Ngân hàng vào cuộc hỗ trợ sẽ là cơ hội tốt giúp doanh nghiệp phục hồi

Gia Cư
Đa số các doanh nghiệp có thị trường nội địa ở TP.Hồ Chí Minh thời điểm này không chỉ khó khăn về vốn và dòng tiền, mà còn đối mặt với nguy cơ lớn nhất là giá nguyên vật liệu tăng cao. Sự hỗ trợ, vào cuộc từ phía ngân hàng sẽ là cơ hội tốt cho doanh nghiệp phục hồi, phát triển.
aa

Doanh nghiệp đối diện nhiều khó khăn

Ông Nguyễn Quốc Anh - Giám đốc Công ty TNHH Cao su Đức Minh, Chủ tịch Hiệp hội Nhựa cao su TP. Hồ Chí Minh cho biết, hiện có khoảng 50% doanh nghiệp có đơn hàng xuất khẩu đi nước ngoài, 50% còn lại vẫn phụ thuộc vào thị trường nội địa. Trong khi đó, số doanh nghiệp có thị trường nội địa không chỉ khó khăn về vốn và dòng tiền, mà còn đối mặt với nguy cơ lớn nhất là giá nguyên vật liệu tăng cao và nguồn nguyên liệu trên thế giới cũng đang dần cạn kiệt.

Theo ông Anh từ đầu năm tới nay, giá nguyên vật liệu tăng đến 20%. Mặt khác, việc thiếu điện ở Trung Quốc đang diễn ra, trong khi đó, ngành này phụ thuộc rất nhiều nguồn nguyên liệu ở Trung Quốc. Dự báo những đơn hàng mua từ nước ngoài đều sẽ tăng giá. Thêm vào đó, giãn cách kéo dài trước đó đã làm gián đoạn nguồn cung, việc áp dụng các biện pháp phòng dịch tại doanh nghiệp, chi phí logistics theo đó tăng lên từ 10-20% so với thời điểm trước dịch… Đây là những khó khăn mà các doanh nghiệp trong ngành cao su nhựa đang đối diện.

Ngân hàng vào cuộc hỗ trợ sẽ là cơ hội tốt giúp doanh nghiệp phục hồi
Doanh nghiệp duy trì hoạt động tại khu công nghiệp Tân Tạo, quận Bình Tân, TP. Hồ Chí Minh. Ảnh: CTV

Từ đầu tháng 3 đến nay, các doanh nghiệp trong ngành nhựa, cao su được các ngân hàng giảm từ 1%-1,5% lãi suất. Cụ thể như doanh nghiệp Cao su Đức Minh trước đây vay với mức lãi suất 8,3%, trong 6 tháng dịch vừa qua, doanh nghiệp này được giảm xuống còn 6,5%. Từ giữa tháng 10/2021, khi thành phố vừa nới lỏng giãn cách thì lãi suất của các khoản vay mới tại ngân hàng cũng đã tăng trở lại, trong khi doanh nghiệp vẫn chưa lấy lại đà phục hồi.

“Trong ngành của chúng tôi, dòng tiền về bây giờ đang khó khăn. Đặc biệt là thị trường nội địa. Một thời gian rất dài thị trường đóng băng do giãn cách, chúng tôi không bán được hàng. Đến bây giờ, phần lớn các doanh nghiệp của ngành này đang thiếu dòng tiền về để trả cho ngân hàng”Chủ tịch Hiệp hội Nhựa cao su TP. Hồ Chí Minh cho hay.

Theo ông Anh, thực tế vốn có thể vay được, nhưng dòng tiền trả nợ giai đoạn này rất khó khăn. “Tôi mong ngân hàng sẽ cơ cấu lại nợ, giãn nợ, khoanh nợ cho các doanh nghiệp trong giai đoạn vừa rồi không bán được hàng và tiêu thụ nội địa chậm” – ông Quốc Anh đề xuất.

