Nhiều cổ phiếu bảo hiểm tăng “chuẩn sóng”, ấn tượng với MIG

(TBTCO) - Gần đây, nhiều cổ phiếu bảo hiểm nhận được sự quan tâm lớn của nhà đầu tư và tăng giá khá ấn tượng với điểm nhấn là có cả những mã tăng trần. Bởi vậy, cổ phiếu bảo hiểm đã chính thức chuyển từ “lệch sóng” sang “chuẩn sóng” hòa cùng đà tăng mạnh của thị trường chứng khoán.
aa

Cổ phiếu bảo hiểm không còn “lệch sóng”

Thị trường chứng khoán điều chỉnh giảm khá mạnh trong nửa đầu quý III/2021, do tác động phức tạp của làn sóng dịch bệnh Covid-19 lần thứ 4 xảy ra ở nhiều địa phương, nhất là khu vực các tỉnh phía Nam.

Tuy nhiên, thị trường cho thấy sức chống chịu tốt và hồi phục mạnh trong nửa còn lại quý III và chặng đầu của quý IV/2021. Trong đà tăng chung của thị trường chứng khoán, nhóm cổ phiếu bảo hiểm cũng có phần đóng góp cho xu thế tăng khi không còn hiện tượng “lệch sóng” như trước.

Nhiều cổ phiếu bảo hiểm tăng “chuẩn sóng”, ấn tượng với MIG

Thống kê một số biến động giá một số cổ phiếu bảo hiểm trên sàn chứng khoán cho thấy, dấu hiệu tăng trưởng về giá rất tích cực. Đóng cửa phiên giao dịch ngày 2/11/2021, cổ phiếu ABI đang có thị giá cao nhất là 71.000 đồng/CP; BVH: 64.800 đồng/CP; PVU: 52.500 đồng/CP; BMI: 45.500 đồng/CP; PTI: 39.500 đồng/CP; BIC: 31.400 đồng/CP; PGI: 30.700 đồng/CP; MIG: 28.400 đồng/CP; BLI: 19.100 đồng/CP;…

Như vậy, so với thời điểm kết thúc quý II/2021 (ngày 30/6) và đầu năm 2021 (4/1), thì hầu hết các cổ phiếu ngành bảo hiểm đều đã xác lập một mặt bằng giá mới.

Thống kê của phóng viên TBTCO tại 8 cổ phiếu bảo hiểm trên sàn, hiện giá cổ phiếu đóng cửa phiên ngày 2/11 đều tăng trưởng ở mức 2 con số so với cuối quý II năm nay. Trong số này, mã MIG của Bảo hiểm Quân đội (MIC) đang ở ngôi quán quân khi cho thấy đà tăng giá ấn tượng nhất với mức tăng 51,1% so với ngày 30/6/2021 (biểu đồ).

Tính từ đầu năm (4/1) tới nay (2/11), trong 8 cổ phiếu thống kê thì có 7 cổ phiếu có tăng trưởng giá dương, đặc biệt là mức tăng khá ấn tượng. Theo đó, cả 7 cổ phiếu này đều cho thấy tăng trưởng giá trên 36%, trong đó, MIG vẫn giữ vị thế quán quân khi tăng giá tới 77,5%.

Liệu có còn “giữ sóng” tới cuối năm?

Việc nhiều cổ phiếu bảo hiểm tăng mạnh khiến không ít nhà đầu tư bất ngờ, bởi nhóm này ngoại trừ vài ông lớn thì ít nhận được sự quan tâm lớn của dòng tiền trên thị trường chứng khoán.

Theo lý giải của một số chuyên gia, “sóng tăng bảo hiểm” không tách rời xu thế tích cực của thị trường chung. Chỉ số VN-Index đã liên tục tăng kể từ tháng 8 tới nay và chính thức vượt ngưỡng 1.400 điểm, rồi xác lập đỉnh mới kể từ ngày thị trường hoạt động.

Do đó, được ví là “của để dành” (ổn định, đầu tư dài hạn), thì việc cổ phiếu bảo hiểm hấp dẫn theo quán tính tăng chung cũng là điều không quá bất thường.

Nhiều cổ phiếu bảo hiểm tăng “chuẩn sóng”, ấn tượng với MIG

Đặc biệt hơn, trong bối cảnh chung nhiều ngành kết quả kinh doanh suy giảm vì đại dịch Covid-19, thì nhiều doanh nghiệp bảo hiểm vẫn cho doanh thu, lợi nhuận khả quan.

