Thị trường tiền tệ tuần 4-8.12:

Tín dụng hé lộ tín hiệu tăng tốc, giá vàng hạ nhiệt

Chí Tín
(TBTCO) - Thông tin mới cập nhật của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN) tuần qua cho thấy, tín dụng đã hé lộ động thái tăng tốc và dự báo có thể đạt hơn 19 triệu tỷ đồng cả năm 2023. Trong khi đó, thị trường vàng sau khi tăng nóng đã có một số biểu hiện hạ nhiệt, mặc dù vậy mặt bằng giá vẫn khá cao.
aa

Tín dụng hé lộ tín hiệu tăng tốc

Số liệu cập nhật của NHNN cho thấy, tăng trưởng tín dụng đến 30/11/2023 đạt tốc độ tăng trưởng khoảng 9,15% so với đầu năm 2023. Theo số liệu công bố trước đó cũng của NHNN, tăng trưởng tín dụng đến 22/11/2023 đạt 8,21%. Theo đó so sánh 2 con số này với nhau, chỉ trong 8 ngày cuối tháng 11, tăng trưởng tín dụng đã tăng thêm 0,94%.

Trong khi đó, tháng 12/2023 kỳ vọng cũng là giai đoạn tăng tốc vì theo thông lệ hàng năm, tháng cuối cùng thường có tốc độ tăng trưởng cao hơn so với các tháng trong năm. NHNN dự báo quy mô tín dụng đến cuối năm 2023 có thể sẽ đạt tới trên 19 triệu tỷ đồng. Ngoài ra, tháng 12/2023 cũng là thời điểm thị trường kỳ vọng quyết định nới hạn mới tăng trưởng tín dụng (room) của NHNN vừa đưa ra cuối tháng 11/2023 sẽ có tác dụng.

Tín dụng hé lộ tín hiệu tăng tốc, giá vàng hạ nhiệt
Tháng 12 thường là giai đoạn tín dụng tăng nhanh trong năm. Ảnh: T.L
Tọa đàm về xếp hạng tín nhiệm trong quản trị rủi ro tín dụng Nợ xấu tăng cao, tín dụng tiêu dùng co cụm và nguy cơ tín dụng đen

Sẽ có những giải pháp mới quyết liệt hơn

Trong tuần qua, sự kiện đáng chú ý liên quan đến thị trường tiền tệ là cuộc họp của Thủ tướng với ngành Ngân hàng và các doanh nghiệp về việc bàn giải pháp tháo gỡ khó khăn về tăng trưởng tín dụng.

Tại hội nghị này, lãnh đạo NHNN cũng đề xuất một số giải pháp mới để tiếp tục tháo gỡ khó khăn về vốn tín dụng cho nền kinh tế.

Kỳ vọng từ việc nới room

Việc cho phép nới room từ cuối tháng 11/2023 được thị trường kỳ vọng có thể giúp đẩy mạnh tín dụng tăng trưởng nhanh hơn bởi thời gian qua tín dụng chung tăng chậm, nhưng tăng trưởng tín dụng không đồng đều giữa các ngân hàng.

Một số TCTD tăng trưởng khá cao, một số TCTD tăng trưởng thấp, thậm chí tăng trưởng âm. Theo đó, các TCTD có dư nợ tín dụng đến nay đạt đến 80% chỉ tiêu tín dụng đã được thông báo thì sẽ được chủ động bổ sung hạn mức tăng thêm dựa trên cơ sở xếp hạng năm 2022, đồng thời ưu tiên thêm cho những TCTD tập trung tín dụng vào các lĩnh vực ưu tiên.

Việc bổ sung hạn mức này là sự chủ động của NHNN mà các TCTD không cần thiết phải đề nghị hoặc xin bổ sung.

Ông Đào Minh Tú - Phó Thống đốc NHNN cho biết, sẽ chỉ đạo các tổ chức tín dụng (TCTD) tiết giảm chi phí để giảm mặt bằng lãi suất cho vay, cắt giảm các loại phí hỗ trợ doanh nghiệp, người dân phục hồi và phát triển sản xuất, kinh doanh.

