Thị trường tiền tệ tuần đầu tháng 5:

Nhiều biến động từ thị trường tài chính quốc tế

Chí Tín
(TBTCO) - Tuần đầu tiên của tháng 5 chứng kiến nhiều sự biến động trên thị trường tài chính quốc tế. Đó là sự đổ vỡ của ngân hàng Fisrt Republic Bank tại Mỹ kéo dài tình trạng khủng hoảng ngân hàng tại quốc gia này, trong khi đó, Cục Dữ trữ liên bang Mỹ (FED) tiếp tục thực hiện đợt tăng lãi suất lần thứ 10 kể từ tháng 3/2022.
aa

Những bài học từ chuỗi phá sản ngân hàng

Sự kiện Fisrt Republic Bank phá sản tuy là một vấn đề của thị trường tài chính quốc tế, nhưng vẫn là mối quan tâm đặc biệt đối với các nhà đầu tư và kinh doanh trong nước. Cho dù Chính phủ Mỹ đã có những giải pháp xử lý ổn thỏa để hạn chế những hiệu ứng dây chuyền, nhưng câu chuyện trong quản trị ngân hàng nói chung và quản trị tài chính trong kinh doanh cũng vẫn để lại những bài học có giá trị.

Diễn biến chứng khoán, lãi suất, tỷ giá, giá vàng tuần từ 20/3-24/3/2023 Lãi suất liên ngân hàng biến động ngược, tỷ giá ổn định

Fisrt Republic Bank có tính chất khá giống với Silicon Valley Bank, trong đó có đặc thù là phục vụ khá nhiều cộng đồng khởi nghiệp công nghệ. Ngân hàng tập trung phục vụ người Mỹ sống ven biển, thu hút khách hàng bằng các khoản thế chấp lãi suất thấp để đổi lấy việc gửi tiền mặt cho ngân hàng.

Nhiều biến động từ thị trường tài chính quốc tế
Khủng hoảng ngân hàng không đủ để FED chùn tay trong việc tăng lãi suất. Ảnh: T.L

Ông Peter Verhoeven - chuyên gia tài chính quốc tế, Chủ tịch Prometheus Asia SDN BHD cho biết, một trong những bài học có thể kể đến là vấn đề quản lý bảng cân đối kế toán, trong đó có sự cân đối tính phù hợp giữa 2 loại tài sản là “tài sản giữ đến ngày đáo hạn” và “tài sản sẵn sàng để bán”. Ngoài ra, bài học nữa đáng chú ý là việc một số ngân hàng có tỷ trọng tiền gửi không được bảo hiểm khá lớn, trong khi các ngân hàng cũng tập trung nhiều vào các lĩnh vực rủi ro cao.

FED tiếp tục kiên định lộ trình tăng lãi suất

Bất chấp các biến cố xảy ra đối với hệ thống ngân hàng thời gian qua, FED vẫn tiếp tục thực thi chính sách cứng rắn của họ trong lộ trình thắt chặt tiền tệ nhằm kiếm soát lạm phát.

Chính sách của FED có thể bớt thắt chặt, nhưng cũng chưa đến giai đoạn nới lỏng

Một trong những lý do khiến giá vàng tăng là kỳ vọng vào sự thay đổi chính sách của FED từ thắt chặt sang giai đoạn dần nới lỏng. Tuy nhiên theo phát ngôn Chủ tịch FED thì cơ quan này cũng chưa sẵn sàng xoay trục để nới lỏng lãi suất bất cứ lúc nào trong năm nay.

Theo đánh giá của TS. Châu Đình Linh - Giảng viên Đại học Ngân hàng TP.Hồ Chí Minh, 2 lần tăng lãi suất gần đây nhất của FED đưa lãi suất đi đến tiệm cận mức lãi suất cao cuối 2006 – 2007 và giai đoạn sau đó (năm 2008) là thời kỳ lãi suất chuyển sang xu hướng giảm trước diễn biến nền kinh tế Mỹ đối diện cuộc khủng hoảng. Đối với nền kinh tế Việt Nam, các chuyên gia cho rằng, những lần tăng lãi suất của FED gần đây cho thấy các hành động của FED càng ngày càng ít ảnh hưởng đến thị trường tiền tệ trong nước. Một trong những lý do là động thái chính sách của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam đang có xu hướng nới lỏng để ưu tiên mục tiêu kích thích tăng trưởng, ngược với hành động thời gian qua của FED là thắt chặt tiền tệ để ưu tiên mục tiêu kiềm chế lạm phát.

