Sự phân hóa vẫn tiếp tục diễn ra trong kết quả kinh doanh của hệ thống ngân hàng

Thu Hương
(TBTCO) - Theo các chuyên gia, sự phân hoá trong kết quả kinh doanh của các ngân hàng vẫn tiếp diễn trong quý II. Đáng chú ý, tín dụng đã có dấu hiệu cải thiện nhờ các chính sách hỗ trợ từ Chính phủ và Ngân hàng Nhà nước, giúp kỳ vọng lợi nhuận toàn ngành cả năm 2024 tăng trưởng khoảng 15 – 17%.
aa

Ngân hàng cải thiện tín dụng

Theo báo cáo từ Công ty CP Chứng khoán Phú Hưng (PHS), sự phân hóa trong kết quả kinh doanh của ngành ngân hàng tiếp tục diễn ra trong quý II/2024. Điều này đã được dự báo từ quý I khi các chuyên gia nhận định sự phân hóa giữa các tổ chức tín dụng vẫn duy trì rõ nét trong năm nay.

Sự phân hóa vẫn tiếp tục diễn ra trong kết quả kinh doanh của hệ thống ngân hàng
Tăng trưởng tín dụng của các ngân hàng trong nửa đầu năm 2024.

Dù vậy, tín hiệu tích cực đã xuất hiện với tăng trưởng lợi nhuận cải thiện, đặc biệt nhờ vào sự mở rộng biên lãi ròng (NIM) và sự tăng trưởng của các hoạt động ngoài lãi, được hỗ trợ bởi các điều kiện vĩ mô thuận lợi.

Các tổ chức có thế mạnh về cho vay doanh nghiệp và hệ sinh thái rộng lớn ghi nhận mức tăng trưởng tín dụng ấn tượng, trong khi những tổ chức chuyên về mảng bán lẻ gặp nhiều khó khăn hơn. Trong khi đó, những tổ chức có khẩu vị rủi ro thấp lại có mức tăng trưởng thấp hơn cả về tín dụng và lợi nhuận.

Hoạt động cho vay trong quý II cũng ghi nhận sự cải thiện rõ rệt. Theo dữ liệu từ Ngân hàng Nhà nước (NHNN), tăng trưởng tín dụng đã từ mức 1,42% trong quý I nhảy vọt lên 6,1% vào cuối quý II. Tuy nhiên, sự phân hóa giữa các đơn vị trong hoạt động cho vay cũng trở nên ngày càng rõ ràng.

PHS kỳ vọng tăng trưởng tín dụng cho cả năm có thể đạt khoảng 14%, đặc biệt sau khi NHNN thông báo nới hạn mức tín dụng vào cuối tháng 8, mở ra cơ hội lớn cho một số tổ chức tài chính có tiềm năng tận dụng.

Tăng trưởng huy động vốn chậm

Mặc dù lãi suất huy động đã có dấu hiệu tăng nhẹ trong quý II, tốc độ tăng trưởng huy động vốn của hệ thống vẫn khá khiêm tốn, chỉ đạt 1.50% tính đến cuối nửa đầu năm 2024 (so với mức -0.53% của quý I). Một số tổ chức thậm chí ghi nhận sự sụt giảm tiền gửi trong 6 tháng đầu năm.

Sự phân hóa vẫn tiếp tục diễn ra trong kết quả kinh doanh của hệ thống ngân hàng
Lãi suất huy động của các ngân hàng.

Theo PHS, sự yếu kém trong huy động vốn xuất phát từ một số nguyên nhân chính: Hoạt động cho vay gặp nhiều thách thức, với mức tăng trưởng tín dụng đầu năm thấp hơn so với cùng kỳ các năm trước; nhiều tổ chức tín dụng tăng tỷ lệ LDR nhằm tối ưu hóa nguồn vốn trong bối cảnh hiện tại, đặc biệt ở các đơn vị vừa và nhỏ; cùng với áp lực tăng của tỷ giá, dòng tiền rút khỏi Việt Nam diễn ra mạnh mẽ. Ước tính NHNN đã bán ra khoảng 5 tỷ USD, tương đương hơn 130 nghìn tỷ đồng.

