Tăng trưởng tín dụng chưa thể “thả phanh” trong năm 2023

Chí Tín
(TBTCO) - Những căng thẳng về lãi suất và tỷ giá đã dịu hơn vào giai đoạn cuối năm 2022, nhưng những biến động trên thị trường tài chính quốc tế trước thềm năm mới 2023 tiềm ẩn nguy cơ khó dự đoán. Trong khi đó, tín dụng ngân hàng chiếm tỷ trọng lớn trong cơ cấu GDP, cũng như yêu cầu an toàn hệ thống vẫn là áp lực lớn cho việc hoạch định kế hoạch tăng trưởng tín dụng trong năm 2023.
aa

Lãi suất tỷ giá đã dịu, nhưng còn nguy cơ tiềm ẩn

Theo Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN), tính đến cuối tháng 12/2022, tăng trưởng tín dụng đạt khoảng hơn 13%. Đây có thể coi là một tỷ lệ tăng trưởng khá hợp lý, khá sát với mục tiêu tăng trưởng đã được NHNN hoạch định hồi đầu năm 2022 là 14%.

Phó Thống đốc thường trực NHNN Đào Minh Tú cho biết, 2022 là năm có nhiều khác biệt so với mọi năm, trong điều hành vĩ mô nói chung và với ngành Ngân hàng nói riêng. Nền kinh tế vừa trải qua hai năm khó khăn do đại dịch Covid-19, gây ra tác động không nhỏ tới đời sống kinh tế - xã hội, hoạt động sản xuất kinh doanh của người dân.

Trong khi đó, các yếu tố từ bên ngoài cũng có những tác động bất ngờ với thị trường tiền tệ trong nước. Những động thái quốc tế đáng chú ý nhất trong năm qua là xung đột Nga – Ucraina và động thái tăng lãi suất liên tục của Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (FED). Theo đó, chính sách tiền tệ của Mỹ và nhiều nền kinh tế lớn trên thế giới đã “quay ngoắt” 180 độ, từ chính sách nới lỏng trong giai đoạn dịch Covid-19 sang chính sách thắt chặt mạnh tay để kiểm soát lạm phát. Trong đó, FED đã 7 lần tăng lãi suất liên tục và tất cả những biến động kinh tế vĩ mô toàn cầu như vậy đều đã tác động lớn đến kinh tế và thị trường tiền tệ Việt Nam.

Với bối cảnh như trên, Việt Nam vẫn giữ nguyên được các mức lãi suất điều hành trong vòng hơn 8 tháng của năm 2022. Tuy nhiên trong 2 tháng liên tục sau đó (tháng 9 và tháng 10), NHNN đã 2 lần điều chỉnh các mức lãi suất điều hành với tổng mức tăng 2%/năm và lãi suất tiền gửi tối đa bằng VND kỳ hạn dưới 6 tháng tại tổ chức tín dụng (TCTD), với tổng mức tăng 0,8 - 2%/năm; tăng 1%/năm lãi suất cho vay tối đa bằng VND đối với một số lĩnh vực ưu tiên.

Theo đánh giá của ông Phùng Trung Kiên - Giám đốc Phân tích Công ty chứng khoán AIS, động thái tăng lãi suất điều hành của NHNN không phải chỉ là việc chịu sức ép từ xu hướng tăng lãi suất chung mà còn bởi áp lực từ tỷ giá. Tỷ giá VND/USD liên tục tăng từ đầu năm 2022 và đặc biệt, tốc độ tăng tỷ giá ngày một “nóng” kể từ giữa năm 2022. Trong bối cảnh này, NHNN mặc dù khẳng định vẫn đảm bảo nguồn cung ngoại tệ cho các doanh nghiệp và người dân có nhu cầu, nhưng tâm lý găm giữ ngoại tệ trong một số doanh nghiệp và người dân đã bắt đầu xuất hiện. Trong bối cảnh này, NHNN cũng đã có một quyết định khá mạnh tay đưa ra hồi giữa tháng 10/2022 là nới biên độ tỷ giá giao ngay VND/USD từ 3% lên 5%. Quyết định này của NHNN đưa ra trong bối cảnh nguồn cung ngoại tệ vẫn đảm bảo khá tốt, nhờ lợi thế xuất siêu của nền kinh tế và giải ngân đầu tư nước ngoài vẫn gia tăng nên đã giải tỏa tâm lý găm giữ ngoại tệ, nhờ đó tỷ giá dịu dần trong giai đoạn sau đó.