Nhiều biến động từ thị trường tài chính quốc tế
Thặng dư thương mại vẫn là yếu tố tích cực hỗ trợ tỷ giá. Ảnh: T.L

Tỷ giá vẫn giữ ổn định do nguồn cung ngoại tệ tốt

Tỷ giá trong những ngày qua vẫn giữ nhịp ổn định, có xu hướng giảm nhẹ trong giai đoạn từ đầu tháng 5 đến nay. Ngày 3/5, Ngân hàng Nhà nước công bố tỷ giá trung tâm ở mức 23.639 đồng/USD, sau đó giảm trong ngày đầu tiên đi làm sau đợt nghỉ lễ 30/4 – 1/5 xuống 23.635 đồng/USD và tiếp tục giảm trong ngày thứ sáu cuối tuần xuống 23.632 đồng/USD.

Giá vàng trong nước chỉ biến động nhẹ

Khác những diễn biến bùng nổ của giá vàng thế giới, giá vàng trong nước những ngày qua chỉ biến động nhẹ, không có sự tăng giảm quá đột biến.

Tính đến chiều ngày 5/5, giá vàng miếng SJC 9999 niêm yết ở mức 66,55 triệu đồng/lượng mua vào và 67,15 triệu đồng/lượng bán ra; giá vàng nhẫn SJC 9999 là 56,4 triệu đồng/lượng mua vào và 57,45 triệu đồng/lượng bán ra.

Tại các ngân hàng thương mại, Vietcombank cũng công bố tỷ giá giảm trong tuần, từ mức 23.260/23.290/23.630 đồng/USD (mua tiền mặt/mua chuyển khoản/bán ra) hôm 3/5 xuống 23.250/23.280/23.620 đồng/USD hôm 4/5 và giữ ổn định mức này trong phiên cuối tuần.

Nguồn cung ngoại tệ dồi dào vẫn là các thông tin hỗ trợ giúp giữ ổn định tỷ giá. Theo công bố của Tổng cục Thống kê, cán cân thương mại hàng hóa 4 tháng đầu năm 2023 ước tính xuất siêu 6,35 tỷ USD (cùng kỳ năm trước xuất siêu 2,35 tỷ USD).

Giá vàng tăng dù FED tăng lãi suất

Giá vàng đã có diễn biến tăng vọt sau khi FED thực hiện tăng lãi suất và diễn biến này có phần trái ngược so với quy luật thông thường (vàng và lãi suất thường diễn biến ngược nhau). Tuy nhiên, động thái này của vàng có phần lý giải một phần do tâm lý lo ngại từ cuộc khủng hoảng ngân hàng khiến dòng tiền đầu tư hướng vào các tài sản có tính phòng thủ như vàng. Ngoài ra, thông điệp của FED trong lần tăng lãi suất lần này cũng không còn khẳng định về lộ trình sẽ tiếp tục tăng lãi suất mà sẽ phụ thuộc vào dữ liệu kinh tế và điều kiện tài chính. Điều này ít nhiều đưa ra một vài tín hiệu dự báo chu kỳ thắt chặt tiền tệ của Mỹ có thể sắp kết thúc.

Về diễn biến cụ thể của giá vàng thế giới, trong phiên giao dịch tối 4/5 (giờ Việt Nam), giá vàng thế giới đã đẩy lên mức cao kỷ lục trên 2.080 USD/ ounce, sau đó đến trưa ngày 5/5 theo giờ Việt Nam giảm nhẹ nhưng vẫn neo ở mức giá vẫn cao với 2.048,8 USD/ ounce.

Tại thị trường trong nước, giá vàng trong các ngày 4 và 5/5 có biến động nhưng ở mức nhẹ, không có sự tăng đột biến như trên thị trường quốc tế./.

