Tăng trưởng tín dụng chưa thể “thả phanh” trong năm 2023

Chí Tín
(TBTCO) - Những căng thẳng về lãi suất và tỷ giá đã dịu hơn vào giai đoạn cuối năm 2022, nhưng những biến động trên thị trường tài chính quốc tế trước thềm năm mới 2023 tiềm ẩn nguy cơ khó dự đoán. Trong khi đó, tín dụng ngân hàng chiếm tỷ trọng lớn trong cơ cấu GDP, cũng như yêu cầu an toàn hệ thống vẫn là áp lực lớn cho việc hoạch định kế hoạch tăng trưởng tín dụng trong năm 2023.
aa

Lãi suất tỷ giá đã dịu, nhưng còn nguy cơ tiềm ẩn

Theo Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN), tính đến cuối tháng 12/2022, tăng trưởng tín dụng đạt khoảng hơn 13%. Đây có thể coi là một tỷ lệ tăng trưởng khá hợp lý, khá sát với mục tiêu tăng trưởng đã được NHNN hoạch định hồi đầu năm 2022 là 14%.

Phó Thống đốc thường trực NHNN Đào Minh Tú cho biết, 2022 là năm có nhiều khác biệt so với mọi năm, trong điều hành vĩ mô nói chung và với ngành Ngân hàng nói riêng. Nền kinh tế vừa trải qua hai năm khó khăn do đại dịch Covid-19, gây ra tác động không nhỏ tới đời sống kinh tế - xã hội, hoạt động sản xuất kinh doanh của người dân.

Trong khi đó, các yếu tố từ bên ngoài cũng có những tác động bất ngờ với thị trường tiền tệ trong nước. Những động thái quốc tế đáng chú ý nhất trong năm qua là xung đột Nga – Ucraina và động thái tăng lãi suất liên tục của Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (FED). Theo đó, chính sách tiền tệ của Mỹ và nhiều nền kinh tế lớn trên thế giới đã “quay ngoắt” 180 độ, từ chính sách nới lỏng trong giai đoạn dịch Covid-19 sang chính sách thắt chặt mạnh tay để kiểm soát lạm phát. Trong đó, FED đã 7 lần tăng lãi suất liên tục và tất cả những biến động kinh tế vĩ mô toàn cầu như vậy đều đã tác động lớn đến kinh tế và thị trường tiền tệ Việt Nam.

Với bối cảnh như trên, Việt Nam vẫn giữ nguyên được các mức lãi suất điều hành trong vòng hơn 8 tháng của năm 2022. Tuy nhiên trong 2 tháng liên tục sau đó (tháng 9 và tháng 10), NHNN đã 2 lần điều chỉnh các mức lãi suất điều hành với tổng mức tăng 2%/năm và lãi suất tiền gửi tối đa bằng VND kỳ hạn dưới 6 tháng tại tổ chức tín dụng (TCTD), với tổng mức tăng 0,8 - 2%/năm; tăng 1%/năm lãi suất cho vay tối đa bằng VND đối với một số lĩnh vực ưu tiên.

Theo đánh giá của ông Phùng Trung Kiên - Giám đốc Phân tích Công ty chứng khoán AIS, động thái tăng lãi suất điều hành của NHNN không phải chỉ là việc chịu sức ép từ xu hướng tăng lãi suất chung mà còn bởi áp lực từ tỷ giá. Tỷ giá VND/USD liên tục tăng từ đầu năm 2022 và đặc biệt, tốc độ tăng tỷ giá ngày một “nóng” kể từ giữa năm 2022. Trong bối cảnh này, NHNN mặc dù khẳng định vẫn đảm bảo nguồn cung ngoại tệ cho các doanh nghiệp và người dân có nhu cầu, nhưng tâm lý găm giữ ngoại tệ trong một số doanh nghiệp và người dân đã bắt đầu xuất hiện. Trong bối cảnh này, NHNN cũng đã có một quyết định khá mạnh tay đưa ra hồi giữa tháng 10/2022 là nới biên độ tỷ giá giao ngay VND/USD từ 3% lên 5%. Quyết định này của NHNN đưa ra trong bối cảnh nguồn cung ngoại tệ vẫn đảm bảo khá tốt, nhờ lợi thế xuất siêu của nền kinh tế và giải ngân đầu tư nước ngoài vẫn gia tăng nên đã giải tỏa tâm lý găm giữ ngoại tệ, nhờ đó tỷ giá dịu dần trong giai đoạn sau đó.

