chế chính sách để tạo điều kiện thuận lợi cho VDB trong giai đoạn hiện nay; đồng thời tăng cường khả năng tiếp cập nguồn vốn tín dụng của nhà đầu tư, doanh nghiệp thuộc danh mục theo quy định.

Theo ông Trường, VDB là tổ chức hoạt động không vì mục tiêu lợi nhuận, đảm bảo bù đắp được kinh phí, được Thủ tướng giao nhiệm vụ thực hiện các chính sách chủ trương tín dụng của Nhà nước. Do đó, VDB có lợi thế về nguồn vốn dài hạn, lãi suất thấp do vậy đối với các dự án trọng điểm, dự án quy mô lớn VDB sẵn sàng huy động tài trợ dài hạn để đáp ứng nhu cầu vốn của doanh nghiệp, nhà đầu tư.

“Trong những năm qua, VDB đã giải ngân trên 200.000 tỷ đồng. Vốn tín dụng đầu tư của Nhà nước đã đáp ứng một phần quan trọng để phát triển cơ sở hạ tầng kinh tế - xã hội, cũng như là nơi nâng cao năng lực sản xuất của các ngành công nghiệp” - ông Trường khẳng định.

Tổng giám đốc VDB cũng bổ sung, tổng số vốn được Chính phủ giao cho VDB giải ngân trong giai đoạn từ năm 2023 đến 2027 là trên 50.000 tỷ đồng, năm 2025 với tăng trưởng tín dụng 8% và các năm tiếp theo là trên 10%. Ông Trường cho rằng, với chính sách tín dụng hiện nay thì ngân hàng luôn sẵn sàng, chủ động các nguồn vốn và các điều kiện để thực hiện chính sách tín dụng đầu tư trong lĩnh vực tăng trưởng kinh tế.

Mới đây, tại Hội nghị kết nối nhà đầu tư và triển khai chính sách tín dụng đầu tư của Nhà nước tại tỉnh Ninh Thuận do VDB phối hợp với UBND tỉnh Ninh Thuận tổ chức, VDB đã ký ghi nhớ hợp tác cấp vốn tín dụng đầu tư của nhà nước với 5 nhà đầu tư với tổng số vốn lên đến 13.500 tỷ đồng.

Bao gồm, Công ty cổ phần Đầu Tư Xây dựng Trung Nam (trên 14.000 tỷ); Công ty cổ phần Tập đoàn BIM (5.000 tỷ); Công ty cổ phần Tập đoàn K-MS (15.000 tỷ); Công ty TNHH SEAGULL ADC Ninh Thuận (500 tỷ); Công ty TNHH Phú An Thành Gia (1.000 tỷ).

Kết quả này theo đánh giá của ông Trịnh Minh Hoàng - Phó chủ tịch UBND tỉnh Ninh Thuận là đánh dấu bước khởi đầu quan trọng trong việc kết nối các doanh nghiệp, nhà đầu tư với VDB, tạo nền tảng thuận lợi để triển khai các dự án trọng điểm của tỉnh Ninh Thuận trong thời gian tới./.

Sơn Thuận

Đọc thêm

Thị trường bảo hiểm nhân thọ đang dịch chuyển từ cách tiếp cận cảm tính sang lựa chọn dựa trên nhu cầu thực tế

Thị trường bảo hiểm nhân thọ đang dịch chuyển từ cách tiếp cận cảm tính sang lựa chọn dựa trên nhu cầu thực tế

(TBTCO) - Báo cáo Nghiên cứu dư luận xã hội và Chính sách tiếp cận cộng đồng trong bảo hiểm nhân thọ do Hiệp hội Bảo hiểm Việt Nam công bố cho thấy, có tới 80% người dân trong nhóm chưa sở hữu bảo hiểm nhân thọ dự định mua trong 12 tháng tới. Điều này cho thấy tiềm năng của thị trường còn lớn, tuy nhiên, cách tiếp cận bảo hiểm của người dân đang có nhiều thay đổi.
Thị trường bảo hiểm nhân thọ "sáng dần", song nhiều doanh nghiệp lợi nhuận vẫn "rùa bò"

Thị trường bảo hiểm nhân thọ "sáng dần", song nhiều doanh nghiệp lợi nhuận vẫn "rùa bò"

(TBTCO) - Thị trường bảo hiểm nhân thọ lấy lại đà tăng trưởng dương từ năm 2025 và kỳ vọng đón kết quả khả quan trong năm nay. Tuy nhiên, phía sau đà tăng tích cực đó vẫn còn những khoảng lặng đến từ sự sụt giảm doanh thu, lợi nhuận, thậm chí báo lỗ tại một số doanh nghiệp.
“Cuộc đua” sức khỏe thương hiệu ngành tài chính tiêu dùng trong thế bám đuổi