Theo phản ánh của nhiều doanh nghiệp tại TP. Hồ Chí Minh và khu vực phía Nam, mặc dù các doanh nghiệp xuất khẩu sản xuất liên tục ngay cả thời điểm trong dịch, nhưng phần lớn là trả các đơn hàng cũ cho xuất khẩu, do đó thị trường xuất khẩu vẫn khởi sắc hơn so với thị trường nội địa. Dự báo từ nay đến cuối năm, thị trường nội địa sẽ còn khó khăn và giảm rất nhiều do sức mua vẫn còn ảm đạm.

Có thể thấy, tại TP. Hồ Chí Minh vấn đề lao động cho doanh nghiệp gần như được giải quyết. Thời điểm này, doanh nghiệp cần được giãn nợ, khoanh nợ, vốn vay để giúp họ nhanh chóng lấy lại đà phục hồi. Bên cạnh đó, nắm bắt các vấn đề phát sinh, vướng mắc, có chính sách điều chỉnh kịp thời hỗ trợ doanh nghiệp. Bởi doanh nghiệp có sớm phục hồi thì kinh tế thành phố mới sớm hồi sinh trở lại.

Ngân hàng vào cuộc

Ông Nguyễn Hoàng Minh - Phó Giám đốc Ngân hàng Nhà nước chi nhánh TP.Hồ Chí Minh cho biết, để kịp thời hỗ trợ, tháo gỡ khó khăn cho doanh nghiệp (DN) bị ảnh hưởng bởi dịch Covid-19 từ đầu năm đến nay, thành phố (TP) đã hỗ trợ cho 406.410 khách hàng với tổng dư nợ 470.195 tỷ đồng theo Thông tư số 01/2020/TT-NHNN ngày 13/2/2020 “về cơ cấu lại thời hạn trả nợ, miễn, giảm lãi, phí, giữ nguyên nhóm nợ nhằm hỗ trợ khách hàng bị ảnh hưởng bởi dịch Covid-19” và một số thông tư khác sửa đổi, bổ sung Thông tư 01/2020/TT-NHNN.

Trong đó, cơ cấu lại thời hạn với số tiền là 127.193 tỷ đồng, miễn giảm lãi suất là 7.251 tỷ đồng, cho vay mới là 334.000 tỷ đồng. Ngoài ra năm 2021, thành phố có 11 thương hiệu ngân hàng đăng ký tham gia gói tín dụng hỗ trợ DN với tổng số tiền đăng ký cho vay là 312.045 tỷ đồng với lãi suất áp dụng tối đa không quá 4,5%/năm đối với cho vay ngắn hạn và xoay quanh mức 9%/năm đối với cho vay trung dài hạn, các hình thức hỗ trợ khác như giảm lãi suất khoản vay cũ, tăng hạn mức cho vay, cơ cấu lại kỳ hạn nợ.

Cùng với đó, các sở, ngành, TP. Thủ Đức và các quận huyện đã phối hợp với ngân hàng thực hiện kết nối, giải ngân vốn vay cho 21.637 khách hàng với tổng số vốn 241.385 tỷ đồng.

Chỉ đạo hoạt động khôi phục, sản xuất kinh doanh khối doanh nghiệp mới đây, bà Phan Thị Thắng - Phó Chủ tịch UBND TP.Hồ Chí Minh đã yêu cầu các sở, ngành, UBND TP.Thủ Đức và các quận, huyện chủ động nắm bắt tình hình khó khăn, vướng mắc của các doanh nghiệp thuộc lĩnh vực phụ trách để hỗ trợ, tháo gỡ, đặc biệt là khó khăn về vốn để phối hợp với Ngân hàng Nhà nước chi nhánh TP.Hồ Chí Minh để được hướng dẫn, hỗ trợ. Theo đó, trong quý cuối năm nay, TP. Hồ Chí Minh sẽ tăng cường thực hiện chương trình kết nối ngân hàng với doanh nghiệp cùng gói hỗ trợ tín dụng khoảng 70.000 tỷ đồng.

