Đưa tài sản mã hóa ra “vùng sáng”, ngân hàng đứng trước ngã rẽ chiến lược

Ánh Tuyết
(TBTCO) - Trao đổi với phóng viên, TS. Châu Đình Linh - Trường Đại học Ngân hàng TP. Hồ Chí Minh nhấn mạnh, Nghị quyết 05/2025/NQ-CP chính thức đưa giao dịch tài sản mã hóa từ “vùng xám” ra “vùng sáng”, với yêu cầu thực hiện qua sàn được cấp phép và định danh bằng VND. Trong bối cảnh đó, các ngân hàng được xem là ứng viên sáng giá để dẫn dắt thị trường mới, dù mức độ nhập cuộc còn tùy thuộc khẩu vị rủi ro và chiến lược riêng.
aa

PV: Theo quy định tại Nghị quyết 05/2025/NQ-CP ngày 9/9/2025 về thí điểm thị trường tài sản mã hóa tại Việt Nam (Nghị quyết 05), điều kiện cấp Giấy phép cung cấp dịch vụ tổ chức thị trường giao dịch tài sản mã hóa yêu cầu vốn điều lệ tối thiểu 10.000 tỷ đồng cùng tỷ lệ góp vốn nghiêm ngặt, đồng nghĩa chỉ các định chế tài chính lớn mới có thể tham gia. Theo ông, những ngân hàng nào nhiều khả năng sẽ nhập cuộc mạnh mẽ nhất?

Đưa tài sản mã hóa ra “vùng sáng”, ngân hàng đứng trước ngã rẽ chiến lược
TS. Châu Đình Linh

TS. Châu Đình Linh: Tất cả các giao dịch tài sản mã hóa sẽ phải thực hiện thông qua tài khoản chuyên dụng, tương tự như tài khoản chứng khoán và diễn ra trên các nền tảng tập trung, phải định danh bằng VND và được quản lý, giám sát chặt chẽ bởi cơ quan nhà nước.

Điều này đồng nghĩa, những nhà đầu tư đang nắm giữ coin, NFT (tài sản không thể thay thế) hay các loại tài sản mã hóa khác vẫn được công nhận và có thể tiếp tục giao dịch, song cần chuẩn bị để chuyển tài sản về các sàn trong nước tuân thủ quy định, thay vì duy trì giao dịch trên sàn nước ngoài như trước. Điều này cho thấy, toàn bộ tài sản mã hóa mà nhà đầu tư đang nắm giữ đều được đưa từ “vùng xám” sang “vùng sáng”, chứ không loại trừ những người đã sở hữu trước đây.

Điểm quan trọng là Nghị quyết đặt ra những điều kiện tham gia rất cao, qua đó sàng lọc mạnh mẽ, chỉ để lại số ít tổ chức tài chính đủ năng lực. Có thể kể đến như MB, Techcombank hay VPBank… có nhiều lợi thế để tham gia sâu hơn, với lợi thế tích hợp hệ sinh thái tài chính mạnh.

Đưa tài sản mã hóa ra “vùng sáng”, ngân hàng đứng trước ngã rẽ chiến lược
Nguồn: Nghị quyết số 5/2025/NQ-CP Đồ họa: PHƯƠNG ANH

Theo đó, khi các nhà băng có ứng dụng đủ mạnh, việc bổ sung thêm chức năng giao dịch tài sản số sẽ diễn ra thuận lợi, “all in one” trên cùng một nền tảng, thay vì cần đến nhiều ứng dụng khác nhau.

Bên cạnh đó, các ngân hàng cũng có thể chia sẻ rủi ro bằng cách liên danh một nhóm nào đó. Các công ty chứng khoán độc lập muốn tham gia cũng có thể hợp tác với ngân hàng thương mại, đảm bảo vốn điều lệ tối thiểu 10.000 tỷ đồng theo quy định và đáp ứng tỷ lệ vốn góp theo quy định.

Rõ ràng, không phải doanh nghiệp nào cũng có đủ điều kiện để tham gia cuộc chơi này, nhưng cơ hội hợp tác và khai thác thị trường này là rất lớn nên cũng tạo động lực cho nhiều tổ chức tài chính, tổ chức tín dụng đăng ký tham gia.

