Ngân hàng Nhà nước yêu cầu khoanh nợ, tăng lực hỗ trợ miền Trung sau bão lũ

(TBTCO) - Ngân hàng Nhà nước yêu cầu các tổ chức tín dụng tiếp tục triển khai các giải pháp hỗ trợ khôi phục sản xuất kinh doanh và ổn định đời sống người dân miền Trung sau bão lũ. Trong đó, rà soát thiệt hại, hỗ trợ khoanh nợ theo quy định, trong bối cảnh nhiều ngân hàng đã giảm tới 2%/năm lãi suất cho vay để hỗ trợ người dân và doanh nghiệp.
aa

Ngân hàng Nhà nước yêu cầu giảm lãi vay đến 2%, cơ cấu nợ hỗ trợ khách hàng sau bão lũ

Doanh nghiệp bảo hiểm chủ động kế hoạch ứng phó khắc phục hậu quả bão, lũ Doanh nghiệp bảo hiểm cần tạm ứng bồi thường ngay cho khách hàng thiệt hại do bão lũ

Thực hiện chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ tại Công điện số 214/CĐ-TTg ngày 12/11/2025 về việc khẩn trương thống kê, đánh giá thiệt hại và tập trung khắc phục hậu quả bão, lũ tại khu vực Trung Bộ; Công điện số 215/CĐ-TTg ngày 13/11/2025 về tập trung khôi phục sản xuất kinh doanh, ổn định đời sống nhân dân sau bão lũ tại khu vực miền Trung, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam vừa ban hành Công văn số 10328/NHNN-TD.

Ngân hàng Nhà nước yêu cầu khoanh nợ, tăng lực hỗ trợ miền Trung sau bão lũ
Ngân hàng Nhà nước yêu cầu khoanh nợ, tăng lực hỗ trợ miền Trung sau bão lũ. Ảnh tư liệu.

Công văn này yêu cầu các tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài và Ngân hàng Nhà nước chi nhánh tại các Khu vực (8, 9, 10, 11) tiếp tục triển khai, thực hiện các giải pháp hỗ trợ tháo gỡ khó khăn theo chỉ đạo của Ngân hàng Nhà nước tại Công văn số 9651/NHNN-TD ngày 04/11/2025 đối với khách hàng tại các địa bàn thuộc khu vực miền Trung bị ảnh hưởng bởi bão số 12, 13 và mưa lũ tháng 10, tháng 11 năm 2025, bổ sung thêm các tỉnh, thành phố gồm: Khánh Hòa, Gia Lai, Đắk Lắk, Lâm Đồng.

Các tổ chức tín dụng chủ động rà soát tình hình thiệt hại về vốn vay của khách hàng để kịp thời báo cáo Ngân hàng Nhà nước chi nhánh tại khu vực tham mưu uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố chỉ đạo các tổ chức, cá nhân liên quan trên địa bàn hoàn thiện hồ sơ, trình tự, thủ tục khoanh nợ (nếu có) theo quy định tại Nghị định 55/2015/NĐ-CP ngày 09/6/2015 của Chính phủ về chính sách tín dụng phục vụ phát triển nông nghiệp, nông thôn được sửa đổi, bổ sung bởi Nghị định số 116/2018/NĐ-CP ngày 07/9/2018, Nghị định số 156/2025/NĐ-CP ngày 16/6/2025 và Thông tư 29/2025/TT-NHNN ngày 30/9/2025.

Ngân hàng Nhà nước yêu cầu Chủ tịch Hội đồng Quản trị/Hội đồng Thành viên, Tổng giám đốc các tổ chức tín dụng và Giám đốc Ngân hàng Nhà nước chi nhánh tại các Khu vực nêu trên khẩn trương triển khai thực hiện. Trong quá trình thực hiện, trường hợp phát sinh khó khăn, vướng mắc vượt thẩm quyền, các tổ chức tín dụng, Ngân hàng Nhà nước chi nhánh tại các Khu vực kịp thời báo cáo Ngân hàng Nhà nước để được xem xét, xử lý.

Trước đó, đầu tháng 11/2024, Ngân hàng Nhà nước ban hành Văn bản số 9651/NHNN-TD ngày 4/11/2025 yêu cầu các tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài và Ngân hàng Nhà nước chi nhánh tại các Khu vực (1, 3, 4, 5, 6, 7, 8, 9, 12) yêu cầu các tổ chức tín dụng giảm lãi suất cho vay từ 0,5 - 2%/năm trong 3 - 6 tháng đối với khách hàng bị thiệt hại bởi bão, lũ; cơ cấu lại thời hạn trả nợ, miễn giảm lãi phí và triển khai gói tín dụng ưu đãi để khôi phục sản xuất, kinh doanh.

Nhiều tổ chức tín dụng chủ động triển khai chính sách giảm tới 2%/năm lãi suất cho vay hỗ trợ khách hàng bị ảnh hưởng bởi bão lũ, giúp người dân, doanh nghiệp sớm ổn định đời sống, khôi phục hoạt động sản xuất kinh doanh.