Với những dấu hiệu khả quan trong hoạt động sản xuất kinh doanh, triển vọng tín dụng được kỳ vọng sẽ tiếp tục cải thiện, kéo theo đó là xu hướng tăng của lãi suất tiền gửi trong những tháng cuối năm. PHS dự báo, lãi suất tiết kiệm có thể tăng thêm 0,50 – 0,80%, đưa lãi suất kỳ hạn 12 tháng lên mức 5,00 – 5,50%.

Trích lập dự phòng tăng

PHS cũng chỉ ra rằng, phần lớn các tổ chức tín dụng đã gia tăng trích lập dự phòng trong quý II/2024, với chi phí trích lập toàn ngành tăng khoảng 11% so với cùng kỳ năm ngoái. Đây là một trong những nguyên nhân chính khiến lợi nhuận của nhiều đơn vị sụt giảm.

Theo đó, các chuyên gia dự báo, xu hướng trích lập dự phòng sẽ tiếp tục diễn ra mạnh mẽ trong nửa cuối năm khi nợ xấu vẫn là vấn đề đáng lo ngại, đặc biệt đối với các tổ chức tập trung vào mảng bán lẻ. Ước tính tỷ lệ nợ xấu toàn ngành có thể đạt khoảng 2,06% trong năm 2024.

Sự phân hóa trong kết quả kinh doanh của các tổ chức tín dụng cũng ngày càng rõ rệt. Các đơn vị có quy mô vốn lớn đang chiếm ưu thế vượt trội, trong khi những tổ chức có quy mô trung bình và nhỏ lại gặp nhiều thách thức hơn trong hoạt động cho vay, đồng thời chịu áp lực trích lập dự phòng cao hơn do chất lượng tài sản suy giảm.

Dù vậy, với các biện pháp hỗ trợ của Chính phủ và NHNN nhằm thúc đẩy nền kinh tế, kỳ vọng triển vọng của hệ thống tín dụng sẽ tích cực hơn trong thời gian tới, đặc biệt khi áp lực tỷ giá giảm và các chính sách tiền tệ nới lỏng được triển khai hiệu quả.

Trong năm 2024, các chuyên gia kỳ vọng các tổ chức tài chính sẽ tập trung vào kiểm soát chất lượng tài sản, với tăng trưởng lợi nhuận toàn ngành dự kiến ở mức 15 – 17%.

Theo ông Na Sung Soo, Giám đốc điều hành Công ty Chứng khoán Vina (VNSC), dự báo về kết quả kinh doanh quý III của ngành ngân hàng cho thấy tiềm năng phục hồi. Theo công bố từ NHNN, tháng 9, tăng trưởng tín dụng đạt 7,15% và có thể đạt mục tiêu đề ra 14 -15% cho cả năm 2024. Mặc dù tín dụng đã tăng tốc vào tháng 4 nhờ sự phục hồi kinh tế, chủ yếu từ các ngân hàng lớn, các ngân hàng nhỏ vẫn gặp khó khăn trong việc gia tăng tín dụng.

Về biên lợi nhuận lãi suất (NIM), dự kiến sẽ giảm nhẹ trong những tháng cuối năm 2024 do lãi suất tiền gửi tăng lên, trong khi lãi suất cho vay giữ nguyên hoặc giảm nhẹ để thu hút khách hàng. Dù vậy, thu nhập lãi thuần vẫn được kỳ vọng sẽ cải thiện nhờ vào tăng trưởng tín dụng, giúp bù đắp phần nào sự suy giảm của NIM. Tỷ lệ nợ xấu cũng đã suy giảm nhẹ trong quý II năm 2024, nhưng không phải là mối lo ngại đối với toàn bộ hệ thống ngân hàng.

