Đưa tài sản mã hóa ra “vùng sáng”, ngân hàng đứng trước ngã rẽ chiến lược

Ánh Tuyết
(TBTCO) - Trao đổi với phóng viên, TS. Châu Đình Linh - Trường Đại học Ngân hàng TP. Hồ Chí Minh nhấn mạnh, Nghị quyết 05/2025/NQ-CP chính thức đưa giao dịch tài sản mã hóa từ “vùng xám” ra “vùng sáng”, với yêu cầu thực hiện qua sàn được cấp phép và định danh bằng VND. Trong bối cảnh đó, các ngân hàng được xem là ứng viên sáng giá để dẫn dắt thị trường mới, dù mức độ nhập cuộc còn tùy thuộc khẩu vị rủi ro và chiến lược riêng.
aa

PV: Theo quy định tại Nghị quyết 05/2025/NQ-CP ngày 9/9/2025 về thí điểm thị trường tài sản mã hóa tại Việt Nam (Nghị quyết 05), điều kiện cấp Giấy phép cung cấp dịch vụ tổ chức thị trường giao dịch tài sản mã hóa yêu cầu vốn điều lệ tối thiểu 10.000 tỷ đồng cùng tỷ lệ góp vốn nghiêm ngặt, đồng nghĩa chỉ các định chế tài chính lớn mới có thể tham gia. Theo ông, những ngân hàng nào nhiều khả năng sẽ nhập cuộc mạnh mẽ nhất?

Đưa tài sản mã hóa ra “vùng sáng”, ngân hàng đứng trước ngã rẽ chiến lược
TS. Châu Đình Linh

TS. Châu Đình Linh: Tất cả các giao dịch tài sản mã hóa sẽ phải thực hiện thông qua tài khoản chuyên dụng, tương tự như tài khoản chứng khoán và diễn ra trên các nền tảng tập trung, phải định danh bằng VND và được quản lý, giám sát chặt chẽ bởi cơ quan nhà nước.

Điều này đồng nghĩa, những nhà đầu tư đang nắm giữ coin, NFT (tài sản không thể thay thế) hay các loại tài sản mã hóa khác vẫn được công nhận và có thể tiếp tục giao dịch, song cần chuẩn bị để chuyển tài sản về các sàn trong nước tuân thủ quy định, thay vì duy trì giao dịch trên sàn nước ngoài như trước. Điều này cho thấy, toàn bộ tài sản mã hóa mà nhà đầu tư đang nắm giữ đều được đưa từ “vùng xám” sang “vùng sáng”, chứ không loại trừ những người đã sở hữu trước đây.

Điểm quan trọng là Nghị quyết đặt ra những điều kiện tham gia rất cao, qua đó sàng lọc mạnh mẽ, chỉ để lại số ít tổ chức tài chính đủ năng lực. Có thể kể đến như MB, Techcombank hay VPBank… có nhiều lợi thế để tham gia sâu hơn, với lợi thế tích hợp hệ sinh thái tài chính mạnh.

Đưa tài sản mã hóa ra “vùng sáng”, ngân hàng đứng trước ngã rẽ chiến lược
Nguồn: Nghị quyết số 5/2025/NQ-CP Đồ họa: PHƯƠNG ANH

Theo đó, khi các nhà băng có ứng dụng đủ mạnh, việc bổ sung thêm chức năng giao dịch tài sản số sẽ diễn ra thuận lợi, “all in one” trên cùng một nền tảng, thay vì cần đến nhiều ứng dụng khác nhau.

Bên cạnh đó, các ngân hàng cũng có thể chia sẻ rủi ro bằng cách liên danh một nhóm nào đó. Các công ty chứng khoán độc lập muốn tham gia cũng có thể hợp tác với ngân hàng thương mại, đảm bảo vốn điều lệ tối thiểu 10.000 tỷ đồng theo quy định và đáp ứng tỷ lệ vốn góp theo quy định.

Rõ ràng, không phải doanh nghiệp nào cũng có đủ điều kiện để tham gia cuộc chơi này, nhưng cơ hội hợp tác và khai thác thị trường này là rất lớn nên cũng tạo động lực cho nhiều tổ chức tài chính, tổ chức tín dụng đăng ký tham gia.