“Từ nay đến cuối năm 2021, mỗi quận, huyện và Thành phố Thủ Đức phải tổ chức ít nhất một hội nghị kết nối (hoặc lễ ký kết hợp đồng) giữa ngân hàng và doanh nghiệp. Mục tiêu là không để doanh nghiệp nào đủ điều kiện vay vốn mà không thể tiếp cận nguồn vốn vay phục vụ hoạt động sản xuất kinh doanh” – bà Thắng nhấn mạnh.

UBND TP.Hồ Chí Minh cho biết, thời điểm này đang tập trung chỉ đạo các hiệp hội doanh nghiệp, các hội ngành nghề, ban quản lý các khu chế xuất, khu công nghiệp phát huy vai trò đầu mối, làm cầu nối hướng dẫn các DN, liên hệ trực tiếp các cơ quan chức năng hoặc thường xuyên tập hợp các khó khăn, vướng mắc của DN, chuyển đến sở ngành liên quan để tham mưu UBND TP kịp thời tháo gỡ khó khăn, giải quyết nhanh chóng, tạo điều kiện thuận lợi nhất để DN sớm phục hồi, duy trì hoạt động sản xuất, kinh doanh./.

Gia Cư

Đọc thêm

Thị trường tiền tệ tuần 27 - 31/7: Nâng tỷ lệ tiền gửi Kho bạc lên 50% giải tỏa thanh khoản, lãi suất qua đêm lao dốc

Thị trường tiền tệ tuần 27 - 31/7: Nâng tỷ lệ tiền gửi Kho bạc lên 50% giải tỏa thanh khoản, lãi suất qua đêm lao dốc

(TBTCO) - Diễn biến nổi bật trên thị trường tiền tệ tuần qua (từ ngày 27 - 31/7) cho thấy, Ngân hàng Nhà nước đảo chiều bơm ròng hơn 12.300 tỷ đồng, cùng việc nâng tỷ lệ tính tiền gửi Kho bạc Nhà nước khi tính LDR lên 50% từ ngày 1/8, giúp thanh khoản hệ thống dồi dào. Trong khi đó, tỷ giá trung tâm lập đỉnh 25.338 đồng/USD, lãi suất qua đêm lao dốc mạnh.
Giá vàng hôm nay ngày 1/8: Thế giới lùi về 4.043 USD/ounce, trong nước giảm nhẹ

Giá vàng hôm nay ngày 1/8: Thế giới lùi về 4.043 USD/ounce, trong nước giảm nhẹ

(TBTCO) - Giá vàng thế giới giảm gần 60 USD/ounce, lùi về 4.043 USD/ounce. Trong nước, giá vàng giảm nhẹ so với phiên trước, đưa giá vàng miếng xuống mức 137 - 141 triệu đồng/lượng.
Thông báo thay đổi địa điểm đặt trụ sở chi nhánh Thái Bình và Nghệ An của Ngân hàng MBV

Thông báo thay đổi địa điểm đặt trụ sở chi nhánh Thái Bình và Nghệ An của Ngân hàng MBV

(TBTCO) - Ngân hàng TNHH MTV Việt Nam Hiện Đại (MBV) trân trọng thông báo về việc thay đổi địa điểm đặt trụ sở đối với các chi nhánh và phòng giao dịch tại tỉnh Hưng Yên và tỉnh Nghệ An.
MIC tăng trưởng 33,6% doanh thu phí bảo hiểm gốc, năm thứ hai liên tiếp được AM Best xếp hạng B++

MIC tăng trưởng 33,6% doanh thu phí bảo hiểm gốc, năm thứ hai liên tiếp được AM Best xếp hạng B++

(TBTCO) - Nửa đầu năm 2026, Tổng Công ty cổ phần Bảo hiểm Quân đội (MIC) ghi nhận đà tăng trưởng tích cực với doanh thu phí bảo hiểm gốc đạt 3.517,7 tỷ đồng, tăng 33,6% so với cùng kỳ. Cùng với kết quả kinh doanh, MIC năm thứ hai liên tiếp được AM Best xếp hạng B++ về năng lực tài chính và bbb về tín nhiệm nhà phát hành dài hạn, với triển vọng ổn định.
Thứ trưởng Lê Tấn Cận: Thị trường bảo hiểm Việt Nam cần chuyển mạnh sang phát triển theo chiều sâu