Tổng thể, lợi nhuận ngành ngân hàng được dự báo sẽ cải thiện, với các ngân hàng lớn có khả năng hoạt động tốt hơn nhờ cơ sở khách hàng vững mạnh và tỷ lệ nợ xấu thấp. Trong khi đó, các ngân hàng nhỏ cần theo dõi hiệu suất trong quý tiếp theo. Dựa vào những yếu tố này, có thể kỳ vọng vào hiệu suất tích cực từ các ngân hàng lớn và giữ vị thế trung lập đối với các ngân hàng nhỏ hơn.

Thu Hương

Đọc thêm

Thị trường bảo hiểm nhân thọ đang dịch chuyển từ cách tiếp cận cảm tính sang lựa chọn dựa trên nhu cầu thực tế

Thị trường bảo hiểm nhân thọ đang dịch chuyển từ cách tiếp cận cảm tính sang lựa chọn dựa trên nhu cầu thực tế

(TBTCO) - Báo cáo Nghiên cứu dư luận xã hội và Chính sách tiếp cận cộng đồng trong bảo hiểm nhân thọ do Hiệp hội Bảo hiểm Việt Nam công bố cho thấy, có tới 80% người dân trong nhóm chưa sở hữu bảo hiểm nhân thọ dự định mua trong 12 tháng tới. Điều này cho thấy tiềm năng của thị trường còn lớn, tuy nhiên, cách tiếp cận bảo hiểm của người dân đang có nhiều thay đổi.
Thị trường bảo hiểm nhân thọ "sáng dần", song nhiều doanh nghiệp lợi nhuận vẫn "rùa bò"

Thị trường bảo hiểm nhân thọ "sáng dần", song nhiều doanh nghiệp lợi nhuận vẫn "rùa bò"

(TBTCO) - Thị trường bảo hiểm nhân thọ lấy lại đà tăng trưởng dương từ năm 2025 và kỳ vọng đón kết quả khả quan trong năm nay. Tuy nhiên, phía sau đà tăng tích cực đó vẫn còn những khoảng lặng đến từ sự sụt giảm doanh thu, lợi nhuận, thậm chí báo lỗ tại một số doanh nghiệp.
“Cuộc đua” sức khỏe thương hiệu ngành tài chính tiêu dùng trong thế bám đuổi

“Cuộc đua” sức khỏe thương hiệu ngành tài chính tiêu dùng trong thế bám đuổi

(TBTCO) - Mibrand Vietnam vừa công bố Bảng xếp hạng sức khỏe thương hiệu tài chính tiêu dùng Việt Nam 2025. Dữ liệu cho thấy, nhóm thương hiệu dẫn đầu chưa tạo ra khoảng cách quá lớn về điểm số. "Cuộc đua" giữa các doanh nghiệp dịch chuyển sang niềm tin, chất lượng dịch vụ và khả năng tối ưu trải nghiệm khách hàng sau vay.
Việt Nam và Lào ký kết hợp tác về bảo hiểm xã hội giai đoạn 2026 - 2028

Việt Nam và Lào ký kết hợp tác về bảo hiểm xã hội giai đoạn 2026 - 2028

(TBTCO) - Ngày 27/5, tại Hà Nội, Bảo hiểm xã hội Việt Nam và Cơ quan Bảo hiểm xã hội Quốc gia Lào đã ký kết Biên bản Ghi nhớ hợp tác giai đoạn 2026 - 2028.
VIS Rating lo ngại thanh khoản thắt chặt, nợ xấu tăng khiến ngân hàng thêm áp lực

VIS Rating lo ngại thanh khoản thắt chặt, nợ xấu tăng khiến ngân hàng thêm áp lực

(TBTCO) - Theo VIS Rating, điều kiện huy động tiếp tục thắt chặt, với tăng trưởng tiền gửi toàn hệ thống chỉ đạt 0,6%, trong bối cảnh nợ xấu gia tăng, lãi suất và đòn bẩy cao kéo dài đang tạo áp lực lên ngành ngân hàng. Từ đó, xu hướng thu hẹp NIM và chi phí tín dụng gia tăng dự kiến sẽ tiếp diễn.
Trải nghiệm khách hàng là thước đo chất lượng ngân hàng