Đơn cử, Agribank chỉ đạo các chi nhánh triển khai các giải pháp hỗ trợ đối với khách hàng bị thiệt hại về người, tài sản, vật tư, cây trồng, vật nuôi, cơ sở sản xuất kinh doanh trên địa bàn các tỉnh, thành phố trực tiếp bị ảnh hưởng gồm: Hà Tĩnh, Quảng Trị, Huế, Đà Nẵng, Quảng Ngãi, Gia Lai, Đắk Lắk, Khánh Hoà, Lâm Đồng.

Theo đó, với dư nợ hiện hữu tại thời điểm 19/11/2025 (không bao gồm các khoản vay đang áp dụng các chương trình ưu đãi lãi suất khác tại Agribank), căn cứ mức độ thiệt hại của khách hàng, Agribank điều chỉnh giảm từ 0,5% đến 2%/năm lãi suất cho vay, không thu lãi chậm trả; đồng thời điều chỉnh lãi suất quá hạn bằng 100% lãi suất cho vay trong hạn trong thời gian 3 tháng, từ ngày 19/11/2025 đến 18/02/2026.

Đối với khoản vay mới phát sinh từ ngày 19/11 đến 31/12/2025 (không bao gồm các khoản vay được áp dụng các chương trình ưu đãi lãi suất khác tại Agribank), Agribank giảm 0,5%/năm lãi suất cho vay so với lãi suất áp dụng tại thời điểm giải ngân, áp dụng trong thời gian tối đa 6 tháng kể từ ngày giải ngân.

Cùng với chính sách giảm lãi suất cho vay, Agribank còn triển khai nhiều giải pháp hỗ trợ khác như: cho vay mới, cho vay tháo gỡ khó khăn, cơ cấu lại thời hạn trả nợ, miễn giảm lãi, phí, khoanh nợ theo quy định của pháp luật và của Agribank.

VPBank cũng công bố triển khai gói hỗ trợ lãi suất với tổng giá trị dư nợ lên tới 1.000 tỷ đồng dành cho khách hàng cá nhân bị ảnh hưởng bởi bão lũ tại 15 tỉnh, thành trên cả nước. Đối tượng áp dụng là khách hàng cá nhân có khoản vay thế chấp tại VPBank và thuộc danh sách bị ảnh hưởng bởi bão lũ, được điều chỉnh giảm biên độ lãi suất tương ứng với thời hạn khoản vay. Với khoản vay có thời gian còn lại trên 12 tháng, mức giảm là 1% liên tiếp trong 6 tháng; đối với khoản vay ngắn hạn có thời gian còn lại đến 12 tháng, mức giảm là 0,5% trong 3 tháng.

Còn BacABank công bố tổng hạn mức chương trình 3.000 tỷ đồng hỗ trợ khách hàng khắc phục hậu quả thiên tai bão lũ năm 2025. Lãi suất cho vay tối đã giảm 1%/năm áp dụng hết ngày 30/6/2026./.

Ngân hàng Nhà nước chi nhánh tại các Khu vực (8, 9, 10, 11) có địa bàn quản lý tại các tỉnh, thành phố: Hà Tĩnh, Quảng Trị, Huế, Quảng Ngãi, Đà Nẵng, Khánh Hòa, Gia Lai, Đắk Lắk, Lâm Đồng./.

Ánh Tuyết

Đọc thêm

Daiichi Life Việt Nam khai trương văn phòng và ra mắt nhận diện thương hiệu mới

Daiichi Life Việt Nam khai trương văn phòng và ra mắt nhận diện thương hiệu mới

(TBTCO) - Công ty TNHH Bảo hiểm Nhân thọ Daiichi Việt Nam (Daiichi Life Việt Nam) vừa chính thức ra mắt nhận diện thương hiệu mới tại Trụ sở chính TP. Hồ Chí Minh và khai trương Văn phòng Chi nhánh Hà Nội mới tại tòa nhà BRG Diamond Park Plaza.
Vạn dặm gắn kết: Khi yêu thương được gửi trao bằng hành động thiết thực

Vạn dặm gắn kết: Khi yêu thương được gửi trao bằng hành động thiết thực

(TBTCO) - Trên hành trình đồng hành cùng cộng đồng, những giá trị bền vững thường được tạo nên từ sự thấu hiểu nhu cầu địa phương và những hành động thiết thực.
Đầu tư tài chính giữ nhịp lợi nhuận MVI Life trước khi đổi chủ, “khoác áo” Asahi Life

Đầu tư tài chính giữ nhịp lợi nhuận MVI Life trước khi đổi chủ, “khoác áo” Asahi Life

Asahi Mutual Life (Nhật Bản) vừa hoàn tất mua lại 100% vốn MVI Life, đồng thời đổi tên doanh nghiệp thành Asahi Life. Thương vụ đánh dấu bước ngoặt mới trong hành trình nhiều lần thay đổi chủ sở hữu và thương hiệu của doanh nghiệp bảo hiểm nhân thọ này. Nửa đầu năm 2026, doanh nghiệp lãi trước thuế 191,2 tỷ đồng, với danh mục đầu tư hơn 16.300 tỷ đồng.
Vietnam Airlines lãi gần 4.700 tỷ đồng, trên nền doanh thu trăm nghìn tỷ và nhân đôi danh mục đầu tư