“Cuộc đua” sức khỏe thương hiệu ngành tài chính tiêu dùng trong thế bám đuổi

(TBTCO) - Mibrand Vietnam vừa công bố Bảng xếp hạng sức khỏe thương hiệu tài chính tiêu dùng Việt Nam 2025. Dữ liệu cho thấy, nhóm thương hiệu dẫn đầu chưa tạo ra khoảng cách quá lớn về điểm số. "Cuộc đua" giữa các doanh nghiệp dịch chuyển sang niềm tin, chất lượng dịch vụ và khả năng tối ưu trải nghiệm khách hàng sau vay.
Việt Nam và Lào ký kết hợp tác về bảo hiểm xã hội giai đoạn 2026 - 2028

Việt Nam và Lào ký kết hợp tác về bảo hiểm xã hội giai đoạn 2026 - 2028

(TBTCO) - Ngày 27/5, tại Hà Nội, Bảo hiểm xã hội Việt Nam và Cơ quan Bảo hiểm xã hội Quốc gia Lào đã ký kết Biên bản Ghi nhớ hợp tác giai đoạn 2026 - 2028.
VIS Rating lo ngại thanh khoản thắt chặt, nợ xấu tăng khiến ngân hàng thêm áp lực

VIS Rating lo ngại thanh khoản thắt chặt, nợ xấu tăng khiến ngân hàng thêm áp lực

(TBTCO) - Theo VIS Rating, điều kiện huy động tiếp tục thắt chặt, với tăng trưởng tiền gửi toàn hệ thống chỉ đạt 0,6%, trong bối cảnh nợ xấu gia tăng, lãi suất và đòn bẩy cao kéo dài đang tạo áp lực lên ngành ngân hàng. Từ đó, xu hướng thu hẹp NIM và chi phí tín dụng gia tăng dự kiến sẽ tiếp diễn.
Trải nghiệm khách hàng là thước đo chất lượng ngân hàng

Trải nghiệm khách hàng là thước đo chất lượng ngân hàng

(TBTCO) - Các ngân hàng đang tăng tốc chuyển đổi số với nhiều sáng kiến, nhằm nâng cao trải nghiệm khách hàng và tối ưu chi phí vận hành. Việc đẩy mạnh ứng dụng công nghệ cũng góp phần kéo giảm mạnh tỷ lệ CIR. Hiện nhiều tổ chức tín dụng đã có trên 90% giao dịch thực hiện qua kênh số.
Tín dụng tại TP. Hồ Chí Minh và Đồng Nai chảy mạnh vào khu vực sản xuất

Tín dụng tại TP. Hồ Chí Minh và Đồng Nai chảy mạnh vào khu vực sản xuất

(TBTCO) - Trong 4 tháng đầu năm 2026, dòng vốn tín dụng tại TP. Hồ Chí Minh và Đồng Nai tiếp tục chảy mạnh vào các lĩnh vực sản xuất, công nghiệp chế biến, nông nghiệp và thương mại. Đây cũng là nhóm ngành đang có nhu cầu vốn lớn nhất tại khu vực phía Nam.
Cả nước có 21,73 triệu người tham gia bảo hiểm xã hội

Cả nước có 21,73 triệu người tham gia bảo hiểm xã hội

(TBTCO) - Theo số liệu mới được Bảo hiểm xã hội Việt Nam công bố, tính đến hết tháng 4/2026, cả nước có 21,73 triệu người tham gia bảo hiểm xã hội, tăng 182.000 người so với tháng 3/2026 và tăng 206.000 người so với năm 2025.
Xem thêm