Ứng dụng công nghệ là một trong những giải pháp được giới ngân hàng đặt nhiều kỳ vọng để giảm chi phí.
Ứng dụng công nghệ là một trong những giải pháp được giới ngân hàng đặt nhiều kỳ vọng để giảm chi phí.

Trong khi đó, lãi suất vào những ngày cuối năm cũng đã dần đi vào ổn định và có phần hạ nhiệt hơn so với thời kỳ tăng nóng. Lãi suất liên ngân hàng kỳ hạn qua đêm cuối tháng 12 đã giảm xuống mức rất thấp với chỉ 3,25%; kỳ hạn 1 tuần cũng chỉ còn khoảng 4,91%. Đây là mức lãi suất thấp hơn khá nhiều so với mức 6,34% và trên 7% của hai kỳ hạn này giai đoạn đầu tháng 11. Lãi suất liên ngân hàng hạ nhiệt một phần nhờ sự đồng thuận tốt hơn giữa các ngân hàng với nhau, thông qua một số cuộc họp của các thành viên Hiệp hội Ngân hàng Việt Nam diễn ra trong tháng 12/2022. Đồng thời, NHNN cũng đã có những động thái hỗ trợ thanh khoản thông qua thị trường mở và những khuyến cáo hạ lãi suất được đưa ra liên tục vào cuối năm.

Tín dụng chưa thể “thả lỏng”

Một số tín hiệu tích cực về lãi suất, tỷ giá, tốc độ tăng trưởng tín dụng hợp lý… đã xuất hiện vào cuối năm 2022; tuy nhiên, những yếu tố bất ổn từ bên ngoài và bên trong vẫn còn tiềm ẩn.

Một trong những thông điệp được đại diện NHNN đưa ra mới đây cho thấy, NHNN vẫn giữ quan điểm không “hào phóng” trong việc cấp chỉ tiêu tăng trưởng tín dụng trong năm 2023. Ông Phạm Chí Quang - Vụ trưởng Vụ Chính sách tiền tệ thuộc NHNN cho biết, khi nhìn sâu vào cấu trúc của kinh tế Việt Nam với quy mô tín dụng so với GDP, rất nhiều tổ chức quốc tế luôn cảnh báo về an toàn hệ thống. Trong khi đó, tín dụng nếu chỉ cần cứ duy trì tốc độ khoảng 12 – 14%/năm thôi thì tốc độ cũng đã luôn gấp khoảng 2 lần so với tăng trưởng GDP. Điều này đồng nghĩa tỷ trọng tín dụng ngân hàng/GDP sẽ vẫn còn tiếp tục tăng lên theo từng năm. “Đây là một trong những yếu tố NHNN luôn phải cân nhắc, một mặt luôn hỗ trợ nền kinh tế, nhưng phải kiểm soát được rủi ro” - ông Quang nói.

Nhìn vào diễn biến chung về lãi suất và tỷ giá trong thời gian tới, đại diện NHNN cho biết thêm, các động thái tăng lãi suất của FED tuy đã chậm lại nhưng sẽ vẫn còn tiếp diễn đến hết năm 2023, nên xu hướng chung trên thế giới về lãi suất là vẫn còn tiếp tục tăng. Do đó, Việt Nam sẽ còn đối mặt với rất nhiều khó khăn nếu muốn đi ngược lại với dòng chảy chung. Mặc dù vậy, NHNN cho biết sẽ tham mưu, chỉ đạo các TCTD tiết giảm chi phí để cố gắng giảm lãi suất nếu có thể.

Việt Nam ra khỏi danh sách giám sát về thao túng tiền tệ

Một trong những thông tin đáng chú ý liên quan đến hoạt động tiền tệ trong năm 2022 là việc Bộ Tài chính Mỹ đã đưa Việt Nam ra khỏi Danh sách giám sát về thao túng tiền tệ. Nội dung này được công bố trong trong Báo cáo về “Chính sách kinh tế vĩ mô và ngoại hối của các đối tác thương mại lớn của Mỹ” đưa ra hồi tháng 11/2022.

Báo cáo này cũng có nhiều đánh giá tích cực công tác điều hành chính sách tiền tệ, tỷ giá của Ngân hàng Nhà nước trong bối cảnh kinh tế toàn cầu vẫn đang đối mặt với nhiều khó khăn, thách thức.