Cân bằng giữa khẩu vị rủi ro và an toàn chiến lược

Bên cạnh năng lực, các ngân hàng còn phải cân nhắc khẩu vị rủi ro đối với hoạt động tài sản số. Một số tổ chức sẵn sàng chấp nhận biến động để tìm kiếm cơ hội lợi nhuận mới, với điều kiện là có chiến lược quản lý rủi ro hiệu quả để có thể chịu đựng và vượt qua những thay đổi đột ngột về giá trị của tài sản. Đồng thời, cần có đội ngũ chuyên gia am hiểu, có kiến thức chuyên sâu và khả năng phân tích thị trường liên tục. Ngược lại, cũng có những tổ chức đặt ưu tiên an toàn, không muốn điều chỉnh chiến lược kinh doanh do lo ngại chệch khỏi định hướng đã đề ra.

PV: Nguồn vốn chỉ là điều kiện cần. Vậy theo ông, yếu tố nào mới là “cửa ải” phải vượt qua để tham gia thị trường tài sản số?

TS. Châu Đình Linh: Để tham gia thị trường tài sản số, có nhiều yếu tố then chốt cần được xem xét.

Trước hết, hạ tầng giao dịch và công nghệ mà ngân hàng hoặc công ty chứng khoán đang sở hữu, liệu có đủ mạnh để đáp ứng yêu cầu vận hành hay không. Bảo mật tài khoản và giao dịch là yếu tố sống còn. Các nền tảng giao dịch cần đảm bảo rằng các hệ thống không bị tấn công và thông tin cá nhân, tài chính của các nhà đầu tư phải được bảo vệ nghiêm ngặt. Các tiêu chuẩn bảo mật cao cần phải được duy trì thường xuyên.

Tiếp theo, quy mô khách hàng và thị phần, bởi đây là nền tảng để triển khai dịch vụ mới. Bên cạnh đó, lợi thế công nghệ, uy tín thương hiệu cũng đóng vai trò quyết định trong việc tạo niềm tin cho nhà đầu tư. Tuy nhiên, số tổ chức đáp ứng được đầy đủ các tiêu chí thực tế chỉ “đếm trên đầu ngón tay”.

PV: Nếu các ngân hàng không trực tiếp tham gia vận hành sàn giao dịch thì có thể hưởng lợi gì từ việc tham gia vào các khâu khác, thưa ông?

TS. Châu Đình Linh: Đối với ngân hàng, lợi ích kỳ vọng đến từ nhiều khía cạnh. Thứ nhất, họ có thêm nguồn thu dịch vụ, bởi mỗi giao dịch đều mang lại phí tương tự như chứng khoán. Thứ hai, ngân hàng có thể gia tăng CASA (tiền gửi không kỳ hạn) thông qua tài khoản chuyên dụng, đồng thời khai thác dữ liệu để thiết kế các dịch vụ tài chính phù hợp hơn, từ cho vay, mua bất động sản thật, hay chuyển hướng tư vấn bảo hiểm đến trái phiếu doanh nghiệp...

Bên cạnh đó, việc tham gia thị trường tài sản số còn giúp ngân hàng nâng cấp hạ tầng công nghệ, nâng cao năng lực đội ngũ, chưa kể có thể chuẩn bị cho khả năng phát hành các loại tài sản mã hóa khác trong tương lai. Nói cách khác, lợi ích không chỉ đến từ dòng thu hiện tại, mà còn từ cơ hội mở rộng dịch vụ, đa dạng hóa sản phẩm. Lợi ích sẽ đến với những ngân hàng “nhanh chân” tham gia vào thị trường này.

Trong khi đó, các ngân hàng nước ngoài lại ít cơ hội khai thác sâu, chủ yếu hưởng lợi gián tiếp từ mảng ngoại tệ và giao dịch xuyên biên giới..

PV: Xin cám ơn ông!

Thoát khỏi vùng "xám", mở lối đi minh bạch cho giao dịch tài sản mã hóa

Tại Việt Nam, hoạt động mua bán tài sản mã hóa vốn diễn ra sôi động từ trước dù nằm trong vùng "xám" pháp lý. Việc Chính phủ ban hành Nghị quyết 05/2025/NQ-CP, theo TS. Châu Đình Linh, không chỉ chính thức công nhận tài sản mã hóa như một loại tài sản mới, mà còn mở ra bước đi chiến lược hình thành trung tâm tài chính số tại TP. Hồ Chí Minh và Đà Nẵng, với tầm nhìn vươn ra khu vực và quốc tế. Một trung tâm tài chính hiện đại tất yếu phải vượt ra ngoài các giao dịch truyền thống, bao hàm cả những loại tài sản số ngày càng đa dạng và phức tạp.

Theo nhiều thống kê, số người Việt nắm giữ tài sản mã hóa lên tới hàng chục triệu, vượt cả số lượng tài khoản chứng khoán. Giá trị giao dịch ước tính hàng trăm tỷ USD, đưa Việt Nam vào nhóm thị trường năng động hàng đầu thế giới.