Ứng dụng công nghệ là một trong những giải pháp được giới ngân hàng đặt nhiều kỳ vọng để giảm chi phí.
Ứng dụng công nghệ là một trong những giải pháp được giới ngân hàng đặt nhiều kỳ vọng để giảm chi phí.

Trong khi đó, lãi suất vào những ngày cuối năm cũng đã dần đi vào ổn định và có phần hạ nhiệt hơn so với thời kỳ tăng nóng. Lãi suất liên ngân hàng kỳ hạn qua đêm cuối tháng 12 đã giảm xuống mức rất thấp với chỉ 3,25%; kỳ hạn 1 tuần cũng chỉ còn khoảng 4,91%. Đây là mức lãi suất thấp hơn khá nhiều so với mức 6,34% và trên 7% của hai kỳ hạn này giai đoạn đầu tháng 11. Lãi suất liên ngân hàng hạ nhiệt một phần nhờ sự đồng thuận tốt hơn giữa các ngân hàng với nhau, thông qua một số cuộc họp của các thành viên Hiệp hội Ngân hàng Việt Nam diễn ra trong tháng 12/2022. Đồng thời, NHNN cũng đã có những động thái hỗ trợ thanh khoản thông qua thị trường mở và những khuyến cáo hạ lãi suất được đưa ra liên tục vào cuối năm.

Tín dụng chưa thể “thả lỏng”

Một số tín hiệu tích cực về lãi suất, tỷ giá, tốc độ tăng trưởng tín dụng hợp lý… đã xuất hiện vào cuối năm 2022; tuy nhiên, những yếu tố bất ổn từ bên ngoài và bên trong vẫn còn tiềm ẩn.

Một trong những thông điệp được đại diện NHNN đưa ra mới đây cho thấy, NHNN vẫn giữ quan điểm không “hào phóng” trong việc cấp chỉ tiêu tăng trưởng tín dụng trong năm 2023. Ông Phạm Chí Quang - Vụ trưởng Vụ Chính sách tiền tệ thuộc NHNN cho biết, khi nhìn sâu vào cấu trúc của kinh tế Việt Nam với quy mô tín dụng so với GDP, rất nhiều tổ chức quốc tế luôn cảnh báo về an toàn hệ thống. Trong khi đó, tín dụng nếu chỉ cần cứ duy trì tốc độ khoảng 12 – 14%/năm thôi thì tốc độ cũng đã luôn gấp khoảng 2 lần so với tăng trưởng GDP. Điều này đồng nghĩa tỷ trọng tín dụng ngân hàng/GDP sẽ vẫn còn tiếp tục tăng lên theo từng năm. “Đây là một trong những yếu tố NHNN luôn phải cân nhắc, một mặt luôn hỗ trợ nền kinh tế, nhưng phải kiểm soát được rủi ro” - ông Quang nói.

Nhìn vào diễn biến chung về lãi suất và tỷ giá trong thời gian tới, đại diện NHNN cho biết thêm, các động thái tăng lãi suất của FED tuy đã chậm lại nhưng sẽ vẫn còn tiếp diễn đến hết năm 2023, nên xu hướng chung trên thế giới về lãi suất là vẫn còn tiếp tục tăng. Do đó, Việt Nam sẽ còn đối mặt với rất nhiều khó khăn nếu muốn đi ngược lại với dòng chảy chung. Mặc dù vậy, NHNN cho biết sẽ tham mưu, chỉ đạo các TCTD tiết giảm chi phí để cố gắng giảm lãi suất nếu có thể.