Cân bằng giữa khẩu vị rủi ro và an toàn chiến lược

Bên cạnh năng lực, các ngân hàng còn phải cân nhắc khẩu vị rủi ro đối với hoạt động tài sản số. Một số tổ chức sẵn sàng chấp nhận biến động để tìm kiếm cơ hội lợi nhuận mới, với điều kiện là có chiến lược quản lý rủi ro hiệu quả để có thể chịu đựng và vượt qua những thay đổi đột ngột về giá trị của tài sản. Đồng thời, cần có đội ngũ chuyên gia am hiểu, có kiến thức chuyên sâu và khả năng phân tích thị trường liên tục. Ngược lại, cũng có những tổ chức đặt ưu tiên an toàn, không muốn điều chỉnh chiến lược kinh doanh do lo ngại chệch khỏi định hướng đã đề ra.

PV: Nguồn vốn chỉ là điều kiện cần. Vậy theo ông, yếu tố nào mới là “cửa ải” phải vượt qua để tham gia thị trường tài sản số?

TS. Châu Đình Linh: Để tham gia thị trường tài sản số, có nhiều yếu tố then chốt cần được xem xét.

Trước hết, hạ tầng giao dịch và công nghệ mà ngân hàng hoặc công ty chứng khoán đang sở hữu, liệu có đủ mạnh để đáp ứng yêu cầu vận hành hay không. Bảo mật tài khoản và giao dịch là yếu tố sống còn. Các nền tảng giao dịch cần đảm bảo rằng các hệ thống không bị tấn công và thông tin cá nhân, tài chính của các nhà đầu tư phải được bảo vệ nghiêm ngặt. Các tiêu chuẩn bảo mật cao cần phải được duy trì thường xuyên.

Tiếp theo, quy mô khách hàng và thị phần, bởi đây là nền tảng để triển khai dịch vụ mới. Bên cạnh đó, lợi thế công nghệ, uy tín thương hiệu cũng đóng vai trò quyết định trong việc tạo niềm tin cho nhà đầu tư. Tuy nhiên, số tổ chức đáp ứng được đầy đủ các tiêu chí thực tế chỉ “đếm trên đầu ngón tay”.

PV: Nếu các ngân hàng không trực tiếp tham gia vận hành sàn giao dịch thì có thể hưởng lợi gì từ việc tham gia vào các khâu khác, thưa ông?

TS. Châu Đình Linh: Đối với ngân hàng, lợi ích kỳ vọng đến từ nhiều khía cạnh. Thứ nhất, họ có thêm nguồn thu dịch vụ, bởi mỗi giao dịch đều mang lại phí tương tự như chứng khoán. Thứ hai, ngân hàng có thể gia tăng CASA (tiền gửi không kỳ hạn) thông qua tài khoản chuyên dụng, đồng thời khai thác dữ liệu để thiết kế các dịch vụ tài chính phù hợp hơn, từ cho vay, mua bất động sản thật, hay chuyển hướng tư vấn bảo hiểm đến trái phiếu doanh nghiệp...

Bên cạnh đó, việc tham gia thị trường tài sản số còn giúp ngân hàng nâng cấp hạ tầng công nghệ, nâng cao năng lực đội ngũ, chưa kể có thể chuẩn bị cho khả năng phát hành các loại tài sản mã hóa khác trong tương lai. Nói cách khác, lợi ích không chỉ đến từ dòng thu hiện tại, mà còn từ cơ hội mở rộng dịch vụ, đa dạng hóa sản phẩm. Lợi ích sẽ đến với những ngân hàng “nhanh chân” tham gia vào thị trường này.

Trong khi đó, các ngân hàng nước ngoài lại ít cơ hội khai thác sâu, chủ yếu hưởng lợi gián tiếp từ mảng ngoại tệ và giao dịch xuyên biên giới..

PV: Xin cám ơn ông!

Thoát khỏi vùng "xám", mở lối đi minh bạch cho giao dịch tài sản mã hóa

Tại Việt Nam, hoạt động mua bán tài sản mã hóa vốn diễn ra sôi động từ trước dù nằm trong vùng "xám" pháp lý. Việc Chính phủ ban hành Nghị quyết 05/2025/NQ-CP, theo TS. Châu Đình Linh, không chỉ chính thức công nhận tài sản mã hóa như một loại tài sản mới, mà còn mở ra bước đi chiến lược hình thành trung tâm tài chính số tại TP. Hồ Chí Minh và Đà Nẵng, với tầm nhìn vươn ra khu vực và quốc tế. Một trung tâm tài chính hiện đại tất yếu phải vượt ra ngoài các giao dịch truyền thống, bao hàm cả những loại tài sản số ngày càng đa dạng và phức tạp.

Theo nhiều thống kê, số người Việt nắm giữ tài sản mã hóa lên tới hàng chục triệu, vượt cả số lượng tài khoản chứng khoán. Giá trị giao dịch ước tính hàng trăm tỷ USD, đưa Việt Nam vào nhóm thị trường năng động hàng đầu thế giới.