Thống kê cho thấy, phần lớn các doanh nghiệp bảo hiểm đều cho thấy tăng trưởng lợi nhuận sau thuế 9 tháng năm 2021 tốt hơn hẳn so với cùng kỳ 2020 (xem biểu đồ). Đồng thời, doanh thu thuần phí bảo hiểm cũng tăng tốt trong 9 tháng 2021, ngoại trừ BMI âm nhẹ (-2,2%) so với cùng kỳ 2020.

Nhiều cổ phiếu bảo hiểm tăng “chuẩn sóng”, ấn tượng với MIG
MIC sẽ đẩy nhanh ra đời các sản phẩm mới gắn với nhu cầu lớn từ thị trường.

Hiện tại, MIG tổng doanh thu tính đến 30/9/2021 đạt 2.872 tỷ đồng, tăng trưởng 21,7% so với cùng kỳ.

Trong đó, doanh thu bảo hiểm gốc đạt 2.684 tỷ đồng, tăng trưởng 23% so với cùng kỳ năm trước, luôn duy trì mức tăng trưởng cao hơn so với thị trường gấp 4 lần, đứng Top 5 về thị phần. Lợi nhuận từ hoạt động kinh doanh 9 tháng của MIC đạt 186 tỷ đồng.

Riêng mảng kinh doanh bancassurance cũng vẫn ghi nhận những thành tích tốt với doanh thu từ mảng này của các chi nhánh 366 tỷ đồng và tăng trưởng 6,5% so với cùng kỳ năm trước.

Sự tăng trưởng ấn tượng của MIC có được nhờ đóng góp đáng kể từ các nghiệp vụ bảo hiểm con người và bảo hiểm hàng hải.

Cụ thể, doanh thu bảo hiểm con người đạt 512 tỷ đồng, tăng trưởng 92,3% so với cùng kỳ năm trước và doanh thu bảo hiểm hàng hải đạt 441 tỷ đồng, tăng trưởng 106% cùng kỳ.

Trong chặng cuối năm, để hoàn thành mục tiêu kinh doanh là áp lực khá lớn đối với các doanh nghiệp bảo hiểm, bởi đại dịch tác động khá lớn tới các mảng kinh doanh chủ chốt của một số đơn vị, điển hình là bảo hiểm xe cơ giới và bảo hiểm sức khỏe giảm sâu.

Việc cổ phiếu bảo hiểm có tiếp tục tạo được “sóng tăng” hay không phụ thuộc vào diễn biến chung của thị trường và thực lực của từng doanh nghiệp cụ thể.

Do vậy, nhiều khả năng các cổ phiếu bảo hiểm sẽ có sự phân hóa cao hơn và đi theo diễn biến câu chuyện riêng của từng doanh nghiệp.

Theo ghi nhận, nhiều doanh nghiệp chưa dám quả quyết việc sẽ hoàn thành kế hoạch năm, song đều bày tỏ kỳ vọng lớn về chặng cuối năm về kết quả kinh doanh lẫn xu thế cổ phiếu.

Thông tin với phóng viên, đại diện MIG chia sẻ, trong chặng nước rút cuối năm, MIC sẽ tăng cường kiện toàn và đánh giá lại hệ thống danh mục sản phẩm, phân loại và xây dựng các gói sản phẩm theo nhu cầu của khách hàng, đặc biệt xây dựng gói combo sản phẩm cho kênh số.

Đồng thời, MIC sẽ đẩy nhanh ra đời các sản phẩm mới gắn với nhu cầu lớn từ thị trường, tiếp tục phát triển hợp tác với đối tác mới, kênh mới, cũng như đẩy mạnh kênh bancassurance của ngân hàng – vốn cho tốc độ tăng trưởng khả quan trong những tháng cuối năm 2021./.

Hải Băng

Đọc thêm

Giá vàng hôm nay ngày 29/3: Giá vàng chạm ngưỡng 172,8 triệu đồng/lượng

Giá vàng hôm nay ngày 29/3: Giá vàng chạm ngưỡng 172,8 triệu đồng/lượng

(TBTCO) - Giá vàng trong nước sáng ngày 29/3 tiếp tục tăng tại nhiều doanh nghiệp lớn, đưa mặt bằng giao dịch phổ biến lên ngưỡng 172,8 triệu đồng/lượng.
Nhóm Ngân hàng Thế giới sẵn sàng triển khai hỗ trợ quy mô lớn ứng phó khủng hoảng Trung Đông

Nhóm Ngân hàng Thế giới sẵn sàng triển khai hỗ trợ quy mô lớn ứng phó khủng hoảng Trung Đông