Việt Nam ra khỏi danh sách giám sát về thao túng tiền tệ

Một trong những thông tin đáng chú ý liên quan đến hoạt động tiền tệ trong năm 2022 là việc Bộ Tài chính Mỹ đã đưa Việt Nam ra khỏi Danh sách giám sát về thao túng tiền tệ. Nội dung này được công bố trong trong Báo cáo về “Chính sách kinh tế vĩ mô và ngoại hối của các đối tác thương mại lớn của Mỹ” đưa ra hồi tháng 11/2022.

Báo cáo này cũng có nhiều đánh giá tích cực công tác điều hành chính sách tiền tệ, tỷ giá của Ngân hàng Nhà nước trong bối cảnh kinh tế toàn cầu vẫn đang đối mặt với nhiều khó khăn, thách thức.

Một trong những kỳ vọng mà các ngân hàng đặt ra là đẩy mạnh ứng dụng công nghệ, tăng tỷ trọng thanh toán không dùng tiền mặt để giảm chi phí, tạo cơ sở cho việc giảm lãi suất. Thực tế việc ứng dụng công nghệ đã cho thấy một số kết quả nhất định. Ông Nguyễn Hưng - Tổng giám đốc Ngân hàng TPBank cho biết, việc áp dụng các công nghệ hiện đại đã giúp TPBank giảm được khoảng 30% chi phí hoạt động. Với khoảng 95% giao dịch được xử lý qua kênh số, TPBank đang áp dụng LiveBank - điểm giao dịch ngân hàng tự động cho phép khách hàng gửi hoặc chuyển tiền, mở thẻ lấy ngay bằng công nghệ nhận diện bằng khuôn mặt, vân tay. Theo Tổng giám đốc TPBank, với gần 500 LiveBank đang hoạt động trên cả nước, số lượng khách hàng của TPBank dự kiến sẽ tăng từ khoảng 8 triệu trong năm nay lên 10 triệu trong năm tới.

Về phía NHNN, cơ quan này cho biết vừa qua cũng đã hoàn thành thử nghiệm kỹ thuật kết nối Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư phục vụ công tác phòng chống rửa tiền, thông tin tín dụng và dịch vụ công NHNN. Bên cạnh đó, hầu hết các TCTD đã, đang hoặc dự tính xây dựng, triển khai Chiến lược chuyển đổi số; gia tăng các ứng dụng công nghệ của cách mạng công nghiệp 4.0 nhằm tối ưu hóa, đơn giản hóa quy trình nghiệp vụ, nâng cao hiệu quả hoạt động và trải nghiệm giao dịch khách hàng trong hoạt động thanh toán. Kết quả sơ bộ đến nay cho thấy, hoạt động thanh toán không dùng tiền mặt trong 11 tháng của năm 2022 tăng 85,6% về số lượng và 31,39% về giá trị so với cùng kỳ năm 2021.

Gia tăng yêu cầu an toàn cho các kênh thanh toán

Việc đẩy mạnh ứng dụng công nghệ là một trong những giải pháp được giới ngân hàng đặt nhiều kỳ vọng để giảm chi phí, qua đó giảm mặt bằng lãi suất, nhưng yêu cầu về an toàn cho hoạt động thanh toán cũng đặt ra một thách thức lớn.

Ngân hàng Nhà nước cho biết đang thường xuyên theo dõi, chỉ đạo các tổ chức cung ứng dịch vụ thanh toán, dịch vụ trung gian thanh toán tăng cường các biện pháp đảm bảo an ninh, an toàn trong hoạt động thanh toán. Trong đó, các ngân hàng được khuyến nghị cần thường xuyên thực hiện các chương trình truyền thông giáo dục tài chính, phổ cập toàn diện các thông tin, quy định liên quan đến doanh nghiệp, cá nhân nhằm nâng cao kĩ năng sử dụng dịch vụ ngân hàng…

Chí Tín

Đọc thêm

Ngân hàng Phát triển Việt Nam: 20 năm kiến tạo động lực tăng trưởng kinh tế - xã hội đất nước

Ngân hàng Phát triển Việt Nam: 20 năm kiến tạo động lực tăng trưởng kinh tế - xã hội đất nước