Thứ trưởng Lê Tấn Cận: Thị trường bảo hiểm Việt Nam cần chuyển mạnh sang phát triển theo chiều sâu

(TBTCO) - Trong giai đoạn tới, thị trường bảo hiểm không chỉ cần tập trung mở rộng quy mô, gia tăng doanh thu, mà còn phải chuyển mạnh sang phát triển theo chiều sâu; lấy chất lượng, hiệu quả, tính minh bạch, năng lực quản trị và niềm tin của khách hàng làm nền tảng.
SHB báo lãi hơn 9.000 tỷ đồng nhờ thu ngoài lãi bứt tốc, tổng tài sản tiến sát 1 triệu tỷ đồng

SHB báo lãi hơn 9.000 tỷ đồng nhờ thu ngoài lãi bứt tốc, tổng tài sản tiến sát 1 triệu tỷ đồng

(TBTCO) - SHB ghi nhận lợi nhuận trước thuế 6 tháng đầu năm đạt 9.092 tỷ đồng, tăng 1,6% so với cùng kỳ, động lực tăng trưởng đến từ các nguồn thu ngoài lãi tăng gần gấp 3 lần. SHB tiếp tục mở rộng quy mô hoạt động gắn với kiểm soát chất lượng tài sản, dư nợ cấp tín dụng SHB đạt 664.280 tỷ đồng, tăng 7,22% so với cuối năm 2025, tỷ lệ nợ xấu duy trì 1,76%.
Tập đoàn Bảo Việt (BVH): Tổng doanh thu hợp nhất 6 tháng đầu năm 2026 đạt hơn 32.000 tỷ đồng, tăng trưởng 9,2%

Tập đoàn Bảo Việt (BVH): Tổng doanh thu hợp nhất 6 tháng đầu năm 2026 đạt hơn 32.000 tỷ đồng, tăng trưởng 9,2%

(TBTCO) - Tập đoàn Bảo Việt vừa công bố kết quả kinh doanh quý II năm 2026 (trước soát xét), theo đó, Công ty mẹ và các đơn vị thành viên ghi nhận mức tăng trưởng khả quan với tổng doanh thu hợp nhất 6 tháng đạt 32.004 tỷ đồng, tăng 9,2% so với cùng kỳ năm 2025.
HDBank vượt mốc 1 triệu tỷ đồng tài sản, ROE 25,4% thuộc nhóm cao nhất, tiếp tục nâng tầm vị thế quốc tế

HDBank vượt mốc 1 triệu tỷ đồng tài sản, ROE 25,4% thuộc nhóm cao nhất, tiếp tục nâng tầm vị thế quốc tế

(TBTCO) - Ngân hàng TMCP Phát triển TP. Hồ Chí Minh (HDBank; HOSE: HDB) công bố kết quả kinh doanh 6 tháng đầu năm 2026 với ba dấu mốc nổi bật: gia nhập nhóm ngân hàng có quy mô tài sản trên 1 triệu tỷ đồng; lợi nhuận trước thuế vượt 13.200 tỷ đồng với ROE đạt 25,4% thuộc nhóm cao nhất toàn ngành; đồng thời tiếp tục khẳng định vị thế trên thị trường vốn quốc tế thông qua khoản vay hợp vốn Social Loan trị giá 721 triệu USD và lần đầu tiên được Fitch Ratings xếp hạng tín nhiệm BB-, thuộc nhóm cao nhất đối với các ngân hàng Việt Nam.
Xem thêm