"Chúng ta chính thức hợp thức hóa thị trường giao dịch tài sản số nói chung và tài sản mã hóa nói riêng, đưa chúng từ “vùng xám” sang “vùng sáng” khi Nghị quyết 05 ra đời, để đảm bảo tính minh bạch, tương tự như với bất động sản hay các loại tài sản thực khác" - ông Linh đánh giá. Khi đó, sẽ có cơ chế công bố thông tin, chế độ báo cáo và nghĩa vụ thuế rõ ràng. Điều này không chỉ giúp thị trường vận hành lành mạnh, mà còn bảo vệ quyền lợi của nhà đầu tư, hạn chế rủi ro đầu cơ và gian lận.

Một điểm then chốt là nghị quyết "kẻ chỉ", phân định rạch ròi: tài sản số, tài sản mã hóa với tiền pháp định ở dạng số hóa. Sự rõ ràng này bảo đảm thị trường tài sản số phát triển nhưng tránh xâm phạm, gây bất ổn định kinh tế vĩ mô, chủ quyền tiền tệ, không coi tiền mã hóa là phương tiện thanh toán.

Như vậy, nghị quyết không chỉ thể hiện sự cởi mở về tư duy quản lý, mà còn tạo tiền đề để xây dựng một thị trường tài chính hiện đại, minh bạch. Đây cũng là bước chuẩn bị quan trọng để TP. Hồ Chí Minh và Đà Nẵng trở thành trung tâm tài chính số hoàn chỉnh, góp phần định vị Việt Nam trên bản đồ tài chính quốc tế.

Ánh Tuyết

Đọc thêm

Lãi suất huy động chạm 9%/năm - áp lực vốn lan rộng

Lãi suất huy động chạm 9%/năm - áp lực vốn lan rộng

(TBTCO) - Khảo sát gần 50 ngân hàng ngày 24/3 cho thấy, lãi suất huy động tiếp tục tăng, với 10 ngân hàng nâng lãi suất kỳ hạn 6 tháng và 15 ngân hàng tăng ở kỳ hạn 12 tháng chỉ chưa đầy 1 tháng; mức cao nhất đã chạm 9%/năm. Trước diễn biến này, các ngân hàng lớn đều có dự tính riêng về điều hành chính sách lãi suất, khi dự báo chi phí vốn sẽ chịu áp lực.
Sau 3 tháng “án binh”, nhóm "big 4" đồng loạt nâng lãi suất lên tới 1,2 điểm phần trăm

Sau 3 tháng “án binh”, nhóm "big 4" đồng loạt nâng lãi suất lên tới 1,2 điểm phần trăm

Sau hơn 3 tháng giữ nguyên lãi suất kỳ hạn dài 12 - 24 tháng, Vietcombank, VietinBank và BIDV vừa đồng loạt tăng mạnh 0,7 - 1,2 điểm phần trăm, lên 5,9%/năm và 6,5%/năm, trong khi Agribank vẫn giữ nguyên. So với đầu quý IV/2025, mức tăng đã lên tới 1,8 điểm phần trăm, tạo hiệu ứng đáng chú ý khi nhóm “big 4” nắm khoảng 50% thị phần huy động.
Khách hàng may mắn “đón lộc” hơn 686 triệu đồng từ BIDV

Khách hàng may mắn “đón lộc” hơn 686 triệu đồng từ BIDV

(TBTCO) - Ngày 24/03/2026, tại Hà Tĩnh, Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam (BIDV) đã tổ chức lễ trao giải thưởng Đại Phát Lộc (Sổ tiết kiệm trị giá 686.868.686 đồng) đến khách hàng may mắn trong chương trình “Đón mùa lễ hội - Tiết kiệm bội quà”.
ADB công bố gói hỗ trợ tài chính giúp giảm thiểu tác động từ xung đột Trung Đông

ADB công bố gói hỗ trợ tài chính giúp giảm thiểu tác động từ xung đột Trung Đông

(TBTCO) - Ngân hàng Phát triển châu Á (ADB) ngày 24/3 đã công bố gói hỗ trợ tài chính nhằm giúp các quốc gia thành viên đang phát triển (DMC) giảm thiểu các tác động kinh tế và tài chính do xung đột ở Trung Đông gây ra.
OCB phấn đấu tăng lợi nhuận 39%, nâng vốn điều lệ vượt 30.000 tỷ đồng