(TBTCO) - “Mỗi giai đoạn hình thành và phát triển của Ngân hàng Phát triển Việt Nam (VDB) đều mang dấu ấn riêng, phản ánh những nỗ lực không ngừng trong việc thực hiện sứ mệnh đồng hành cùng đất nước” - đó là chia sẻ của Tổng Giám đốc VDB Đào Quang Trường với phóng viên Báo Tài chính - Đầu tư về chặng đường 20 năm hình thành và phát triển.
VDB và hành trình làm “đòn bẩy” cho các dự án trọng điểm quốc gia

VDB và hành trình làm “đòn bẩy” cho các dự án trọng điểm quốc gia

(TBTCO) - Trong suốt 20 năm qua, Ngân hàng Phát triển Việt Nam (VDB) đã phát huy hiệu quả vai trò là công cụ điều tiết và dẫn dắt dòng vốn đầu tư vào các lĩnh vực ưu tiên, góp phần tạo lập nguồn lực cho nền kinh tế và thúc đẩy phát triển thị trường vốn, đặc biệt là thị trường vốn trung và dài hạn.
Doanh nghiệp bảo hiểm tìm động lực tăng trưởng mới

Doanh nghiệp bảo hiểm tìm động lực tăng trưởng mới

(TBTCO) - Thị trường bảo hiểm phi nhân thọ tiếp đà tăng tích cực 9,88%, với doanh thu phí gốc ước đạt 16.140 tỷ đồng hai tháng đầu năm và ghi nhận nhiều biến động đáng chú ý về tốc độ tăng trưởng, cũng như cục diện thị phần giữa các doanh nghiệp. Hiện nhiều doanh nghiệp đang chuyển dịch cơ cấu nghiệp vụ, tìm động lực tăng trưởng mới trong bảo hiểm kỹ thuật, dự án.
Fubon Life Việt Nam lần thứ 11 được vinh danh tại Giải thưởng Rồng Vàng 2025 - 2026

Fubon Life Việt Nam lần thứ 11 được vinh danh tại Giải thưởng Rồng Vàng 2025 - 2026

(TBTCO) - Công ty TNHH Bảo hiểm Nhân thọ Fubon Việt Nam (Fubon Life Việt Nam) tiếp tục khẳng định vị thế và uy tín trên thị trường bảo hiểm nhân thọ khi lần thứ 11 liên tiếp được vinh danh tại Giải thưởng Rồng Vàng 2025 - 2026 do Tạp chí Kinh tế Việt Nam/VnEconomy tổ chức và bình chọn.
Tỷ giá USD hôm nay (15/5): Tỷ giá trung tâm nhích tăng, DXY vượt 99 điểm neo đỉnh hai tuần

Tỷ giá USD hôm nay (15/5): Tỷ giá trung tâm nhích tăng, DXY vượt 99 điểm neo đỉnh hai tuần

(TBTCO) - Sáng ngày 15/5, tỷ giá trung tâm ở mức 25.131 đồng, tăng 5 đồng. Chỉ số DXY tăng 0,2% lên 99,02 điểm, neo vùng cao nhất khoảng hai tuần gần đây khi giới đầu tư theo dõi sát cuộc gặp lãnh đạo Mỹ - Trung Quốc; đồng thời, lo ngại nguy cơ sai lầm chính sách tiền tệ toàn cầu và khả năng đảo chiều các giao dịch “carry trade” khi Nhật Bản tăng lãi suất.
Thanh khoản căng thẳng đẩy LDR áp sát 100%, lợi thế nghiêng về ngân hàng có khả năng huy động vốn tốt

Thanh khoản căng thẳng đẩy LDR áp sát 100%, lợi thế nghiêng về ngân hàng có khả năng huy động vốn tốt

Theo đánh giá của SSI Research, bức tranh huy động vốn ngành ngân hàng kém tích cực trong quý I/2026, tỷ lệ dư nợ cho vay trên tổng tiền gửi (LDR) tại các ngân hàng trong phạm vi theo dõi tiệm cận 100%, cạnh tranh huy động gay gắt khiến biên lãi ròng (NIM) co hẹp. Hạn mức tín dụng không còn là yếu tố quyết định duy nhất, mà khả năng huy động vốn trở thành yếu tố phân hóa then chốt.
Mastercard và MDP công bố hợp tác chiến lược