(TBTCO) - Xung đột tại Trung Đông đang đẩy giá năng lượng, phân bón tăng mạnh, làm gián đoạn chuỗi cung ứng và gia tăng chi phí toàn cầu. Nhóm Ngân hàng Thế giới khẳng định sẽ triển khai hỗ trợ quy mô lớn, kết hợp tài chính, chính sách và khu vực tư nhân để giúp các nền kinh tế vượt qua cú sốc và phục hồi tăng trưởng.
"Big 4" dự kiến bơm thêm 1 triệu tỷ đồng, giữ ổn định lãi suất vẫn là thách thức

"Big 4" dự kiến bơm thêm 1 triệu tỷ đồng, giữ ổn định lãi suất vẫn là thách thức

Với tỷ trọng 42,3% tổng dư nợ, nhóm “big 4” dự kiến giải ngân thêm khoảng 1 triệu tỷ đồng năm 2026 nhằm hỗ trợ tăng trưởng. Tuy nhiên, áp lực giữ ổn định mặt bằng lãi suất cho vay vẫn hiện hữu, khi chi phí vốn gia tăng, lãi suất huy động tăng, đặc biệt chi phí dự phòng rủi ro nợ xấu chiếm tới 18 - 20% cơ cấu chi phí của ngành.
Sacombank có tân Phó Tổng giám đốc người Pháp

Sacombank có tân Phó Tổng giám đốc người Pháp

(TBTCO) - Ngân hàng TMCP Sài Gòn Thương Tín (Sacombank, mã Ck: STB) vừa công bố và trao quyết định bổ nhiệm ông Loic Faussier giữ chức Phó Tổng giám đốc, phụ trách mảng Quản trị rủi ro, pháp chế và tuân thủ.
PJICO đặt mục tiêu đạt gần 5.000 tỷ đồng phí bảo hiểm gốc, chia cổ tức 12%

PJICO đặt mục tiêu đạt gần 5.000 tỷ đồng phí bảo hiểm gốc, chia cổ tức 12%

Dù chịu tác động từ thiên tai, cạnh tranh từ thị trường bảo hiểm phi nhân thọ và biến động nội bộ, PJICO vẫn hoàn thành vượt nhiều chỉ tiêu năm 2025. Bước sang 2026, PJICO đặt mục tiêu doanh thu phí bảo hiểm gốc đạt 4.989 tỷ đồng, tăng 8%; lợi nhuận 324,5 tỷ đồng và cổ tức dự kiến 12%, đồng thời kiện toàn Hội đồng quản trị.
Hải Phòng phấn đấu tỷ lệ bao phủ Bảo hiểm y tế đạt 95,5% dân số trở lên trong năm 2026

Hải Phòng phấn đấu tỷ lệ bao phủ Bảo hiểm y tế đạt 95,5% dân số trở lên trong năm 2026

(TBTCO) - UBND TP. Hải Phòng vừa ban hành Kế hoạch số 95/KH-UBND về việc triển khai thực hiện chỉ tiêu, nhiệm vụ công tác bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế và bảo hiểm thất nghiệp năm 2026 trên địa bàn thành phố. Kế hoạch đặt mục tiêu tỷ lệ bao phủ bảo hiểm y tế đạt 95,5% dân số trở lên.
Cho thuê tài chính “chia tải” vốn trung - dài hạn, gánh bớt áp lực cho ngân hàng

Cho thuê tài chính “chia tải” vốn trung - dài hạn, gánh bớt áp lực cho ngân hàng

(TBTCO) - Dòng vốn cho thuê tài chính nổi lên như kênh bổ trợ quan trọng trong bối cảnh ngành ngân hàng “lấy ngắn nuôi dài”, với gần 50% dư nợ là trung - dài hạn và tỷ lệ vốn ngắn hạn cho vay trung - dài hạn nhiều nơi tiến sát 30%. Với dư nợ 45,7 nghìn tỷ đồng cuối năm 2025 và tăng trưởng ổn định, kênh này trở thành “mạch dẫn” vốn cho doanh nghiệp sản xuất thực và san sẻ áp lực cho hệ thống ngân hàng.
Giá vàng thủng mốc 4.500 USD/ounce, chuyên gia lý giải áp lực bán mạnh