Chí Tín

Đọc thêm

Giá vàng hôm nay ngày 14/10: Vàng miếng, vàng nhẫn trong nước giảm tại một số “nhà vàng”

Giá vàng hôm nay ngày 14/10: Vàng miếng, vàng nhẫn trong nước giảm tại một số “nhà vàng”

(TBTCO) - Giá vàng miếng và vàng nhẫn trong nước giảm tại một số thương hiệu, với mức điều chỉnh phổ biến từ 100.000 đến 300.000 đồng/lượng.
Giá vàng hôm nay ngày 13/10:  Vàng thế giới và trong nước đồng loạt giảm

Giá vàng hôm nay ngày 13/10: Vàng thế giới và trong nước đồng loạt giảm

(TBTCO) - Sau nhịp tăng lên mức cao nhất một tuần, giá vàng thế giới giảm hơn 20 USD/ounce. Trong nước, các thương hiệu cũng điều chỉnh giảm giá vàng miếng và vàng nhẫn.
Giá vàng hôm nay ngày 12/10: Vàng miếng, vàng nhẫn đồng loạt giữ giá

Giá vàng hôm nay ngày 12/10: Vàng miếng, vàng nhẫn đồng loạt giữ giá

(TBTCO) - Giá vàng miếng và vàng nhẫn tại các doanh nghiệp không thay đổi so với phiên trước, lần lượt giao dịch trong khoảng 141 - 144,8 triệu đồng/lượng và 139,6 - 144,3 triệu đồng/lượng.
Giá vàng hôm nay ngày 10/10: Vàng miếng tăng mạnh lên 144,8 triệu đồng/lượng

Giá vàng hôm nay ngày 10/10: Vàng miếng tăng mạnh lên 144,8 triệu đồng/lượng

(TBTCO) - Giá vàng trong nước tăng tới 1,8 triệu đồng/lượng, đưa giá bán vàng miếng lên 144,8 triệu đồng/lượng. Trên thị trường quốc tế, giá vàng thế giới cũng tăng hơn 60 USD/ounce trong 24 giờ qua.
Giá vàng hôm nay ngày 9/10: Vàng trong nước giảm, thế giới bật tăng

Giá vàng hôm nay ngày 9/10: Vàng trong nước giảm, thế giới bật tăng

(TBTCO) - Giá vàng thế giới tăng 27 USD/ounce, lên mức 4.140 USD/ounce. Trong nước, giá vàng miếng chủ yếu đi ngang, còn vàng nhẫn có nơi giảm tới 700.000 đồng/lượng.
Tỷ giá USD hôm nay (8/10): DXY bật tăng khi lợi suất trái phiếu Mỹ chạm đỉnh 24 năm, Fed còn tăng lãi suất

Tỷ giá USD hôm nay (8/10): DXY bật tăng khi lợi suất trái phiếu Mỹ chạm đỉnh 24 năm, Fed còn tăng lãi suất

(TBTCO) - Sáng 8/10, tỷ giá trung tâm giảm 4 đồng xuống 25.634 đồng, USD tại các ngân hàng cũng giảm nhẹ. Ngược chiều, chỉ số DXY tăng 0,4% lên 102,25 điểm khi lợi suất trái phiếu kho bạc Mỹ kỳ hạn 10 năm chạm 5,28%, gần mức cao nhất kể từ tháng 5/2002, cùng kỳ vọng Fed tiếp tục tăng lãi suất cuối năm.
Giá vàng hôm nay ngày 8/10: Vàng trong nước và thế giới đồng loạt giảm

Giá vàng hôm nay ngày 8/10: Vàng trong nước và thế giới đồng loạt giảm

(TBTCO) - Giá vàng thế giới giảm hơn 53 USD/ounce, xuống mức thấp nhất trong hai tháng. Trong khi đó, giá vàng trong nước cũng đồng loạt đi xuống, vàng miếng phổ biến ở mức 143 triệu đồng/lượng.
Giá vàng hôm nay ngày 7/10: Vàng nhẫn đảo chiều tăng trở lại ở một số thương hiệu

Giá vàng hôm nay ngày 7/10: Vàng nhẫn đảo chiều tăng trở lại ở một số thương hiệu

(TBTCO) - Mở cửa phiên giao dịch ngày 7/10, giá vàng miếng không ghi nhận biến động về giá, vàng nhẫn đảo chiều tăng tại một số thương hiệu.
Xem thêm