Mới nhất Đọc nhiều

DOJI Giá mua Giá bán
SJC -Bán Lẻ 15,450 ▼320K 15,750 ▼320K
Kim TT/AVPL 15,450 ▼320K 15,750 ▼320K
NHẪN TRÒN 9999 HƯNG THỊNH VƯỢNG 15,450 ▼300K 15,750 ▼300K
Nguyên Liệu 99.99 14,400 ▼400K 14,600 ▼400K
Nguyên Liệu 99.9 14,350 ▼400K 14,550 ▼400K
NỮ TRANG 9999 - BÁN LẺ 15,000 ▼500K 15,400 ▼500K
NỮ TRANG 999 - BÁN LẺ 14,950 ▼500K 15,350 ▼500K
Nữ trang 99 - Bán Lẻ 14,880 ▼500K 15,330 ▼500K
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 154,500 ▼3000K 157,500 ▼3000K
Hà Nội - PNJ 154,500 ▼3000K 157,500 ▼3000K
Đà Nẵng - PNJ 154,500 ▼3000K 157,500 ▼3000K
Miền Tây - PNJ 154,500 ▼3000K 157,500 ▼3000K
Tây Nguyên - PNJ 154,500 ▼3000K 157,500 ▼3000K
Đông Nam Bộ - PNJ 154,500 ▼3000K 157,500 ▼3000K
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 15,450 ▼320K 15,750 ▼320K
Miếng SJC Nghệ An 15,450 ▼320K 15,750 ▼320K
Miếng SJC Thái Bình 15,450 ▼320K 15,750 ▼320K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 15,450 ▼300K 15,750 ▼300K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 15,450 ▼300K 15,750 ▼300K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 15,450 ▼300K 15,750 ▼300K
NL 99.90 14,050 ▼400K
NL 99.99, Nhẫn Tròn Thái Bình 14,100 ▼400K
Trang sức 99.9 14,940 ▼300K 15,640 ▼300K
Trang sức 99.99 14,950 ▼300K 15,650 ▼300K
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,545 ▼32K 1,575 ▼32K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,545 ▼32K 15,752 ▼320K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,545 ▼32K 15,753 ▼320K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,543 ▼29K 1,573 ▼29K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,543 ▼29K 1,574 ▼29K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,523 ▼29K 1,558 ▼29K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 147,757 ▼2872K 154,257 ▼2872K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 108,112 ▼2175K 117,012 ▼2175K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 97,205 ▼1972K 106,105 ▼1972K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 86,298 ▼1769K 95,198 ▼1769K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 8,209 ▼75572K 9,099 ▼83582K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 56,225 ▼1210K 65,125 ▼1210K
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,545 ▼32K 1,575 ▼32K
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,545 ▼32K 1,575 ▼32K
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,545 ▼32K 1,575 ▼32K
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,545 ▼32K 1,575 ▼32K
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,545 ▼32K 1,575 ▼32K
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,545 ▼32K 1,575 ▼32K
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,545 ▼32K 1,575 ▼32K
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,545 ▼32K 1,575 ▼32K
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,545 ▼32K 1,575 ▼32K
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,545 ▼32K 1,575 ▼32K
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,545 ▼32K 1,575 ▼32K
Cập nhật: 28/05/2026 21:00
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 18204 18479 19055
CAD 18451 18728 19341
CHF 32696 33080 33724
CNY 0 3842 3934
EUR 29936 30209 31234
GBP 34453 34845 35779
HKD 0 3230 3432
JPY 158 162 168
KRW 0 16 18
NZD 0 15196 15781
SGD 20034 20317 20838
THB 720 783 837
USD (1,2) 26060 0 0
USD (5,10,20) 26101 0 0
USD (50,100) 26130 26144 26393
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,123 26,123 26,393
USD(1-2-5) 25,079 - -
USD(10-20) 25,079 - -
EUR 30,109 30,133 31,438
JPY 160.85 161.14 170.12
GBP 34,719 34,813 35,866
AUD 18,440 18,507 19,123
CAD 18,685 18,745 19,353
CHF 33,064 33,167 33,992
SGD 20,193 20,256 20,964
CNY - 3,815 3,943
HKD 3,300 3,310 3,434
KRW 16.17 16.86 18.27
THB 769.62 779.13 830.62
NZD 15,191 15,332 15,721
SEK - 2,789 2,875
DKK - 4,029 4,154
NOK - 2,795 2,881
LAK - 0.92 1.27
MYR 6,196.93 - 6,964.34
TWD 757.3 - 913.52
SAR - 6,909.35 7,246.42
KWD - 83,685 88,661
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,143 26,163 26,393
EUR 30,055 30,176 31,355
GBP 34,718 34,857 35,863
HKD 3,296 3,309 3,424
CHF 32,867 32,999 33,927
JPY 161.30 161.95 169.23
AUD 18,440 18,514 19,103
SGD 20,260 20,341 20,922
THB 787 790 825
CAD 18,686 18,761 19,326
NZD 15,304 15,838
KRW 16.80 18.43
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26171 26171 26393
AUD 18395 18495 19420
CAD 18635 18735 19749
CHF 32958 32988 34567
CNY 3822.4 3847.4 3982.7
CZK 0 1220 0
DKK 0 4140 0
EUR 30127 30157 31882
GBP 34768 34818 36575
HKD 0 3355 0
JPY 161.62 162.12 172.65
KHR 0 6.097 0
KRW 0 17 0
LAK 0 1.165 0
MYR 0 6920 0
NOK 0 2850 0
NZD 0 15310 0
PHP 0 400 0
SEK 0 2840 0
SGD 20196 20326 21054
THB 0 750.2 0
TWD 0 820 0
SJC 9999 15450000 15450000 15750000
SBJ 14000000 14000000 15750000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,158 26,208 26,393
USD20 26,158 26,208 26,393
USD1 23,881 26,208 26,393
AUD 18,464 18,564 19,799
EUR 30,291 30,291 31,725
CAD 18,609 18,709 20,025
SGD 20,288 20,438 21,012
JPY 161.99 163.49 170.2
GBP 34,698 35,048 35,943
XAU 15,768,000 0 16,072,000
CNY 0 3,734 0
THB 0 788 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 28/05/2026 21:00
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80