Ngoài ra, ngành Ngân hàng cũng đẩy nhanh tiến độ xây dựng và tổ chức thực hiện phương án cơ cấu lại gắn với xử lý nợ xấu giai đoạn 2021 - 2025 theo hướng dẫn của NHNN; triển khai các biện pháp phòng ngừa, hạn chế tối đa việc phát sinh mới nợ xấu.

Tỷ giá biến động nhẹ

Tỷ giá trung tâm mở đầu tuần mới ở mức 23.939 đồng/USD, sau một số phiên dao động nhẹ trong tuần, kết thúc tuần ở mức 23.951 đồng/USD, tăng 12 đồng mỗi Đô la so với đầu tuần.

Trong khi đó, tỷ giá niêm yết do Vietcombank công bố có diễn biến tăng trong những ngày đầu tuần, nhưng sau đó quay đầu giảm vào cuối tuần. Cụ thể, tỷ giá niêm yết bán ra tại ngân hàng này hôm thứ hai 4/12 là 24.405 đồng mỗi Đô la, sau đó tăng liên tục trong 2 ngày trước đó và quay đầu giảm trong 2 ngày cuối tuần. Chốt tuần, tỷ giá bán ra tại Vietcombank là 24.400 đồng mỗi Đô la.

Hiện nay, yếu tố trong nước cho thấy tỷ giá vẫn được hỗ trợ bởi các thông tin vĩ mô giúp cho nguồn cung ngoại tệ vẫn khá dồi dào. Cán cân thương mại hàng hóa tháng 11/2023 xuất siêu 1,28 tỷ USD, tính chung 11 tháng năm 2023, cán cân thương mại hàng hóa xuất siêu 25,83 tỷ USD (cùng kỳ năm trước xuất siêu 10,3 tỷ USD).

Trong khi đó trên thị trường tài chính quốc tế, chỉ số DXY đo lường sức mạnh đồng Đô la Mỹ vẫn chỉ quanh mức khoảng trên 103 điểm cho thấy đồng Đô la Mỹ vẫn đang ở trạng thái yếu trong bối cảnh hiện tại.

Tín dụng hé lộ tín hiệu tăng tốc, giá vàng hạ nhiệt
Vàng thường phù hợp với nhu cầu cất trữ hơn nhu cầu đầu cơ ngắn hạn. Ảnh: T.L

Giá vàng qua giai đoạn nóng

Giá vàng đã qua giai đoạn nóng, tuy nhiên diễn biến giá thế giới và trong nước có phần khác nhau khi giá vàng thế giới giảm mạnh đầu tuần sau khi lập đỉnh, trong khi giá vàng trong nước có giảm nhưng mức giảm không nhiều.

Hôm thứ hai đầu tuần, giá vàng thế giới tăng mạnh và lập đỉnh khi giao dịch vượt ngưỡng 2.100 USD/ounce. Tuy nhiên sau đó giá vàng quay đầu giảm và dù cuối tuần có phục hồi nhẹ, nhưng chỉ ở mức 2.045,3 USD/ounce, thấp hơn khá nhiều so với đỉnh đã thiết lập trước đó.

Trong khi đó tại thị trường trong nước, giá vàng SJC 9999 bán ra ở Hà Nội hôm đầu tuần đã đạt mốc 74,4 triệu đồng/lượng bán ra. Trong những ngày tiếp theo, giá vàng trong nước cũng quay đầu giảm do chịu ảnh hưởng của giá vàng thế giới, nhưng chỉ giảm nhẹ và mức bán ra của vàng SJC 9999 hôm 8/12 vẫn ở mức khoảng 74,1 triệu đồng/lượng.