OCB phấn đấu tăng lợi nhuận 39%, nâng vốn điều lệ vượt 30.000 tỷ đồng

Năm 2026, OCB đặt nhiều mục tiêu chiến lược, nổi bật là lợi nhuận trước thuế đạt 6.960 tỷ đồng (tăng 39%); tổng tài sản 354.214 tỷ đồng (tăng 10%). Ngân hàng dự kiến nâng vốn điều lệ lên 30.625 tỷ đồng nhằm mở rộng quy mô, tăng năng lực cạnh tranh; đồng thời, kiện toàn Hội đồng quản trị phục vụ giai đoạn tăng trưởng mới.
Eximbank khai trương trụ sở chính tại Hà Nội, đánh dấu bước chuyển mình trong chiến lược phát triển

Eximbank khai trương trụ sở chính tại Hà Nội, đánh dấu bước chuyển mình trong chiến lược phát triển

(TBTCO) - Ngày 24/3/2026, Ngân hàng TMCP Xuất nhập khẩu Việt Nam (Eximbank) chính thức khai trương trụ sở chính tại tòa nhà số 27 - 29 Lý Thái Tổ, phường Hoàn Kiếm, Hà Nội. Việc đặt trụ sở tại Thủ đô là bước triển khai quan trọng trong định hướng phát triển của ngân hàng đã được thông qua tại Đại hội đồng cổ đông năm 2025.
Sau cú tăng tới 300 điểm cơ bản, VDSC chỉ ra yếu tố giúp lãi suất huy động cân bằng

Sau cú tăng tới 300 điểm cơ bản, VDSC chỉ ra yếu tố giúp lãi suất huy động cân bằng

Báo cáo VDSC cho thấy năm 2026, ngành ngân hàng đón cả những cơ hội, lẫn những ràng buộc mang tính cấu trúc khác biệt. Trong ngắn hạn, áp lực thanh khoản là thách thức lớn khi lãi suất huy động đã tăng 100 - 300 điểm cơ bản, nhưng huy động vốn chỉ tăng 0,8%. VDSC dự đoán, lãi suất huy động tiếp tục tăng khi tỷ lệ LDR, tỷ lệ vốn ngắn hạn cho vay trung dài hạn được kiểm soát tốt hơn.
Ngân hàng Đầu tư châu Âu công bố khoản tín dụng 200 triệu EUR cho các dự án khí hậu tại Việt Nam

Ngân hàng Đầu tư châu Âu công bố khoản tín dụng 200 triệu EUR cho các dự án khí hậu tại Việt Nam