Mastercard và MDP công bố hợp tác chiến lược

(TBTCO) - Mastercard và Công ty cổ phần Thanh toán số - MDP chính thức công bố hợp tác chiến lược nhằm nâng cấp hạ tầng tài chính và thúc đẩy các sáng kiến về thanh toán số. Sự kiện đánh dấu bước đi quan trọng trong việc đón đầu nhu cầu chuyển đổi số thông qua cung ứng các giải pháp thanh toán bảo mật, theo thời gian thực (real-time payment), đảm bảo kết nối thông suốt giữa mạng lưới thanh toán nội địa của Việt Nam và hệ thống thanh toán toàn cầu của Mastercard, tạo động lực tăng trưởng bền vững cho nền kinh tế số quốc gia.
Tỷ giá USD hôm nay (14/5): USD tự do áp về sát ngân hàng, DXY lấy lại đà tăng khi Fed sắp có tân Chủ tịch

Tỷ giá USD hôm nay (14/5): USD tự do áp về sát ngân hàng, DXY lấy lại đà tăng khi Fed sắp có tân Chủ tịch

(TBTCO) - Sáng ngày 14/5, tỷ giá trung tâm ở mức 25.126 đồng, tăng 3 đồng; USD tự do giao dịch quanh 26.370 - 26.400 VND/USD và thu hẹp đáng kể chênh lệch bán ra với ngân hàng thương mại. Chỉ số DXY ở mức 98,46 điểm, phục hồi đáng kể nhờ dữ liệu lạm phát Mỹ vượt dự báo, củng cố kỳ vọng Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed) sẽ duy trì lãi suất cao lâu hơn dưới thời tân Chủ tịch Kevin Warsh.
Xem thêm