Trải nghiệm khách hàng là thước đo chất lượng ngân hàng

(TBTCO) - Các ngân hàng đang tăng tốc chuyển đổi số với nhiều sáng kiến, nhằm nâng cao trải nghiệm khách hàng và tối ưu chi phí vận hành. Việc đẩy mạnh ứng dụng công nghệ cũng góp phần kéo giảm mạnh tỷ lệ CIR. Hiện nhiều tổ chức tín dụng đã có trên 90% giao dịch thực hiện qua kênh số.
Tín dụng tại TP. Hồ Chí Minh và Đồng Nai chảy mạnh vào khu vực sản xuất

Tín dụng tại TP. Hồ Chí Minh và Đồng Nai chảy mạnh vào khu vực sản xuất

(TBTCO) - Trong 4 tháng đầu năm 2026, dòng vốn tín dụng tại TP. Hồ Chí Minh và Đồng Nai tiếp tục chảy mạnh vào các lĩnh vực sản xuất, công nghiệp chế biến, nông nghiệp và thương mại. Đây cũng là nhóm ngành đang có nhu cầu vốn lớn nhất tại khu vực phía Nam.
Cả nước có 21,73 triệu người tham gia bảo hiểm xã hội

Cả nước có 21,73 triệu người tham gia bảo hiểm xã hội

(TBTCO) - Theo số liệu mới được Bảo hiểm xã hội Việt Nam công bố, tính đến hết tháng 4/2026, cả nước có 21,73 triệu người tham gia bảo hiểm xã hội, tăng 182.000 người so với tháng 3/2026 và tăng 206.000 người so với năm 2025.
Xem thêm