Bối cảnh hiện nay cho thấy vàng trong nước tuy là một trong những kênh được nhà đầu tư quan tâm khi lãi suất ngân hàng giảm sâu, nhưng vàng không phù hợp với nhu cầu đầu cơ ngắn hạn và theo đó. Những người mua vào trong thời gian qua đa phần là các nhà đầu tư có nhu cầu mua và nắm giữ để đa dạng hóa danh mục tài sản.

Do đó, giá vàng trong nước vẫn không bị xả hàng quá nhiều ngay cả trong bối cảnh giá vàng thế giới quay đầu giảm mạnh. Mặc dù vậy, sức mua của nhu cầu mua và nắm giữ đối với vàng thường cũng không lớn, nhất là khi vàng đã thiết lập mặt bằng giá mới khá cao so với thời điểm giữa năm 2023 nên khả năng vàng tiếp tục tăng nóng sẽ khó diễn ra trong thời gian tới.

Về yêu cầu vấn đề tài sản đảm bảo khi vay vốn

Trao đổi về các vướng mắc về tài sản đảm bảo khi vay vốn, vừa qua lãnh đạo NHNN cho biết, trong hoạt động cấp tín dụng không có quy định nào bắt buộc các TCTD cho vay khách hàng phải có tài sản đảm bảo.

Tuy nhiên, theo lãnh đạo NHNN, các ngân hàng ghi nhận ý kiến của các doanh nghiệp làm sao trong quá trình cho vay vừa tạo thuận lợi cho doanh nghiệp vừa đảm bảo chặt chẽ.

NHNN cũng đề xuất các giải pháp tổng thể như việc cần kích cầu đầu tư, tiêu dùng, thúc đẩy các động lực tăng trưởng kinh tế, đẩy mạnh xúc tiến thương mại, mở rộng thị trường xuất khẩu, khai thác thị trường nội địa, cải thiện môi trường kinh doanh, đơn giản hóa thủ tục hành chính…

Chí Tín

Đọc thêm

Giá vàng hôm nay ngày 2/7: Giá vàng thế giới phục hồi, vàng trong nước đảo chiều tăng

Giá vàng hôm nay ngày 2/7: Giá vàng thế giới phục hồi, vàng trong nước đảo chiều tăng

(TBTCO) - Giá vàng thế giới tăng 5,93 USD/ounce lên mức 4.035,7 USD/ounce, trong khi giá vàng miếng và vàng nhẫn trong nước tiếp tục điều chỉnh giảm 500.000 - 1 triệu đồng/lượng.
Giá vàng hôm nay ngày 1/7: Giá vàng thế giới lùi về sát mốc 4.000 USD/ounce

Giá vàng hôm nay ngày 1/7: Giá vàng thế giới lùi về sát mốc 4.000 USD/ounce

(TBTCO) - Giá vàng thế giới lùi về sát mốc 4.000 USD/ounce sau nhịp điều chỉnh kéo dài. Trong nước, giá vàng miếng và vàng nhẫn cũng tiếp tục giảm tại nhiều doanh nghiệp kinh doanh vàng.
Giá vàng hôm nay ngày 30/6: Giá vàng thế giới giảm mạnh, lùi sát mốc 4.000 USD/ounce

Giá vàng hôm nay ngày 30/6: Giá vàng thế giới giảm mạnh, lùi sát mốc 4.000 USD/ounce

(TBTCO) - Giá vàng thế giới giảm khoảng 60 USD/ounce so với sáng qua, lùi về sát ngưỡng 4.000 USD/ounce. Cùng diễn biến này, giá vàng trong nước cũng tiếp tục điều chỉnh giảm ở cả vàng miếng và vàng nhẫn.
Giá vàng hôm nay ngày 29/6: Giá vàng thế giới giảm, nhiều tổ chức hạ dự báo

