Tăng trưởng tín dụng chưa thể “thả phanh” trong năm 2023

Chí Tín
(TBTCO) - Những căng thẳng về lãi suất và tỷ giá đã dịu hơn vào giai đoạn cuối năm 2022, nhưng những biến động trên thị trường tài chính quốc tế trước thềm năm mới 2023 tiềm ẩn nguy cơ khó dự đoán. Trong khi đó, tín dụng ngân hàng chiếm tỷ trọng lớn trong cơ cấu GDP, cũng như yêu cầu an toàn hệ thống vẫn là áp lực lớn cho việc hoạch định kế hoạch tăng trưởng tín dụng trong năm 2023.
aa

Lãi suất tỷ giá đã dịu, nhưng còn nguy cơ tiềm ẩn

Theo Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN), tính đến cuối tháng 12/2022, tăng trưởng tín dụng đạt khoảng hơn 13%. Đây có thể coi là một tỷ lệ tăng trưởng khá hợp lý, khá sát với mục tiêu tăng trưởng đã được NHNN hoạch định hồi đầu năm 2022 là 14%.

Phó Thống đốc thường trực NHNN Đào Minh Tú cho biết, 2022 là năm có nhiều khác biệt so với mọi năm, trong điều hành vĩ mô nói chung và với ngành Ngân hàng nói riêng. Nền kinh tế vừa trải qua hai năm khó khăn do đại dịch Covid-19, gây ra tác động không nhỏ tới đời sống kinh tế - xã hội, hoạt động sản xuất kinh doanh của người dân.

Trong khi đó, các yếu tố từ bên ngoài cũng có những tác động bất ngờ với thị trường tiền tệ trong nước. Những động thái quốc tế đáng chú ý nhất trong năm qua là xung đột Nga – Ucraina và động thái tăng lãi suất liên tục của Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (FED). Theo đó, chính sách tiền tệ của Mỹ và nhiều nền kinh tế lớn trên thế giới đã “quay ngoắt” 180 độ, từ chính sách nới lỏng trong giai đoạn dịch Covid-19 sang chính sách thắt chặt mạnh tay để kiểm soát lạm phát. Trong đó, FED đã 7 lần tăng lãi suất liên tục và tất cả những biến động kinh tế vĩ mô toàn cầu như vậy đều đã tác động lớn đến kinh tế và thị trường tiền tệ Việt Nam.

Với bối cảnh như trên, Việt Nam vẫn giữ nguyên được các mức lãi suất điều hành trong vòng hơn 8 tháng của năm 2022. Tuy nhiên trong 2 tháng liên tục sau đó (tháng 9 và tháng 10), NHNN đã 2 lần điều chỉnh các mức lãi suất điều hành với tổng mức tăng 2%/năm và lãi suất tiền gửi tối đa bằng VND kỳ hạn dưới 6 tháng tại tổ chức tín dụng (TCTD), với tổng mức tăng 0,8 - 2%/năm; tăng 1%/năm lãi suất cho vay tối đa bằng VND đối với một số lĩnh vực ưu tiên.

Theo đánh giá của ông Phùng Trung Kiên - Giám đốc Phân tích Công ty chứng khoán AIS, động thái tăng lãi suất điều hành của NHNN không phải chỉ là việc chịu sức ép từ xu hướng tăng lãi suất chung mà còn bởi áp lực từ tỷ giá. Tỷ giá VND/USD liên tục tăng từ đầu năm 2022 và đặc biệt, tốc độ tăng tỷ giá ngày một “nóng” kể từ giữa năm 2022. Trong bối cảnh này, NHNN mặc dù khẳng định vẫn đảm bảo nguồn cung ngoại tệ cho các doanh nghiệp và người dân có nhu cầu, nhưng tâm lý găm giữ ngoại tệ trong một số doanh nghiệp và người dân đã bắt đầu xuất hiện. Trong bối cảnh này, NHNN cũng đã có một quyết định khá mạnh tay đưa ra hồi giữa tháng 10/2022 là nới biên độ tỷ giá giao ngay VND/USD từ 3% lên 5%. Quyết định này của NHNN đưa ra trong bối cảnh nguồn cung ngoại tệ vẫn đảm bảo khá tốt, nhờ lợi thế xuất siêu của nền kinh tế và giải ngân đầu tư nước ngoài vẫn gia tăng nên đã giải tỏa tâm lý găm giữ ngoại tệ, nhờ đó tỷ giá dịu dần trong giai đoạn sau đó.