Mới nhất Đọc nhiều

DOJI Giá mua Giá bán
SJC -Bán Lẻ 15,450 ▼320K 15,750 ▼320K
Kim TT/AVPL 15,450 ▼320K 15,750 ▼320K
NHẪN TRÒN 9999 HƯNG THỊNH VƯỢNG 15,450 ▼300K 15,750 ▼300K
Nguyên Liệu 99.99 14,400 ▼400K 14,600 ▼400K
Nguyên Liệu 99.9 14,350 ▼400K 14,550 ▼400K
NỮ TRANG 9999 - BÁN LẺ 15,000 ▼500K 15,400 ▼500K
NỮ TRANG 999 - BÁN LẺ 14,950 ▼500K 15,350 ▼500K
Nữ trang 99 - Bán Lẻ 14,880 ▼500K 15,330 ▼500K
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 154,500 ▼3000K 157,500 ▼3000K
Hà Nội - PNJ 154,500 ▼3000K 157,500 ▼3000K
Đà Nẵng - PNJ 154,500 ▼3000K 157,500 ▼3000K
Miền Tây - PNJ 154,500 ▼3000K 157,500 ▼3000K
Tây Nguyên - PNJ 154,500 ▼3000K 157,500 ▼3000K
Đông Nam Bộ - PNJ 154,500 ▼3000K 157,500 ▼3000K
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 15,450 ▼320K 15,750 ▼320K
Miếng SJC Nghệ An 15,450 ▼320K 15,750 ▼320K
Miếng SJC Thái Bình 15,450 ▼320K 15,750 ▼320K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 15,450 ▼300K 15,750 ▼300K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 15,450 ▼300K 15,750 ▼300K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 15,450 ▼300K 15,750 ▼300K
NL 99.90 14,050 ▼400K
NL 99.99, Nhẫn Tròn Thái Bình 14,100 ▼400K
Trang sức 99.9 14,940 ▼300K 15,640 ▼300K
Trang sức 99.99 14,950 ▼300K 15,650 ▼300K
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,545 ▼32K 1,575 ▼32K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,545 ▼32K 15,752 ▼320K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,545 ▼32K 15,753 ▼320K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,543 ▼29K 1,573 ▼29K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,543 ▼29K 1,574 ▼29K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,523 ▼29K 1,558 ▼29K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 147,757 ▼2872K 154,257 ▼2872K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 108,112 ▼2175K 117,012 ▼2175K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 97,205 ▼1972K 106,105 ▼1972K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 86,298 ▼1769K 95,198 ▼1769K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 8,209 ▼75572K 9,099 ▼83582K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 56,225 ▼1210K 65,125 ▼1210K
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,545 ▼32K 1,575 ▼32K
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,545 ▼32K 1,575 ▼32K
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,545 ▼32K 1,575 ▼32K
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,545 ▼32K 1,575 ▼32K
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,545 ▼32K 1,575 ▼32K
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,545 ▼32K 1,575 ▼32K
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,545 ▼32K 1,575 ▼32K
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,545 ▼32K 1,575 ▼32K
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,545 ▼32K 1,575 ▼32K
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,545 ▼32K 1,575 ▼32K
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,545 ▼32K 1,575 ▼32K
Cập nhật: 28/05/2026 21:00
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 18204 18479 19055
CAD 18451 18728 19341
CHF 32696 33080 33724
CNY 0 3842 3934
EUR 29936 30209 31234
GBP 34453 34845 35779
HKD 0 3230 3432
JPY 158 162 168
KRW 0 16 18
NZD 0 15196 15781
SGD 20034 20317 20838
THB 720 783 837
USD (1,2) 26060 0 0
USD (5,10,20) 26101 0 0
USD (50,100) 26130 26144 26393
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,123 26,123 26,393
USD(1-2-5) 25,079 - -
USD(10-20) 25,079 - -
EUR 30,109 30,133 31,438
JPY 160.85 161.14 170.12
GBP 34,719 34,813 35,866
AUD 18,440 18,507 19,123
CAD 18,685 18,745 19,353
CHF 33,064 33,167 33,992
SGD 20,193 20,256 20,964
CNY - 3,815 3,943
HKD 3,300 3,310 3,434
KRW 16.17 16.86 18.27
THB 769.62 779.13 830.62
NZD 15,191 15,332 15,721
SEK - 2,789 2,875
DKK - 4,029 4,154
NOK - 2,795 2,881
LAK - 0.92 1.27
MYR 6,196.93 - 6,964.34
TWD 757.3 - 913.52
SAR - 6,909.35 7,246.42
KWD - 83,685 88,661
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,143 26,163 26,393
EUR 30,055 30,176 31,355
GBP 34,718 34,857 35,863
HKD 3,296 3,309 3,424
CHF 32,867 32,999 33,927
JPY 161.30 161.95 169.23
AUD 18,440 18,514 19,103
SGD 20,260 20,341 20,922
THB 787 790 825
CAD 18,686 18,761 19,326
NZD 15,304 15,838
KRW 16.80 18.43
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26171 26171 26393
AUD 18395 18495 19420
CAD 18635 18735 19749
CHF 32958 32988 34567
CNY 3822.4 3847.4 3982.7
CZK 0 1220 0
DKK 0 4140 0
EUR 30127 30157 31882
GBP 34768 34818 36575
HKD 0 3355 0
JPY 161.62 162.12 172.65
KHR 0 6.097 0
KRW 0 17 0
LAK 0 1.165 0
MYR 0 6920 0
NOK 0 2850 0
NZD 0 15310 0
PHP 0 400 0
SEK 0 2840 0
SGD 20196 20326 21054
THB 0 750.2 0
TWD 0 820 0
SJC 9999 15450000 15450000 15750000
SBJ 14000000 14000000 15750000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,158 26,208 26,393
USD20 26,158 26,208 26,393
USD1 23,881 26,208 26,393
AUD 18,464 18,564 19,799
EUR 30,291 30,291 31,725
CAD 18,609 18,709 20,025
SGD 20,288 20,438 21,012
JPY 161.99 163.49 170.2
GBP 34,698 35,048 35,943
XAU 15,768,000 0 16,072,000
CNY 0 3,734 0
THB 0 788 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 28/05/2026 21:00
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80