Giá vàng hôm nay ngày 29/6: Giá vàng thế giới giảm, nhiều tổ chức hạ dự báo

(TBTCO) - Giá vàng thế giới giảm xuống quanh 4.066 USD/ounce, đồng thời nhiều tổ chức tài chính điều chỉnh giảm dự báo trong ngắn hạn. Trên thị trường trong nước, giá vàng tiếp tục ổn định tại các doanh nghiệp kinh doanh vàng.
Giá vàng hôm nay ngày 28/6: Giá vàng trong nước tăng tới 1,5 triệu đồng/lượng

Giá vàng hôm nay ngày 28/6: Giá vàng trong nước tăng tới 1,5 triệu đồng/lượng

(TBTCO) - Giá vàng miếng và vàng nhẫn trong nước đồng loạt tăng tại nhiều doanh nghiệp kinh doanh vàng, với mức điều chỉnh phổ biến 1,5 triệu đồng/lượng.
Giá vàng hôm nay ngày 27/6: Thế giới tăng nhẹ, trong nước đồng loạt tăng

Giá vàng hôm nay ngày 27/6: Thế giới tăng nhẹ, trong nước đồng loạt tăng

(TBTCO) - Giá vàng thế giới tiếp tục tăng gần 40 USD/ounce lên mức 4.072 USD/ounce. Trong nước, giá vàng miếng và vàng nhẫn cũng đảo chiều tăng tại nhiều doanh nghiệp.
Thị trường tiền tệ tuần 22 - 26/6: Đảo chiều bơm ròng gần 4.000 tỷ đồng qua OMO, tỷ giá trung tâm tăng 7 tuần

Thị trường tiền tệ tuần 22 - 26/6: Đảo chiều bơm ròng gần 4.000 tỷ đồng qua OMO, tỷ giá trung tâm tăng 7 tuần

(TBTCO) - Diễn biến nổi bật thị trường tiền tệ tuần qua từ ngày 22 - 26/6 cho thấy, Ngân hàng Nhà nước đảo chiều bơm ròng 3.961,15 tỷ đồng qua kênh OMO sau ba tuần hút ròng mạnh, kéo lãi suất qua đêm về 3,2%/năm. Tỷ giá trung tâm tăng tuần thứ 7 liên tiếp, song chỉ tăng 0,3% từ đầu năm. Nhiều khả năng nhà điều hành để tỷ giá biến động hơn nửa cuối năm, để hỗ trợ thanh khoản và giảm lãi suất.
Giá vàng hôm nay ngày 26/6: Giá vàng thế giới lấy lại mốc 4.000 USD/ounce, vàng trong nước tiếp tục giảm

Giá vàng hôm nay ngày 26/6: Giá vàng thế giới lấy lại mốc 4.000 USD/ounce, vàng trong nước tiếp tục giảm