Mới nhất Đọc nhiều

DOJI Giá mua Giá bán
SJC -Bán Lẻ 16,050 ▼150K 16,350 ▼150K
Kim TT/AVPL 16,050 ▼150K 16,350 ▼150K
NHẪN TRÒN 9999 HƯNG THỊNH VƯỢNG 16,050 ▼150K 16,350 ▼150K
Nguyên Liệu 99.99 15,200 ▼100K 15,400 ▼100K
Nguyên Liệu 99.9 15,150 ▼100K 15,350 ▼100K
NỮ TRANG 9999 - BÁN LẺ 15,800 ▼200K 16,200 ▼200K
NỮ TRANG 999 - BÁN LẺ 15,750 ▼200K 16,150 ▼200K
Nữ trang 99 - Bán Lẻ 15,680 ▼200K 16,130 ▼200K
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 161,000 ▼1000K 164,000 ▼1000K
Hà Nội - PNJ 161,000 ▼1000K 164,000 ▼1000K
Đà Nẵng - PNJ 161,000 ▼1000K 164,000 ▼1000K
Miền Tây - PNJ 161,000 ▼1000K 164,000 ▼1000K
Tây Nguyên - PNJ 161,000 ▼1000K 164,000 ▼1000K
Đông Nam Bộ - PNJ 161,000 ▼1000K 164,000 ▼1000K
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 16,050 ▼150K 16,350 ▼150K
Miếng SJC Nghệ An 16,050 ▼150K 16,350 ▼150K
Miếng SJC Thái Bình 16,050 ▼150K 16,350 ▼150K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 16,050 ▼150K 16,350 ▼150K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 16,050 ▼150K 16,350 ▼150K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 16,050 ▼150K 16,350 ▼150K
NL 99.90 14,800 ▼250K
NL 99.99, Nhẫn Tròn Thái Bình 14,850 ▼250K
Trang sức 99.9 15,540 ▼150K 16,240 ▼150K
Trang sức 99.99 15,550 ▼150K 16,250 ▼150K
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 161 ▼1K 164 ▼1K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 161 ▼1K 16,402 ▼100K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 161 ▼1K 16,403 ▼100K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,608 ▼10K 1,638 ▼10K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,608 ▼10K 1,639 ▼10K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,588 ▼10K 1,623 ▼10K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 154,193 ▼990K 160,693 ▼990K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 112,987 ▼750K 121,887 ▼750K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 101,625 ▼680K 110,525 ▼680K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 90,263 ▼610K 99,163 ▼610K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 8,588 ▼77875K 9,478 ▼85885K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 58,936 ▼417K 67,836 ▼417K
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 161 ▼1K 164 ▼1K
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 161 ▼1K 164 ▼1K
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 161 ▼1K 164 ▼1K
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 161 ▼1K 164 ▼1K
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 161 ▼1K 164 ▼1K
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 161 ▼1K 164 ▼1K
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 161 ▼1K 164 ▼1K
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 161 ▼1K 164 ▼1K
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 161 ▼1K 164 ▼1K
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 161 ▼1K 164 ▼1K
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 161 ▼1K 164 ▼1K
Cập nhật: 15/05/2026 18:00
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 18299 18575 19156
CAD 18626 18903 19519
CHF 32873 33258 33895
CNY 0 3828 3920
EUR 30009 30283 31308
GBP 34381 34773 35704
HKD 0 3235 3437
JPY 159 163 169
KRW 0 16 18
NZD 0 15094 15681
SGD 20045 20328 20854
THB 722 786 839
USD (1,2) 26086 0 0
USD (5,10,20) 26128 0 0
USD (50,100) 26156 26176 26387
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,137 26,137 26,387
USD(1-2-5) 25,092 - -
USD(10-20) 25,092 - -
EUR 30,226 30,250 31,536
JPY 162.13 162.42 171.38
GBP 34,641 34,735 35,763
AUD 18,582 18,649 19,254
CAD 18,864 18,925 19,525
CHF 33,206 33,309 34,128
SGD 20,231 20,294 20,992
CNY - 3,810 3,936
HKD 3,306 3,316 3,438
KRW 16.23 16.93 18.32
THB 773.31 782.86 833.96
NZD 15,150 15,291 15,666
SEK - 2,756 2,839
DKK - 4,045 4,166
NOK - 2,788 2,875
LAK - 0.92 1.27
MYR 6,251.56 - 7,023.92
TWD 755.84 - 911.05
SAR - 6,921.22 7,253.27
KWD - 83,938 88,860
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,127 26,147 26,387
EUR 30,132 30,253 31,433
GBP 34,618 34,757 35,761
HKD 3,294 3,307 3,422
CHF 32,980 33,112 34,046
JPY 162.31 162.96 170.32
AUD 18,625 18,700 19,292
SGD 20,269 20,350 20,932
THB 791 794 829
CAD 18,826 18,902 19,474
NZD 15,270 15,803
KRW 16.85 18.49
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26207 26207 26387
AUD 18486 18586 19514
CAD 18814 18914 19929
CHF 33126 33156 34735
CNY 3809.5 3834.5 3969.8
CZK 0 1220 0
DKK 0 4140 0
EUR 30198 30228 31954
GBP 34689 34739 36497
HKD 0 3355 0
JPY 162.76 163.26 173.77
KHR 0 6.097 0
KRW 0 17.1 0
LAK 0 1.165 0
MYR 0 6920 0
NOK 0 2850 0
NZD 0 15204 0
PHP 0 400 0
SEK 0 2840 0
SGD 20208 20338 21066
THB 0 752 0
TWD 0 820 0
SJC 9999 16100000 16100000 16400000
SBJ 14000000 14000000 16400000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,181 26,231 26,387
USD20 26,181 26,231 26,387
USD1 23,875 26,231 26,387
AUD 18,520 18,620 19,725
EUR 30,333 30,333 31,742
CAD 18,756 18,856 20,162
SGD 20,279 20,429 20,989
JPY 163.22 164.72 169.26
GBP 34,542 34,892 35,748
XAU 16,098,000 0 16,402,000
CNY 0 3,719 0
THB 0 788 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 15/05/2026 18:00
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80