Giá vàng thủng mốc 4.500 USD/ounce, chuyên gia lý giải áp lực bán mạnh

(TBTCO) - Giá vàng thế giới thủng 4.500 USD/ounce, trong khi trong nước “neo giá” khiến chênh lệch nới rộng khoảng 25 triệu đồng/lượng; từ đỉnh, giá vàng trong nước mới giảm 10%, thấp hơn mức giảm khoảng 20% của thế giới. Giới phân tích cho rằng kỳ vọng lãi suất đang chi phối mạnh, áp lực bán gia tăng, thậm chí một số ngân hàng trung ương có thể dùng dự trữ vàng để ổn định đồng nội tế trước căng thẳng Trung Đông.
Xem thêm

Mới nhất Đọc nhiều

DOJI Giá mua Giá bán
SJC -Bán Lẻ 16,980 17,280
Kim TT/AVPL 16,980 17,280
NHẪN TRÒN 9999 HƯNG THỊNH VƯỢNG 16,980 17,280
Nguyên Liệu 99.99 16,000 16,200
Nguyên Liệu 99.9 15,950 16,050
NỮ TRANG 9999 - BÁN LẺ 16,800 17,200
NỮ TRANG 999 - BÁN LẺ 16,750 17,150
Nữ trang 99 - Bán Lẻ 16,680 17,130
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 169,800 172,800
Hà Nội - PNJ 169,800 172,800
Đà Nẵng - PNJ 169,800 172,800
Miền Tây - PNJ 169,800 172,800
Tây Nguyên - PNJ 169,800 172,800
Đông Nam Bộ - PNJ 169,800 172,800
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 16,980 17,280
Miếng SJC Nghệ An 16,980 17,280
Miếng SJC Thái Bình 16,980 17,280
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 16,980 17,280
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 16,980 17,280
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 16,980 17,280
NL 99.90 15,820
NL 99.99, Nhẫn Tròn Thái Bình 15,850
Trang sức 99.9 16,470 17,170
Trang sức 99.99 16,480 17,180
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,698 1,728
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,698 17,282
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,698 17,283
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,696 1,726
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,696 1,727
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,676 1,711
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 162,906 169,406
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 119,588 128,488
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 10,761 11,651
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 95,631 104,531
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 91,011 99,911
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 62,606 71,506
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,698 1,728
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,698 1,728
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,698 1,728
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,698 1,728
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,698 1,728
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,698 1,728
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,698 1,728
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,698 1,728
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,698 1,728
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,698 1,728
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,698 1,728
Cập nhật: 29/03/2026 19:30
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17564 17837 18427
CAD 18421 18698 19322
CHF 32313 32696 33362
CNY 0 3470 3830
EUR 29682 29954 30993
GBP 34118 34508 35456
HKD 0 3232 3435
JPY 157 161 167
KRW 0 16 18
NZD 0 14824 15409
SGD 19889 20171 20705
THB 711 774 838
USD (1,2) 26076 0 0
USD (5,10,20) 26117 0 0
USD (50,100) 26145 26165 26355
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,105 26,135 26,355
EUR 29,794 29,914 31,088
GBP 34,482 34,620 35,622
HKD 3,296 3,309 3,424
CHF 32,542 32,673 33,584
JPY 161.13 161.78 169.02
AUD 17,754 17,825 18,409
SGD 20,118 20,199 20,775
THB 779 782 816
CAD 18,653 18,728 19,293
NZD 14,910 15,438
KRW 16.71 18.33
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26221 26221 26355
AUD 17805 17905 18828
CAD 18660 18760 19776
CHF 32627 32657 34239
CNY 3752.7 3777.7 3912.9
CZK 0 1185 0
DKK 0 4050 0
EUR 29887 29917 31643
GBP 34541 34591 36352
HKD 0 3355 0
JPY 161.24 161.74 172.25
KHR 0 6.097 0
KRW 0 17.1 0
LAK 0 1.165 0
MYR 0 6840 0
NOK 0 2720 0
NZD 0 14990 0
PHP 0 400 0
SEK 0 2790 0
SGD 20087 20217 20939
THB 0 744.8 0
TWD 0 810 0
SJC 9999 16860000 16860000 17160000
SBJ 15000000 15000000 17160000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,145 26,195 26,355
USD20 26,145 26,195 26,355
USD1 23,845 26,195 26,355
AUD 17,834 17,934 19,072
EUR 30,015 30,015 31,464
CAD 18,599 18,699 20,032
SGD 20,145 20,295 21,310
JPY 161.62 163.12 167.88
GBP 34,412 34,762 35,673
XAU 16,858,000 0 17,162,000
CNY 0 3,659 0
THB 0 781 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 29/03/2026 19:30
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80