Ứng dụng công nghệ là một trong những giải pháp được giới ngân hàng đặt nhiều kỳ vọng để giảm chi phí.
Ứng dụng công nghệ là một trong những giải pháp được giới ngân hàng đặt nhiều kỳ vọng để giảm chi phí.

Trong khi đó, lãi suất vào những ngày cuối năm cũng đã dần đi vào ổn định và có phần hạ nhiệt hơn so với thời kỳ tăng nóng. Lãi suất liên ngân hàng kỳ hạn qua đêm cuối tháng 12 đã giảm xuống mức rất thấp với chỉ 3,25%; kỳ hạn 1 tuần cũng chỉ còn khoảng 4,91%. Đây là mức lãi suất thấp hơn khá nhiều so với mức 6,34% và trên 7% của hai kỳ hạn này giai đoạn đầu tháng 11. Lãi suất liên ngân hàng hạ nhiệt một phần nhờ sự đồng thuận tốt hơn giữa các ngân hàng với nhau, thông qua một số cuộc họp của các thành viên Hiệp hội Ngân hàng Việt Nam diễn ra trong tháng 12/2022. Đồng thời, NHNN cũng đã có những động thái hỗ trợ thanh khoản thông qua thị trường mở và những khuyến cáo hạ lãi suất được đưa ra liên tục vào cuối năm.

Tín dụng chưa thể “thả lỏng”

Một số tín hiệu tích cực về lãi suất, tỷ giá, tốc độ tăng trưởng tín dụng hợp lý… đã xuất hiện vào cuối năm 2022; tuy nhiên, những yếu tố bất ổn từ bên ngoài và bên trong vẫn còn tiềm ẩn.

Một trong những thông điệp được đại diện NHNN đưa ra mới đây cho thấy, NHNN vẫn giữ quan điểm không “hào phóng” trong việc cấp chỉ tiêu tăng trưởng tín dụng trong năm 2023. Ông Phạm Chí Quang - Vụ trưởng Vụ Chính sách tiền tệ thuộc NHNN cho biết, khi nhìn sâu vào cấu trúc của kinh tế Việt Nam với quy mô tín dụng so với GDP, rất nhiều tổ chức quốc tế luôn cảnh báo về an toàn hệ thống. Trong khi đó, tín dụng nếu chỉ cần cứ duy trì tốc độ khoảng 12 – 14%/năm thôi thì tốc độ cũng đã luôn gấp khoảng 2 lần so với tăng trưởng GDP. Điều này đồng nghĩa tỷ trọng tín dụng ngân hàng/GDP sẽ vẫn còn tiếp tục tăng lên theo từng năm. “Đây là một trong những yếu tố NHNN luôn phải cân nhắc, một mặt luôn hỗ trợ nền kinh tế, nhưng phải kiểm soát được rủi ro” - ông Quang nói.

Nhìn vào diễn biến chung về lãi suất và tỷ giá trong thời gian tới, đại diện NHNN cho biết thêm, các động thái tăng lãi suất của FED tuy đã chậm lại nhưng sẽ vẫn còn tiếp diễn đến hết năm 2023, nên xu hướng chung trên thế giới về lãi suất là vẫn còn tiếp tục tăng. Do đó, Việt Nam sẽ còn đối mặt với rất nhiều khó khăn nếu muốn đi ngược lại với dòng chảy chung. Mặc dù vậy, NHNN cho biết sẽ tham mưu, chỉ đạo các TCTD tiết giảm chi phí để cố gắng giảm lãi suất nếu có thể.

Việt Nam ra khỏi danh sách giám sát về thao túng tiền tệ

Một trong những thông tin đáng chú ý liên quan đến hoạt động tiền tệ trong năm 2022 là việc Bộ Tài chính Mỹ đã đưa Việt Nam ra khỏi Danh sách giám sát về thao túng tiền tệ. Nội dung này được công bố trong trong Báo cáo về “Chính sách kinh tế vĩ mô và ngoại hối của các đối tác thương mại lớn của Mỹ” đưa ra hồi tháng 11/2022.

Báo cáo này cũng có nhiều đánh giá tích cực công tác điều hành chính sách tiền tệ, tỷ giá của Ngân hàng Nhà nước trong bối cảnh kinh tế toàn cầu vẫn đang đối mặt với nhiều khó khăn, thách thức.