"Chúng ta chính thức hợp thức hóa thị trường giao dịch tài sản số nói chung và tài sản mã hóa nói riêng, đưa chúng từ “vùng xám” sang “vùng sáng” khi Nghị quyết 05 ra đời, để đảm bảo tính minh bạch, tương tự như với bất động sản hay các loại tài sản thực khác" - ông Linh đánh giá. Khi đó, sẽ có cơ chế công bố thông tin, chế độ báo cáo và nghĩa vụ thuế rõ ràng. Điều này không chỉ giúp thị trường vận hành lành mạnh, mà còn bảo vệ quyền lợi của nhà đầu tư, hạn chế rủi ro đầu cơ và gian lận.

Một điểm then chốt là nghị quyết "kẻ chỉ", phân định rạch ròi: tài sản số, tài sản mã hóa với tiền pháp định ở dạng số hóa. Sự rõ ràng này bảo đảm thị trường tài sản số phát triển nhưng tránh xâm phạm, gây bất ổn định kinh tế vĩ mô, chủ quyền tiền tệ, không coi tiền mã hóa là phương tiện thanh toán.

Như vậy, nghị quyết không chỉ thể hiện sự cởi mở về tư duy quản lý, mà còn tạo tiền đề để xây dựng một thị trường tài chính hiện đại, minh bạch. Đây cũng là bước chuẩn bị quan trọng để TP. Hồ Chí Minh và Đà Nẵng trở thành trung tâm tài chính số hoàn chỉnh, góp phần định vị Việt Nam trên bản đồ tài chính quốc tế.

Ánh Tuyết

Đọc thêm

Tín dụng mở rộng, doanh nghiệp vẫn chờ thay đổi trong cách cho vay

Tín dụng mở rộng, doanh nghiệp vẫn chờ thay đổi trong cách cho vay

(TBTCO) - Tại Hội nghị Đối thoại Doanh nghiệp - Chính quyền TP. Hồ Chí Minh chuyên đề lĩnh vực ngân hàng, diễn ra ngày 10/7, Ngân hàng Nhà nước cho biết đang triển khai nhiều chương trình tín dụng quy mô lớn dành cho các lĩnh vực ưu tiên. Tuy nhiên, nhiều doanh nghiệp vẫn bày tỏ băn khoăn về khả năng tiếp cận vốn, đặc biệt là những vướng mắc trong quá trình thẩm định và cấp tín dụng.
Quỹ Prudence ra mắt Levela - nền tảng giáo dục tài chính miễn phí giúp nâng cao hiểu biết tài chính cho người trẻ tại châu Á và châu Phi

Quỹ Prudence ra mắt Levela - nền tảng giáo dục tài chính miễn phí giúp nâng cao hiểu biết tài chính cho người trẻ tại châu Á và châu Phi

(TBTCO) - Prudence Foundation, quỹ đầu tư cộng đồng của Prudential plc vừa công bố ra mắt Levela, nền tảng giáo dục tài chính miễn phí giúp người trẻ nhanh chóng trang bị các kỹ năng quản lý tài chính thiết yếu, hình thành thói quen tài chính tích cực và nâng cao sự tự tin trong việc quản lý tiền bạc.
Tỷ giá USD hôm nay (10/7): Tỷ giá trung tâm tăng nhẹ, thị trường chờ động thái tiếp theo của Fed và ECB

Tỷ giá USD hôm nay (10/7): Tỷ giá trung tâm tăng nhẹ, thị trường chờ động thái tiếp theo của Fed và ECB

(TBTCO) - Sáng 10/7, Ngân hàng Nhà nước công bố tỷ giá trung tâm ở mức 25.214 đồng, tăng 3 đồng. Trên thị trường quốc tế, chỉ số DXY giảm 0,13% xuống 100,94 điểm, trong bối cảnh Fed tiếp tục đánh giá các kịch bản khi lạm phát tại Mỹ vẫn ở mức quá cao, trong khi khả năng ECB tăng lãi suất vào tháng 9 vẫn hiện hữu.
Giá vàng hôm nay ngày 10/7: Vàng thế giới tăng lên 4.125 USD/ounce, vàng trong nước biến động trái chiều

Giá vàng hôm nay ngày 10/7: Vàng thế giới tăng lên 4.125 USD/ounce, vàng trong nước biến động trái chiều

(TBTCO) - Giá vàng thế giới giao dịch quanh 4.125 USD/ounce, tăng hơn 50 USD so với hôm qua. Trong nước, giá vàng miếng đồng loạt tăng trong khi giá vàng nhẫn ghi nhận diễn biến trái chiều giữa các thương hiệu.
SHB SAHA ra mắt tính năng “Sinh lời nhàn tênh”: Tự động sinh lời tới 6%/năm