(TBTCO) - Giá vàng thế giới phục hồi lên trên mốc 4.000 USD/ounce,trong khi giá vàng miếng và vàng nhẫn trong nước tiếp tục điều chỉnh giảm tại nhiều doanh nghiệp kinh doanh vàng.
Xem thêm
DOJI Giá mua Giá bán
SJC -Bán Lẻ 14,840 15,140
Kim TT/AVPL 14,840 15,140
NHẪN TRÒN 9999 HƯNG THỊNH VƯỢNG 14,840 15,140
Nguyên Liệu 99.99 13,600 13,800
Nguyên Liệu 99.9 13,550 13,750
NỮ TRANG 9999 - BÁN LẺ 14,100 14,600
NỮ TRANG 999 - BÁN LẺ 14,050 14,550
Nữ trang 99 - Bán Lẻ 13,980 14,530
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 148,400 151,400
Hà Nội - PNJ 148,400 151,400
Đà Nẵng - PNJ 148,400 151,400
Miền Tây - PNJ 148,400 151,400
Tây Nguyên - PNJ 148,400 151,400
Đông Nam Bộ - PNJ 148,400 151,400
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 14,840 15,140
Miếng SJC Nghệ An 14,840 15,140
Miếng SJC Thái Bình 14,840 15,140
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 14,790 ▲40K 15,140 ▲40K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 14,790 ▲40K 15,140 ▲40K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 14,790 ▲40K 15,140 ▲40K
NL 99.90 13,050
NL 99.99, Nhẫn Tròn Thái Bình 13,100
Trang sức 99.9 14,330 ▲40K 15,030 ▲40K
Trang sức 99.99 14,340 ▲40K 15,040 ▲40K
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,484 1,514
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,484 15,142
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,484 15,143
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,483 1,513
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,483 1,514
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,463 1,498
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 141,317 148,317
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 103,011 112,511
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 92,524 102,024
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 82,037 91,537
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 77,992 87,492
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 53,123 62,623
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,484 1,514
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,484 1,514
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,484 1,514
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,484 1,514
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,484 1,514
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,484 1,514
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,484 1,514
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,484 1,514
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,484 1,514
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,484 1,514
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,484 1,514
Cập nhật: 04/07/2026 22:30
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17714 17987 18563
CAD 17986 18261 18878
CHF 32079 32461 33102
CNY 0 3836 3930
EUR 29433 29654 30740
GBP 34300 34691 35629
HKD 0 3221 3424
JPY 156 160 166
KRW 0 16 18
NZD 0 14698 15294
SGD 19814 20096 20672
THB 707 771 825
USD (1,2) 26026 0 0
USD (5,10,20) 26067 0 0
USD (50,100) 26096 26110 26463
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,083 26,083 26,463
USD(1-2-5) 25,040 - -
USD(10-20) 25,040 - -
EUR 29,630 29,654 31,066
JPY 159.14 159.43 169.03
GBP 34,556 34,650 35,845
AUD 17,937 18,002 18,679
CAD 18,223 18,282 18,956
CHF 32,423 32,524 33,481
SGD 19,968 20,030 20,819
CNY - 3,806 3,951
HKD 3,286 3,296 3,434
KRW 15.88 16.56 18.02
THB 756.58 765.92 819.7
NZD 14,728 14,865 15,307
SEK - 2,683 2,778
DKK - 3,964 4,103
NOK - 2,637 2,730
LAK - 0.89 1.23
MYR 6,044.26 - 6,822.81
TWD 743.74 - 900.92
SAR - 6,885.97 7,252.22
KWD - 83,123 88,435
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,083 26,103 26,463
EUR 29,501 29,619 30,812
GBP 34,480 34,618 35,647
HKD 3,284 3,297 3,414
CHF 32,163 32,292 33,226
JPY 158.96 159.60 167.50
AUD 17,863 17,935 18,529
SGD 20,003 20,083 20,670
THB 773 776 812
CAD 18,203 18,276 18,845
NZD 14,742 15,279
KRW 16.34 17.96
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26095 26095 26463
AUD 17889 17989 18914
CAD 18186 18286 19302
CHF 32338 32368 33950
CNY 3816.3 3841.3 3976.8
CZK 0 1190 0
DKK 0 4025 0
EUR 29641 29671 31394
GBP 34613 34663 36421
HKD 0 3355 0
JPY 159.72 160.22 170.74
KHR 0 6.097 0
KRW 0 16.6 0
LAK 0 1.165 0
MYR 0 6600 0
NOK 0 2710 0
NZD 0 14821 0
PHP 0 395 0
SEK 0 2735 0
SGD 19986 20116 20847
THB 0 738.4 0
TWD 0 820 0
SJC 9999 14840000 14840000 15140000
SBJ 13000000 13000000 15140000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,100 26,150 26,463
USD20 26,100 26,150 26,463
USD1 26,100 26,150 26,463
AUD 17,926 18,026 19,164
EUR 29,701 29,771 31,222
CAD 18,122 18,222 19,556
SGD 20,056 20,206 20,789
JPY 160.12 161.62 166.39
GBP 34,481 34,831 35,753
XAU 14,838,000 0 15,142,000
CNY 0 3,724 0
THB 0 773 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 04/07/2026 22:30
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80