Một trong những kỳ vọng mà các ngân hàng đặt ra là đẩy mạnh ứng dụng công nghệ, tăng tỷ trọng thanh toán không dùng tiền mặt để giảm chi phí, tạo cơ sở cho việc giảm lãi suất. Thực tế việc ứng dụng công nghệ đã cho thấy một số kết quả nhất định. Ông Nguyễn Hưng - Tổng giám đốc Ngân hàng TPBank cho biết, việc áp dụng các công nghệ hiện đại đã giúp TPBank giảm được khoảng 30% chi phí hoạt động. Với khoảng 95% giao dịch được xử lý qua kênh số, TPBank đang áp dụng LiveBank - điểm giao dịch ngân hàng tự động cho phép khách hàng gửi hoặc chuyển tiền, mở thẻ lấy ngay bằng công nghệ nhận diện bằng khuôn mặt, vân tay. Theo Tổng giám đốc TPBank, với gần 500 LiveBank đang hoạt động trên cả nước, số lượng khách hàng của TPBank dự kiến sẽ tăng từ khoảng 8 triệu trong năm nay lên 10 triệu trong năm tới.

Về phía NHNN, cơ quan này cho biết vừa qua cũng đã hoàn thành thử nghiệm kỹ thuật kết nối Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư phục vụ công tác phòng chống rửa tiền, thông tin tín dụng và dịch vụ công NHNN. Bên cạnh đó, hầu hết các TCTD đã, đang hoặc dự tính xây dựng, triển khai Chiến lược chuyển đổi số; gia tăng các ứng dụng công nghệ của cách mạng công nghiệp 4.0 nhằm tối ưu hóa, đơn giản hóa quy trình nghiệp vụ, nâng cao hiệu quả hoạt động và trải nghiệm giao dịch khách hàng trong hoạt động thanh toán. Kết quả sơ bộ đến nay cho thấy, hoạt động thanh toán không dùng tiền mặt trong 11 tháng của năm 2022 tăng 85,6% về số lượng và 31,39% về giá trị so với cùng kỳ năm 2021.

Gia tăng yêu cầu an toàn cho các kênh thanh toán

Việc đẩy mạnh ứng dụng công nghệ là một trong những giải pháp được giới ngân hàng đặt nhiều kỳ vọng để giảm chi phí, qua đó giảm mặt bằng lãi suất, nhưng yêu cầu về an toàn cho hoạt động thanh toán cũng đặt ra một thách thức lớn.

Ngân hàng Nhà nước cho biết đang thường xuyên theo dõi, chỉ đạo các tổ chức cung ứng dịch vụ thanh toán, dịch vụ trung gian thanh toán tăng cường các biện pháp đảm bảo an ninh, an toàn trong hoạt động thanh toán. Trong đó, các ngân hàng được khuyến nghị cần thường xuyên thực hiện các chương trình truyền thông giáo dục tài chính, phổ cập toàn diện các thông tin, quy định liên quan đến doanh nghiệp, cá nhân nhằm nâng cao kĩ năng sử dụng dịch vụ ngân hàng…

Chí Tín

Đọc thêm

F88 mở bán hơn 22 triệu cổ phiếu dự kiến thu hơn 1.500 tỷ đồng, giảm phụ thuộc vốn vay

F88 mở bán hơn 22 triệu cổ phiếu dự kiến thu hơn 1.500 tỷ đồng, giảm phụ thuộc vốn vay

(TBTCO) - F88 chính thức mở nhận đăng ký mua cổ phiếu trong đợt chào bán ra công chúng từ ngày 6/7, với giá 71.000 đồng/cổ phiếu, dự kiến huy động gần 1.564 tỷ đồng. Theo đánh giá, đợt phát hành không chỉ giúp doanh nghiệp giảm áp lực nợ vay, mà còn tạo điều kiện để F88 niêm yết trên HOSE ngay trong năm 2026.
BVBank chuẩn bị kế hoạch tăng vốn, hơn 640 triệu cổ phiếu sắp "đổ bộ" HOSE

BVBank chuẩn bị kế hoạch tăng vốn, hơn 640 triệu cổ phiếu sắp "đổ bộ" HOSE

(TBTCO) - BVBank chuẩn bị triển khai phương án tăng vốn điều lệ năm 2026. Theo phương án trước đó, nếu hoàn tất hai đợt phát hành cho cổ đông hiện hữu và ESOP, vốn điều lệ của ngân hàng sẽ tăng 55% lên 9.912 tỷ đồng. BVBank cũng đang hoàn tất các thủ tục để chuyển niêm yết cổ phiếu từ UPCoM sang HOSE.
Không phải tất cả chủ hộ kinh doanh đều phải đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc từ năm 2026