Mới nhất Đọc nhiều

PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 136,000 141,000
Hà Nội - PNJ 136,000 141,000
Đà Nẵng - PNJ 136,000 141,000
Miền Tây - PNJ 136,000 141,000
Tây Nguyên - PNJ 136,000 141,000
Đông Nam Bộ - PNJ 136,000 141,000
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 13,700 14,100
Miếng SJC Nghệ An 13,700 14,100
Miếng SJC Thái Bình 13,700 14,100
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 13,700 14,100
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 13,700 14,100
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 13,700 14,100
NL 99.99 12,900
Nhẫn Tròn Thái Bình 12,850
Trang sức 99.9 13,290 13,990
Trang sức 99.99 13,300 14,000
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 137 141
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 137 14,102
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 137 14,103
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,365 1,405
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,365 1,406
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,335 1,385
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 130,129 137,129
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 94,235 104,035
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 84,539 94,339
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 74,843 84,643
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 71,104 80,904
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 4,811 5,791
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 137 141
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 137 141
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 137 141
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 137 141
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 137 141
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 137 141
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 137 141
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 137 141
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 137 141
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 137 141
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 137 141
Cập nhật: 03/08/2026 00:30
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17929 18203 18788
CAD 18223 18499 19121
CHF 31912 32293 32942
CNY 0 3854 3947
EUR 29680 29902 30985
GBP 34645 35037 35975
HKD 0 3222 3425
JPY 160 164 170
KRW 0 17 19
NZD 0 15135 15730
SGD 19962 20244 20827
THB 702 765 819
USD (1,2) 26031 0 0
USD (5,10,20) 26072 0 0
USD (50,100) 26101 26110 26480
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,090 26,090 26,470
USD(1-2-5) 25,047 - -
USD(10-20) 25,047 - -
EUR 29,659 29,683 31,087
JPY 159.14 159.43 169.04
GBP 34,708 34,802 36,011
AUD 18,122 18,187 18,879
CAD 18,394 18,453 19,134
CHF 32,157 32,257 33,215
SGD 20,041 20,103 20,899
CNY - 3,820 3,965
HKD 3,283 3,293 3,431
KRW 16.87 17.59 19.14
THB 748.87 758.12 811.61
NZD 15,088 15,228 15,680
SEK - 2,706 2,801
DKK - 3,979 4,118
NOK - 2,706 2,802
LAK - 0.89 1.23
MYR 6,004.76 - 6,776.61
TWD 732.67 - 887.5
SAR - 6,879.09 7,245.46
KWD - 83,101 88,412
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,090 26,110 26,490
EUR 29,718 29,837 31,033
GBP 34,746 34,886 35,919
HKD 3,286 3,299 3,416
CHF 32,030 32,159 33,092
JPY 159.70 160.34 168.30
AUD 18,143 18,216 18,814
SGD 20,143 20,224 20,818
THB 768 771 807
CAD 18,424 18,498 19,082
NZD 15,184 15,731
KRW 17.55 19.49
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26085 26085 26485
AUD 18139 18239 19164
CAD 18404 18504 19519
CHF 32123 32153 33731
CNY 3833.1 3858.1 3993.6
CZK 0 1190 0
DKK 0 4000 0
EUR 29799 29829 31551
GBP 34853 34903 36664
HKD 0 3355 0
JPY 160.85 161.35 171.89
KHR 0 6.097 0
KRW 0 17.6 0
LAK 0 1.1677 0
MYR 0 6645 0
NOK 0 2750 0
NZD 0 15242 0
PHP 0 395 0
SEK 0 2710 0
SGD 20106 20236 20962
THB 0 732 0
TWD 0 805 0
SJC 9999 13790000 13790000 14190000
SBJ 12500000 12500000 14190000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,113 26,163 26,500
USD20 26,063 26,163 26,500
USD1 24,072 26,163 26,604
AUD 18,187 18,287 19,395
EUR 29,602 29,702 31,360
CAD 18,353 18,453 19,757
SGD 20,190 20,340 20,894
JPY 161.46 162.96 168.52
GBP 34,766 34,916 35,978
XAU 13,788,000 0 14,192,000
CNY 0 3,743 0
THB 0 767 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 03/08/2026 00:30
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80