Mới nhất Đọc nhiều

PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 139,800 142,800
Hà Nội - PNJ 139,800 142,800
Đà Nẵng - PNJ 139,800 142,800
Miền Tây - PNJ 139,800 142,800
Tây Nguyên - PNJ 139,800 142,800
Đông Nam Bộ - PNJ 139,800 142,800
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 14,030 14,330
Miếng SJC Nghệ An 14,030 14,330
Miếng SJC Thái Bình 14,030 14,330
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 13,880 14,280
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 13,880 14,280
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 13,880 14,280
NL 99.99 13,150
Nhẫn Tròn Thái Bình 13,050
Trang sức 99.9 13,560 14,160
Trang sức 99.99 13,570 14,170
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,403 1,433
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,403 14,332
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,403 14,333
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,398 1,428
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,398 1,429
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,373 1,418
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 133,396 140,396
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 96,711 106,511
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 86,784 96,584
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 76,857 86,657
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 73,028 82,828
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 49,487 59,287
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,403 1,433
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,403 1,433
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,403 1,433
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,403 1,433
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,403 1,433
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,403 1,433
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,403 1,433
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,403 1,433
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,403 1,433
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,403 1,433
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,403 1,433
Cập nhật: 16/10/2026 02:00
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17374 17646 18222
CAD 17689 17963 18579
CHF 30539 30915 31561
CNY 0 3824 3920
EUR 28386 28602 29685
GBP 33484 33872 34810
HKD 0 3166 3369
JPY 157 160 168
KRW 0 18 20
NZD 0 14197 14792
SGD 19629 19910 20489
THB 687 751 804
USD (1,2) 25610 0 0
USD (5,10,20) 25648 0 0
USD (50,100) 25676 25690 26060
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 25,700 25,700 26,080
USD(1-2-5) 24,672 - -
USD(10-20) 24,672 - -
EUR 28,462 28,485 29,839
JPY 159.37 159.66 169.31
GBP 33,675 33,766 34,937
AUD 17,629 17,693 18,366
CAD 17,873 17,930 18,591
CHF 30,810 30,906 31,814
SGD 19,765 19,826 20,613
CNY - 3,794 3,940
HKD 3,232 3,242 3,378
KRW 17.78 18.54 20.18
THB 736.14 745.23 797.75
NZD 14,209 14,341 14,768
SEK - 2,548 2,639
DKK - 3,818 3,953
NOK - 2,669 2,764
LAK - 0.88 1.22
MYR 5,928.04 - 6,689.86
TWD 721.25 - 873.86
SAR - 6,778.43 7,140.99
KWD - 81,752 86,997
AED - 6,794 7,321
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 25,670 25,700 26,080
EUR 28,426 28,569 29,794
GBP 33,638 33,807 34,838
HKD 3,225 3,244 3,361
CHF 30,624 30,778 31,722
JPY 159.05 160.66 168.64
AUD 17,573 17,697 18,292
SGD 19,733 19,912 20,505
THB 741 756 793
CAD 17,871 17,961 18,558
NZD 14,276 14,831
KRW 18.61 20.57
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 25660 25690 26050
AUD 17549 17649 18575
CAD 17863 17963 18978
CHF 30787 30817 32395
CNY 3806.3 3831.3 3966.4
CZK 0 1140 0
DKK 0 3900 0
EUR 28571 28601 30326
GBP 33806 33856 35614
HKD 0 3315 0
JPY 160.54 161.04 171.55
KHR 0 6.097 0
KRW 0 19 0
LAK 0 1.0945 0
MYR 0 6470 0
NOK 0 2730 0
NZD 0 14316 0
PHP 0 380 0
SEK 0 2590 0
SGD 19795 19925 20648
THB 0 717 0
TWD 0 810 0
SJC 9999 14050000 14050000 14350000
SBJ 12500000 12500000 14350000
Cập nhật: 16/10/2026 02:00
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
BIDV 0,10 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
VietinBank 0,10 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
Agribank 0,20 - - - 2,60 2,60 2,90 4,00 4,00 5,90 6,00
ACB 0,50 - - - 4,00 4,20 4,40 4,50 4,70 5,30 5,40
Sacombank 0,50 - - - 4,75 4,75 4,75 6,30 6,30 6,10 6,80
Techcombank 0,05 - - - 4,20 4,20 4,50 6,20 6,20 6,40 5,50
LPBank 0,20 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 4,60 4,60
Vikki Bank 0,49 0,49 - - 4,64 4,64 4,64 5,75 5,52 5,76 5,43
Eximbank 0,20 0,20 0,20 0,20 2,80 3,00 3,10 4,20 4.00 4,70 5,30