Không phải tất cả chủ hộ kinh doanh đều phải đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc từ năm 2026

(TBTCO) - Việc bãi bỏ thuế khoán không đồng nghĩa tất cả chủ hộ kinh doanh đều phải tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc ngay. Việc xác định đối tượng tham gia được thực hiện theo lộ trình và quy định cụ thể của pháp luật.
Giữ lãi suất cân bằng, thay vì hạ sâu đại trà bằng mọi giá

Giữ lãi suất cân bằng, thay vì hạ sâu đại trà bằng mọi giá

(TBTCO) - PGS. TS. Nguyễn Hữu Huân - Khoa Ngân hàng, Đại học Kinh tế TP. Hồ Chí Minh cho rằng, nếu tín dụng tiếp tục tăng nhanh trong khi huy động vốn không theo kịp, ngân hàng sẽ đối mặt với ba rủi ro lớn, khó đáp ứng chuẩn an toàn Basel III. Trong bối cảnh này, lãi suất cần được điều hành ổn định có chọn lọc, hài hòa nhiều mục tiêu, thay vì duy trì "rẻ đại trà”.
Giá vàng hôm nay ngày 6/7: Vàng thế giới neo quanh 4.175 USD/ounce, vàng miếng giữ mốc 151,4 triệu đồng/lượng

Giá vàng hôm nay ngày 6/7: Vàng thế giới neo quanh 4.175 USD/ounce, vàng miếng giữ mốc 151,4 triệu đồng/lượng

(TBTCO) - Giá vàng thế giới gần như không đổi so với sáng qua, giao dịch quanh 4.175 USD/ounce. Trong nước, giá vàng miếng và vàng nhẫn đồng loạt đi ngang tại nhiều doanh nghiệp kinh doanh vàng.
Kinh doanh “chu trình ngược”, doanh nghiệp bảo hiểm tìm thế cân bằng

Kinh doanh “chu trình ngược”, doanh nghiệp bảo hiểm tìm thế cân bằng

(TBTCO) - Trước nhiều rủi ro gia tăng, chi bồi thường bảo hiểm tăng mạnh, với tổng chi bồi thường gốc của nhóm doanh nghiệp khảo sát đạt 11.591 tỷ đồng trong quý I/2026, tăng 20,4% cùng kỳ. Điều này vừa phản ánh cam kết chi trả với khách hàng, vừa đặt doanh nghiệp trước bài toán cân bằng rủi ro và lợi nhuận do đặc thù “chu trình ngược” của ngành bảo hiểm.
Đa dạng sản phẩm tín dụng, dồn vốn cho dự án xanh

Đa dạng sản phẩm tín dụng, dồn vốn cho dự án xanh

(TBTCO) - Dư nợ tín dụng xanh đạt 828 nghìn tỷ đồng, với đông đảo 82 tổ chức tín dụng tham gia, song tỷ trọng còn thấp do còn nhiều vướng mắc. Ngân hàng Nhà nước sẽ chỉ đạo tập trung dòng vốn vào các dự án thuộc Danh mục phân loại xanh sau khi được công khai, chuẩn hóa và sớm trình cơ chế hỗ trợ lãi suất 2%/năm để thúc đẩy tín dụng xanh.
Giá vàng hôm nay ngày 5/7: Vàng thế giới đi ngang, vàng trong nước giữ mốc 151,4 triệu đồng/lượng

Giá vàng hôm nay ngày 5/7: Vàng thế giới đi ngang, vàng trong nước giữ mốc 151,4 triệu đồng/lượng