Một trong những kỳ vọng mà các ngân hàng đặt ra là đẩy mạnh ứng dụng công nghệ, tăng tỷ trọng thanh toán không dùng tiền mặt để giảm chi phí, tạo cơ sở cho việc giảm lãi suất. Thực tế việc ứng dụng công nghệ đã cho thấy một số kết quả nhất định. Ông Nguyễn Hưng - Tổng giám đốc Ngân hàng TPBank cho biết, việc áp dụng các công nghệ hiện đại đã giúp TPBank giảm được khoảng 30% chi phí hoạt động. Với khoảng 95% giao dịch được xử lý qua kênh số, TPBank đang áp dụng LiveBank - điểm giao dịch ngân hàng tự động cho phép khách hàng gửi hoặc chuyển tiền, mở thẻ lấy ngay bằng công nghệ nhận diện bằng khuôn mặt, vân tay. Theo Tổng giám đốc TPBank, với gần 500 LiveBank đang hoạt động trên cả nước, số lượng khách hàng của TPBank dự kiến sẽ tăng từ khoảng 8 triệu trong năm nay lên 10 triệu trong năm tới.

Về phía NHNN, cơ quan này cho biết vừa qua cũng đã hoàn thành thử nghiệm kỹ thuật kết nối Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư phục vụ công tác phòng chống rửa tiền, thông tin tín dụng và dịch vụ công NHNN. Bên cạnh đó, hầu hết các TCTD đã, đang hoặc dự tính xây dựng, triển khai Chiến lược chuyển đổi số; gia tăng các ứng dụng công nghệ của cách mạng công nghiệp 4.0 nhằm tối ưu hóa, đơn giản hóa quy trình nghiệp vụ, nâng cao hiệu quả hoạt động và trải nghiệm giao dịch khách hàng trong hoạt động thanh toán. Kết quả sơ bộ đến nay cho thấy, hoạt động thanh toán không dùng tiền mặt trong 11 tháng của năm 2022 tăng 85,6% về số lượng và 31,39% về giá trị so với cùng kỳ năm 2021.

Gia tăng yêu cầu an toàn cho các kênh thanh toán

Việc đẩy mạnh ứng dụng công nghệ là một trong những giải pháp được giới ngân hàng đặt nhiều kỳ vọng để giảm chi phí, qua đó giảm mặt bằng lãi suất, nhưng yêu cầu về an toàn cho hoạt động thanh toán cũng đặt ra một thách thức lớn.

Ngân hàng Nhà nước cho biết đang thường xuyên theo dõi, chỉ đạo các tổ chức cung ứng dịch vụ thanh toán, dịch vụ trung gian thanh toán tăng cường các biện pháp đảm bảo an ninh, an toàn trong hoạt động thanh toán. Trong đó, các ngân hàng được khuyến nghị cần thường xuyên thực hiện các chương trình truyền thông giáo dục tài chính, phổ cập toàn diện các thông tin, quy định liên quan đến doanh nghiệp, cá nhân nhằm nâng cao kĩ năng sử dụng dịch vụ ngân hàng…

Chí Tín

Đọc thêm

"Big 4" dự kiến bơm thêm 1 triệu tỷ đồng, giữ ổn định lãi suất vẫn là thách thức

"Big 4" dự kiến bơm thêm 1 triệu tỷ đồng, giữ ổn định lãi suất vẫn là thách thức

Với tỷ trọng 42,3% tổng dư nợ, nhóm “big 4” dự kiến giải ngân thêm khoảng 1 triệu tỷ đồng năm 2026 nhằm hỗ trợ tăng trưởng. Tuy nhiên, áp lực giữ ổn định mặt bằng lãi suất cho vay vẫn hiện hữu, khi chi phí vốn gia tăng, lãi suất huy động tăng, đặc biệt chi phí dự phòng rủi ro nợ xấu chiếm tới 18 - 20% cơ cấu chi phí của ngành.
Sacombank có tân Phó Tổng giám đốc người Pháp

Sacombank có tân Phó Tổng giám đốc người Pháp

(TBTCO) - Ngân hàng TMCP Sài Gòn Thương Tín (Sacombank, mã Ck: STB) vừa công bố và trao quyết định bổ nhiệm ông Loic Faussier giữ chức Phó Tổng giám đốc, phụ trách mảng Quản trị rủi ro, pháp chế và tuân thủ.
PJICO đặt mục tiêu đạt gần 5.000 tỷ đồng phí bảo hiểm gốc, chia cổ tức 12%