SHB SAHA ra mắt tính năng “Sinh lời nhàn tênh”: Tự động sinh lời tới 6%/năm

(TBTCO) - Ngân hàng TMCP Sài Gòn - Hà Nội (SHB) chính thức ra mắt tính năng “Sinh lời nhàn tênh” trên ứng dụng ngân hàng số thế hệ mới SHB SAHA, mang đến giải pháp tài chính thông minh giúp khách hàng tối ưu dòng tiền nhàn rỗi, gia tăng hiệu quả sinh lời, đồng thời vẫn bảo đảm tính linh hoạt trong chi tiêu và quản lý tài chính hằng ngày.
Hòa Phát sản xuất 7 triệu tấn thép trong nửa đầu năm 2026, tăng 36% so với cùng kỳ 2025

Hòa Phát sản xuất 7 triệu tấn thép trong nửa đầu năm 2026, tăng 36% so với cùng kỳ 2025

(TBTCO) - Quý 2/2026, Tập đoàn Hòa Phát sản xuất hơn 3,6 triệu tấn thép thô (phôi thép), tăng 48% so với quý 2/2025 và tăng 9% so với quý 1/2026. Sản lượng bán hàng các sản phẩm thép xây dựng, thép cuộn chất lượng cao, thép cuộn cán nóng và phôi thép đạt 3,5 triệu tấn, tăng 35% so với cùng kỳ năm trước.
Tỷ giá USD hôm nay (9/7): Tỷ giá trung tâm tăng, DXY giữ trên 101 điểm nhờ kỳ vọng Fed tăng lãi suất cuối năm

Tỷ giá USD hôm nay (9/7): Tỷ giá trung tâm tăng, DXY giữ trên 101 điểm nhờ kỳ vọng Fed tăng lãi suất cuối năm

(TBTCO) - Sáng 9/7, Ngân hàng Nhà nước công bố tỷ giá trung tâm ở mức 25.211 đồng, tăng 5 đồng. Trong khi đó, chỉ số DXY giảm 0,07% nhưng vẫn duy trì trên 101 điểm. Dù kỳ vọng Fed tiếp tục tăng lãi suất đã giảm, thị trường vẫn dự báo Fed sẽ tăng thêm ít nhất 25 điểm cơ bản trong 6 tháng tới, đặc biệt khi căng thẳng địa chính trị tại Trung Đông lại gia tăng.
Lãi suất khó hạ sâu, giữ nhịp điều hành hợp lý trước nhiều biến số