(TBTCO) - Giá vàng thế giới duy trì quanh 4.175 USD/ounce, gần như không đổi so với sáng ngày hôm qua. Trong nước, giá vàng miếng không ghi nhận biến động với mức bán ra phổ biến 151,4 triệu đồng/lượng.
Xem thêm
DOJI Giá mua Giá bán
SJC -Bán Lẻ 14,800 15,100
Kim TT/AVPL 14,800 15,100
NHẪN TRÒN 9999 HƯNG THỊNH VƯỢNG 14,800 15,100
Nguyên Liệu 99.99 13,560 13,760
Nguyên Liệu 99.9 13,510 13,710
NỮ TRANG 9999 - BÁN LẺ 14,060 14,560
NỮ TRANG 999 - BÁN LẺ 14,010 14,510
Nữ trang 99 - Bán Lẻ 13,940 14,490
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 148,000 151,000
Hà Nội - PNJ 148,000 151,000
Đà Nẵng - PNJ 148,000 151,000
Miền Tây - PNJ 148,000 151,000
Tây Nguyên - PNJ 148,000 151,000
Đông Nam Bộ - PNJ 148,000 151,000
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 14,800 15,100
Miếng SJC Nghệ An 14,800 15,100
Miếng SJC Thái Bình 14,800 15,100
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 14,650 15,000
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 14,650 15,000
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 14,650 15,000
NL 99.90 13,050
NL 99.99, Nhẫn Tròn Thái Bình 13,100
Trang sức 99.9 14,190 14,890
Trang sức 99.99 14,200 14,900
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 148 151
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 148 15,102
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 148 15,103
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,479 1,509
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,479 151
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,459 1,494
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 140,921 147,921
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 102,711 112,211
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 92,252 101,752
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 81,793 91,293
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 77,759 87,259
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 52,956 62,456
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 148 151
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 148 151
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 148 151
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 148 151
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 148 151
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 148 151
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 148 151
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 148 151
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 148 151
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 148 151
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 148 151
Cập nhật: 07/07/2026 08:00
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17699 17972 18548
CAD 17961 18236 18856
CHF 31988 32370 33015
CNY 0 3828 3922
EUR 29397 29618 30699
GBP 34276 34667 35605
HKD 0 3222 3425
JPY 155 159 165
KRW 0 16 18
NZD 0 14635 15223
SGD 19789 20070 20645
THB 705 768 821
USD (1,2) 26031 0 0
USD (5,10,20) 26072 0 0
USD (50,100) 26101 26115 26462
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,102 26,102 26,462
USD(1-2-5) 25,058 - -
USD(10-20) 25,058 - -
EUR 29,539 29,563 30,950
JPY 157.78 158.06 167.46
GBP 34,440 34,533 35,708
AUD 17,889 17,954 18,623
CAD 18,165 18,223 18,878
CHF 32,262 32,362 33,289
SGD 19,913 19,975 20,748
CNY - 3,800 3,942
HKD 3,287 3,297 3,432
KRW 15.84 16.52 17.96
THB 753.11 762.41 815.58
NZD 14,624 14,760 15,186
SEK - 2,678 2,771
DKK - 3,952 4,088
NOK - 2,630 2,720
LAK - 0.89 1.24
MYR 6,024.92 - 6,797.46
TWD 739.49 - 895.08
SAR - 6,887.37 7,248.58
KWD - 83,223 88,475
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,082 26,102 26,462
EUR 29,501 29,619 30,812
GBP 34,465 34,603 35,632
HKD 3,284 3,297 3,414
CHF 32,140 32,269 33,202
JPY 158.50 159.14 167
AUD 17,886 17,958 18,552
SGD 20,003 20,083 20,670
THB 772 775 811
CAD 18,172 18,245 18,813
NZD 14,720 15,257
KRW 16.48 18.13
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26090 26090 26462
AUD 17871 17971 18902
CAD 18130 18230 19244
CHF 32227 32257 33843
CNY 3811.3 3836.3 3971.5
CZK 0 1190 0
DKK 0 4025 0
EUR 29565 29595 31321
GBP 34559 34609 36378
HKD 0 3355 0
JPY 158.53 159.03 169.54
KHR 0 6.097 0
KRW 0 16.7 0
LAK 0 1.167 0
MYR 0 6600 0
NOK 0 2710 0
NZD 0 14737 0
PHP 0 395 0
SEK 0 2735 0
SGD 19945 20075 20800
THB 0 733.5 0
TWD 0 820 0
SJC 9999 14800000 14800000 15100000
SBJ 13000000 13000000 15100000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,100 26,150 26,463
USD20 26,100 26,150 26,463
USD1 26,100 26,150 26,463
AUD 17,926 18,026 19,164
EUR 29,701 29,771 31,222
CAD 18,122 18,222 19,556
SGD 20,056 20,206 20,789
JPY 160.12 161.62 166.39
GBP 34,481 34,831 35,753
XAU 14,838,000 0 15,142,000
CNY 0 3,724 0
THB 0 773 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 07/07/2026 08:00
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80