PJICO đặt mục tiêu đạt gần 5.000 tỷ đồng phí bảo hiểm gốc, chia cổ tức 12%

Dù chịu tác động từ thiên tai, cạnh tranh từ thị trường bảo hiểm phi nhân thọ và biến động nội bộ, PJICO vẫn hoàn thành vượt nhiều chỉ tiêu năm 2025. Bước sang 2026, PJICO đặt mục tiêu doanh thu phí bảo hiểm gốc đạt 4.989 tỷ đồng, tăng 8%; lợi nhuận 324,5 tỷ đồng và cổ tức dự kiến 12%, đồng thời kiện toàn Hội đồng quản trị.
Hải Phòng phấn đấu tỷ lệ bao phủ Bảo hiểm y tế đạt 95,5% dân số trở lên trong năm 2026

Hải Phòng phấn đấu tỷ lệ bao phủ Bảo hiểm y tế đạt 95,5% dân số trở lên trong năm 2026

(TBTCO) - UBND TP. Hải Phòng vừa ban hành Kế hoạch số 95/KH-UBND về việc triển khai thực hiện chỉ tiêu, nhiệm vụ công tác bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế và bảo hiểm thất nghiệp năm 2026 trên địa bàn thành phố. Kế hoạch đặt mục tiêu tỷ lệ bao phủ bảo hiểm y tế đạt 95,5% dân số trở lên.
Cho thuê tài chính “chia tải” vốn trung - dài hạn, gánh bớt áp lực cho ngân hàng

Cho thuê tài chính “chia tải” vốn trung - dài hạn, gánh bớt áp lực cho ngân hàng

(TBTCO) - Dòng vốn cho thuê tài chính nổi lên như kênh bổ trợ quan trọng trong bối cảnh ngành ngân hàng “lấy ngắn nuôi dài”, với gần 50% dư nợ là trung - dài hạn và tỷ lệ vốn ngắn hạn cho vay trung - dài hạn nhiều nơi tiến sát 30%. Với dư nợ 45,7 nghìn tỷ đồng cuối năm 2025 và tăng trưởng ổn định, kênh này trở thành “mạch dẫn” vốn cho doanh nghiệp sản xuất thực và san sẻ áp lực cho hệ thống ngân hàng.
Giá vàng hôm nay ngày 27/3: Giá vàng giảm về vùng 168 - 171 triệu đồng/lượng

Giá vàng hôm nay ngày 27/3: Giá vàng giảm về vùng 168 - 171 triệu đồng/lượng

(TBTCO) - Giá vàng trong nước sáng ngày 27/3 đồng loạt giảm tại nhiều doanh nghiệp, đưa mặt bằng giao dịch về quanh 168 - 171 triệu đồng/lượng, với mức giảm phổ biến từ 2 đến hơn 4 triệu đồng/lượng.
Giá vàng thủng mốc 4.500 USD/ounce, chuyên gia lý giải áp lực bán mạnh

Giá vàng thủng mốc 4.500 USD/ounce, chuyên gia lý giải áp lực bán mạnh

(TBTCO) - Giá vàng thế giới thủng 4.500 USD/ounce, trong khi trong nước “neo giá” khiến chênh lệch nới rộng khoảng 25 triệu đồng/lượng; từ đỉnh, giá vàng trong nước mới giảm 10%, thấp hơn mức giảm khoảng 20% của thế giới. Giới phân tích cho rằng kỳ vọng lãi suất đang chi phối mạnh, áp lực bán gia tăng, thậm chí một số ngân hàng trung ương có thể dùng dự trữ vàng để ổn định đồng nội tế trước căng thẳng Trung Đông.
Siết kỷ luật để thị trường bảo hiểm phát triển bền vững

Siết kỷ luật để thị trường bảo hiểm phát triển bền vững

(TBTCO) - Nghị định số 78/2026/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực kinh doanh bảo hiểm, có hiệu lực từ ngày 1/5/2026 sẽ nâng trần xử phạt bằng tiền, mở rộng thẩm quyền xử phạt cho nhiều cấp và bổ sung hình thức xử phạt trên môi trường điện tử. Qua đó, chấn chỉnh và xử nghiêm các sai phạm, bảo vệ quyền lợi người tham gia bảo hiểm và củng cố sự phát triển bền vững của thị trường.
Xem thêm