Lãi suất khó hạ sâu, giữ nhịp điều hành hợp lý trước nhiều biến số

(TBTCO) - Lãi suất huy động đầu tháng 7 gần như "đứng hình", nhưng cuộc đua "ngầm" hút vốn vẫn tiếp diễn khi khoảng vênh giữa tín dụng và huy động lên tới gần 2 triệu tỷ đồng. Mặt bằng lãi suất được dự báo tiếp tục duy trì ở mức hợp lý, thay vì giảm sâu, vừa hỗ trợ tăng trưởng, vừa cân bằng áp lực lạm phát và tỷ giá.
Xem thêm
DOJI Giá mua Giá bán
SJC -Bán Lẻ 14,690 ▲90K 14,990 ▲90K
Kim TT/AVPL 14,500 ▲50K 14,900 ▲50K
NHẪN TRÒN 9999 HƯNG THỊNH VƯỢNG 14,500 ▲50K 14,900 ▲50K
Nguyên Liệu 99.99 13,400 13,600
Nguyên Liệu 99.9 13,350 13,550
NỮ TRANG 9999 - BÁN LẺ 13,900 14,400
NỮ TRANG 999 - BÁN LẺ 13,850 14,350
Nữ trang 99 - Bán Lẻ 13,780 14,330
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 145,700 ▲700K 149,200 ▲700K
Hà Nội - PNJ 145,700 ▲700K 149,200 ▲700K
Đà Nẵng - PNJ 145,700 ▲700K 149,200 ▲700K
Miền Tây - PNJ 145,700 ▲700K 149,200 ▲700K
Tây Nguyên - PNJ 145,700 ▲700K 149,200 ▲700K
Đông Nam Bộ - PNJ 145,700 ▲700K 149,200 ▲700K
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 14,690 ▲90K 14,990 ▲90K
Miếng SJC Nghệ An 14,690 ▲90K 14,990 ▲90K
Miếng SJC Thái Bình 14,690 ▲90K 14,990 ▲90K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 14,500 ▼50K 14,900 ▲50K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 14,500 ▼50K 14,900 ▲50K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 14,500 ▼50K 14,900 ▲50K
NL 99.90 12,950
NL 99.99, Nhẫn Tròn Thái Bình 13,000
Trang sức 99.9 14,090 ▲50K 14,790 ▲50K
Trang sức 99.99 14,100 ▲50K 14,800 ▲50K
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,469 ▲1323K 1,499 ▲1350K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,469 ▲1323K 14,992 ▲90K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,469 ▲1323K 14,993 ▲90K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,464 ▲7K 1,494 ▲7K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,464 ▲7K 1,495 ▲7K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,439 ▲7K 1,474 ▲7K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 138,941 ▲693K 145,941 ▲693K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 100,911 ▲525K 110,711 ▲525K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 90,592 ▲476K 100,392 ▲476K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 80,273 ▲427K 90,073 ▲427K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 76,293 ▲408K 86,093 ▲408K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 51,822 ▲46669K 61,622 ▲55489K
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,469 ▲1323K 1,499 ▲1350K
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,469 ▲1323K 1,499 ▲1350K
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,469 ▲1323K 1,499 ▲1350K
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,469 ▲1323K 1,499 ▲1350K
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,469 ▲1323K 1,499 ▲1350K
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,469 ▲1323K 1,499 ▲1350K
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,469 ▲1323K 1,499 ▲1350K
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,469 ▲1323K 1,499 ▲1350K
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,469 ▲1323K 1,499 ▲1350K
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,469 ▲1323K 1,499 ▲1350K
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,469 ▲1323K 1,499 ▲1350K
Cập nhật: 10/07/2026 19:30
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17711 17984 18571
CAD 18008 18283 18901
CHF 31901 32282 32939
CNY 0 3835 3929
EUR 29394 29615 30695
GBP 34470 34861 35810
HKD 0 3219 3422
JPY 155 159 165
KRW 0 16 18
NZD 0 14841 15431
SGD 19804 20086 20662
THB 704 767 820
USD (1,2) 25996 0 0
USD (5,10,20) 26037 0 0
USD (50,100) 26066 26080 26445
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,090 26,090 26,470
USD(1-2-5) 25,047 - -
USD(10-20) 25,047 - -
EUR 29,541 29,565 30,973
JPY 158.07 158.36 167.94
GBP 34,627 34,721 35,920
AUD 17,915 17,980 18,664
CAD 18,203 18,261 18,933
CHF 32,221 32,321 33,272
SGD 19,931 19,993 20,784
CNY - 3,802 3,947
HKD 3,284 3,294 3,432
KRW 16.1 16.79 18.26
THB 751.79 761.08 814.78
NZD 14,833 14,971 15,413
SEK - 2,675 2,769
DKK - 3,952 4,091
NOK - 2,646 2,740
LAK - 0.89 1.24
MYR 6,040.19 - 6,816.63
TWD 738.39 - 894.44
SAR - 6,880.56 7,246.62
KWD - 83,101 88,412
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,084 26,104 26,474
EUR 29,523 29,642 30,835
GBP 34,671 34,810 35,842
HKD 3,287 3,300 3,417
CHF 32,088 32,217 33,153
JPY 158.31 158.95 166.89
AUD 17,918 17,990 18,584
SGD 20,008 20,088 20,677
THB 768 771 808
CAD 18,237 18,310 18,882
NZD 14,937 15,479
KRW 16.70 18.47
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26048 26048 26474
AUD 17888 17988 18914
CAD 18182 18282 19295
CHF 32146 32176 33754
CNY 3815 3840 3975.4
CZK 0 1190 0
DKK 0 4025 0
EUR 29558 29588 31314
GBP 34716 34766 36521
HKD 0 3355 0
JPY 158.76 159.26 169.77
KHR 0 6.097 0
KRW 0 16.9 0
LAK 0 1.1677 0
MYR 0 6600 0
NOK 0 2710 0
NZD 0 14950 0
PHP 0 395 0
SEK 0 2735 0
SGD 19958 20088 20815
THB 0 733.1 0
TWD 0 820 0
SJC 9999 14690000 14690000 14990000
SBJ 13000000 13000000 14990000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,113 26,163 26,474
USD20 26,113 26,163 26,474
USD1 26,113 26,163 26,474
AUD 17,993 18,093 19,208
EUR 29,449 29,549 31,208
CAD 18,177 18,277 19,586
SGD 20,062 20,212 20,777
JPY 159.77 161.27 166.81
GBP 34,730 34,880 35,936
XAU 14,688,000 0 14,992,000
CNY 0 3,726 0
THB 0 769 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 10/07/2026 19:30
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80