(TBTCO) - Ngày 24/3, tại Hà Nội, Ngân hàng Đầu tư châu Âu (EIB) và Ngân hàng thương mại cổ phần kỹ thương Việt Nam (Techcombank) đã công bố thỏa thuận tài trợ trị giá 200 triệu EUR nhằm đẩy nhanh các dự án hành động vì khí hậu, môi trường và phát triển bền vững trên khắp Việt Nam.
Xem thêm
DOJI Giá mua Giá bán
SJC -Bán Lẻ 16,800 ▼250K 17,100 ▼250K
Kim TT/AVPL 16,810 ▼250K 17,110 ▼250K
NHẪN TRÒN 9999 HƯNG THỊNH VƯỢNG 16,750 ▼300K 17,050 ▼300K
Nguyên Liệu 99.99 15,950 ▼400K 16,150 ▼400K
Nguyên Liệu 99.9 15,900 ▼400K 16,100 ▼400K
NỮ TRANG 9999 - BÁN LẺ 16,600 ▼300K 17,000 ▼300K
NỮ TRANG 999 - BÁN LẺ 16,550 ▼300K 16,950 ▼300K
Nữ trang 99 - Bán Lẻ 16,480 ▼300K 16,930 ▼300K
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 168,000 ▼2500K 171,000 ▼2500K
Hà Nội - PNJ 168,000 ▼2500K 171,000 ▼2500K
Đà Nẵng - PNJ 168,000 ▼2500K 171,000 ▼2500K
Miền Tây - PNJ 168,000 ▼2500K 171,000 ▼2500K
Tây Nguyên - PNJ 168,000 ▼2500K 171,000 ▼2500K
Đông Nam Bộ - PNJ 168,000 ▼2500K 171,000 ▼2500K
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 16,800 ▼250K 17,100 ▼250K
Miếng SJC Nghệ An 16,800 ▼250K 17,100 ▼250K
Miếng SJC Thái Bình 16,800 ▼250K 17,100 ▼250K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 16,800 ▼250K 17,100 ▼250K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 16,800 ▼250K 17,100 ▼250K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 16,800 ▼250K 17,100 ▼250K
NL 99.90 15,820 ▼450K
NL 99.99, Nhẫn Tròn Thái Bình 15,850 ▼450K
Trang sức 99.9 16,290 ▼250K 16,990 ▼250K
Trang sức 99.99 16,300 ▼250K 17,000 ▼250K
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 168 ▼1537K 171 ▼1564K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 168 ▼1537K 17,102 ▼250K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 168 ▼1537K 17,103 ▼250K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,678 ▼25K 1,708 ▼25K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,678 ▼25K 1,709 ▼25K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,658 ▼25K 1,693 ▼25K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 161,124 ▼2475K 167,624 ▼2475K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 118,238 ▼1875K 127,138 ▼1875K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 106,386 ▼1700K 115,286 ▼1700K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 94,533 ▼1525K 103,433 ▼1525K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 89,962 ▼1457K 98,862 ▼1457K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 61,855 ▼1043K 70,755 ▼1043K
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 168 ▼1537K 171 ▼1564K
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 168 ▼1537K 171 ▼1564K
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 168 ▼1537K 171 ▼1564K
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 168 ▼1537K 171 ▼1564K
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 168 ▼1537K 171 ▼1564K
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 168 ▼1537K 171 ▼1564K
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 168 ▼1537K 171 ▼1564K
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 168 ▼1537K 171 ▼1564K
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 168 ▼1537K 171 ▼1564K
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 168 ▼1537K 171 ▼1564K
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 168 ▼1537K 171 ▼1564K
Cập nhật: 26/03/2026 14:00
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17767 18041 18614
CAD 18517 18794 19412
CHF 32591 32975 33624
CNY 0 3470 3830
EUR 29812 30084 31114
GBP 34376 34767 35701
HKD 0 3239 3440
JPY 158 162 168
KRW 0 16 18
NZD 0 14961 15549
SGD 19985 20267 20795
THB 717 780 834
USD (1,2) 26077 0 0
USD (5,10,20) 26118 0 0
USD (50,100) 26146 26166 26357
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,137 26,137 26,357
USD(1-2-5) 25,092 - -
USD(10-20) 25,092 - -
EUR 29,921 29,945 31,186
JPY 160.54 160.83 169.53
GBP 34,535 34,628 35,609
AUD 17,934 17,999 18,566
CAD 18,694 18,754 19,327
CHF 32,838 32,940 33,708
SGD 20,114 20,177 20,847
CNY - 3,780 3,897
HKD 3,300 3,310 3,428
KRW 16.12 16.81 18.18
THB 765.32 774.77 825.43
NZD 14,937 15,076 15,430
SEK - 2,766 2,847
DKK - 4,004 4,120
NOK - 2,670 2,748
LAK - 0.93 1.28
MYR 6,189.53 - 6,948.24
TWD 743.56 - 894.69
SAR - 6,897.55 7,220.87
KWD - 83,576 88,380
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,107 26,137 26,357
EUR 29,877 29,997 31,173
GBP 34,551 34,690 35,694
HKD 3,300 3,313 3,428
CHF 32,676 32,807 33,723
JPY 161.21 161.86 169.12
AUD 17,923 17,995 18,581
SGD 20,190 20,271 20,850
THB 783 786 821
CAD 18,705 18,780 19,347
NZD 15,025 15,555
KRW 16.77 18.40
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26150 26150 26357
AUD 17917 18017 18943
CAD 18692 18792 19809
CHF 32837 32867 34454
CNY 3753.6 3778.6 3914.1
CZK 0 1185 0
DKK 0 4050 0
EUR 29990 30020 31748
GBP 34660 34710 36473
HKD 0 3355 0
JPY 161.6 162.1 172.64
KHR 0 6.097 0
KRW 0 17.1 0
LAK 0 1.172 0
MYR 0 6810 0
NOK 0 2720 0
NZD 0 15065 0
PHP 0 410 0
SEK 0 2830 0
SGD 20154 20284 21006
THB 0 748.2 0
TWD 0 810 0
SJC 9999 17050000 17050000 17350000
SBJ 15000000 15000000 17350000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,167 26,217 26,357
USD20 26,167 26,217 26,357
USD1 23,847 26,217 26,357
AUD 17,973 18,073 19,192
EUR 30,143 30,143 31,577
CAD 18,652 18,752 20,073
SGD 20,242 20,392 20,971
JPY 162.11 163.61 168.28
GBP 34,570 34,920 36,015
XAU 17,048,000 0 17,352,000
CNY 0 3,666 0
THB 0 783 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 26/03/2026 14:00
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80