Mới nhất Đọc nhiều

DOJI Giá mua Giá bán
SJC -Bán Lẻ 16,860 17,160
Kim TT/AVPL 16,870 17,170
NHẪN TRÒN 9999 HƯNG THỊNH VƯỢNG 16,860 17,160
Nguyên Liệu 99.99 15,900 16,100
Nguyên Liệu 99.9 15,850 16,050
NỮ TRANG 9999 - BÁN LẺ 16,700 17,100
NỮ TRANG 999 - BÁN LẺ 16,650 17,050
Nữ trang 99 - Bán Lẻ 16,580 17,030
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 168,600 171,600
Hà Nội - PNJ 168,600 171,600
Đà Nẵng - PNJ 168,600 171,600
Miền Tây - PNJ 168,600 171,600
Tây Nguyên - PNJ 168,600 171,600
Đông Nam Bộ - PNJ 168,600 171,600
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 16,860 17,160
Miếng SJC Nghệ An 16,860 17,160
Miếng SJC Thái Bình 16,860 17,160
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 16,860 17,160
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 16,860 17,160
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 16,860 17,160
NL 99.90 15,770
NL 99.99, Nhẫn Tròn Thái Bình 15,800
Trang sức 99.9 16,350 17,050
Trang sức 99.99 16,360 17,060
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,686 1,716
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,686 17,162
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,686 17,163
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,684 1,714
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,684 1,715
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,664 1,699
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 161,718 168,218
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 118,688 127,588
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 106,794 115,694
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 94,899 103,799
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 90,312 99,212
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 62,105 71,005
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,686 1,716
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,686 1,716
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,686 1,716
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,686 1,716
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,686 1,716
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,686 1,716
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,686 1,716
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,686 1,716
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,686 1,716
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,686 1,716
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,686 1,716
Cập nhật: 28/03/2026 04:30
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17623 17896 18472
CAD 18476 18753 19372
CHF 32374 32757 33403
CNY 0 3470 3830
EUR 29705 29977 31007
GBP 34242 34633 35570
HKD 0 3232 3434
JPY 158 162 168
KRW 0 16 18
NZD 0 14880 15469
SGD 19922 20204 20733
THB 716 779 833
USD (1,2) 26069 0 0
USD (5,10,20) 26110 0 0
USD (50,100) 26138 26158 26355
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,145 26,145 26,355
USD(1-2-5) 25,100 - -
USD(10-20) 25,100 - -
EUR 29,964 29,988 31,219
JPY 160.95 161.24 169.88
GBP 34,608 34,702 35,671
AUD 17,900 17,965 18,523
CAD 18,717 18,777 19,343
CHF 32,794 32,896 33,649
SGD 20,120 20,183 20,846
CNY - 3,788 3,904
HKD 3,306 3,316 3,432
KRW 16.15 16.84 18.2
THB 766.29 775.75 825.63
NZD 14,920 15,059 15,408
SEK - 2,755 2,834
DKK - 4,010 4,124
NOK - 2,683 2,761
LAK - 0.93 1.28
MYR 6,158.3 - 6,906.8
TWD 746.57 - 897.95
SAR - 6,923.15 7,244.71
KWD - 83,859 88,643
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,105 26,135 26,355
EUR 29,794 29,914 31,088
GBP 34,482 34,620 35,622
HKD 3,296 3,309 3,424
CHF 32,542 32,673 33,584
JPY 161.13 161.78 169.02
AUD 17,754 17,825 18,409
SGD 20,118 20,199 20,775
THB 779 782 816
CAD 18,653 18,728 19,293
NZD 14,910 15,438
KRW 16.71 18.33
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26221 26221 26355
AUD 17805 17905 18828
CAD 18660 18760 19776
CHF 32627 32657 34239
CNY 3752.7 3777.7 3912.9
CZK 0 1185 0
DKK 0 4050 0
EUR 29887 29917 31643
GBP 34541 34591 36352
HKD 0 3355 0
JPY 161.24 161.74 172.25
KHR 0 6.097 0
KRW 0 17.1 0
LAK 0 1.165 0
MYR 0 6840 0
NOK 0 2720 0
NZD 0 14990 0
PHP 0 400 0
SEK 0 2790 0
SGD 20087 20217 20939
THB 0 744.8 0
TWD 0 810 0
SJC 9999 16860000 16860000 17160000
SBJ 15000000 15000000 17160000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,145 26,195 26,355
USD20 26,145 26,195 26,355
USD1 23,845 26,195 26,355
AUD 17,834 17,934 19,072
EUR 30,015 30,015 31,464
CAD 18,599 18,699 20,032
SGD 20,145 20,295 21,310
JPY 161.62 163.12 167.88
GBP 34,412 34,762 35,673
XAU 16,858,000 0 17,162,000
CNY 0 3,659 0
THB 0 781 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 28/03/2026 04:30
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80