Vietnam Airlines lãi gần 4.700 tỷ đồng, trên nền doanh thu trăm nghìn tỷ và nhân đôi danh mục đầu tư

(TBTCO) - Lũy kế 9 tháng năm 2026, Vietnam Airlines đạt doanh thu thuần 114.264,6 tỷ đồng, tăng 28,5% so với cùng kỳ, hướng tới năm thứ ba liên tiếp vượt mốc 100.000 tỷ đồng. Lợi nhuận trước thuế hợp nhất của Hãng đạt 4.652,4 tỷ đồng, được hỗ trợ bởi nguồn thu tài chính với danh mục đầu tư tăng hơn gấp đôi lên 16.853 tỷ đồng.
Tín dụng MB tăng gần 19% vượt 1,3 triệu tỷ đồng, thu nhập lãi thuần dẫn dắt tăng trưởng

Tín dụng MB tăng gần 19% vượt 1,3 triệu tỷ đồng, thu nhập lãi thuần dẫn dắt tăng trưởng

(TBTCO) - Lũy kế 9 tháng năm 2026, ngân hàng MB báo lãi trước thuế đạt 30.518,4 tỷ đồng, tăng 31,9% cùng kỳ, với động lực từ thu nhập lãi thuần. Đáng chú ý, thu nhập lãi và các khoản tương tự lần đầu vượt 100.000 tỷ đồng, cao hơn cả năm 2025, trong bối cảnh tổng tín dụng đạt hơn 1,31 triệu tỷ đồng, tăng 18,9% so với đầu năm.
ABBank kết nối hệ sinh thái, gia tăng giải pháp tài chính cho khách hàng

ABBank kết nối hệ sinh thái, gia tăng giải pháp tài chính cho khách hàng

(TBTCO) - Liên tiếp ký kết hợp tác với 4 đối tác trong lĩnh vực bảo hiểm, tư vấn tài chính, công nghệ và Đại học Kinh tế Quốc dân, ABBank mở rộng liên kết nguồn lực, phát triển hệ sinh thái dịch vụ tài chính đa dạng, đồng thời đầu tư đào tạo, nghiên cứu và tạo cơ hội nghề nghiệp cho nguồn nhân lực trẻ.
Doanh nghiệp muốn vay vốn phải minh bạch, không có chuyện hai bảng cân đối kế toán

Doanh nghiệp muốn vay vốn phải minh bạch, không có chuyện hai bảng cân đối kế toán

(TBTCO) - Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Phạm Đức Ấn cho biết doanh nghiệp phải minh bạch tài chính, chứng minh khả năng trả nợ để ngân hàng có cơ sở cấp tín dụng. Không thể có tình trạng doanh nghiệp dùng một bảng cân đối kế toán để nộp thuế, một bảng để vay ngân hàng.
Eximbank công bố kết quả kinh doanh Quý III: Tiếp tục định hướng phát triển thận trọng và bền vững

Eximbank công bố kết quả kinh doanh Quý III: Tiếp tục định hướng phát triển thận trọng và bền vững

(TBTCO) - Trong 9 tháng đầu năm 2026, Eximbank ghi nhận tổng thu nhập hoạt động thuần đạt 4.692 tỷ đồng. Ngân hàng tiếp tục tăng cường kỷ luật tài chính, tối ưu hóa vận hành với chi phí hoạt động ở mức 2.831 tỷ đồng, giảm 1,9% so với cùng kỳ, đồng thời duy trì nguồn lực đầu tư cho các sáng kiến chiến lược.
Xem thêm
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 134,000 138,000
Hà Nội - PNJ 134,000 138,000
Đà Nẵng - PNJ 134,000 138,000
Miền Tây - PNJ 134,000 138,000
Tây Nguyên - PNJ 134,000 138,000
Đông Nam Bộ - PNJ 134,000 138,000
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 13,700 14,000
Miếng SJC Nghệ An 13,700 14,000
Miếng SJC Thái Bình 13,700 14,000
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 13,500 13,900
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 13,500 13,900
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 13,500 13,900
Trang sức 99.9 13,180 13,780
Trang sức 99.99 13,190 13,790
Vàng 99.9 12,650
Vàng 99.99 12,800
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 137 140
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 137 14,002
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 137 14,003
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,328 1,368
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,328 1,369
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,308 1,358
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 127,455 134,455
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 9,221 10,201
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 82,703 92,503
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 73,196 82,996
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 69,529 79,329
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 46,984 56,784
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 137 140
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 137 140
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 137 140
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 137 140
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 137 140
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 137 140
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 137 140
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 137 140
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 137 140
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 137 140
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 137 140
Cập nhật: 03/11/2026 06:00
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17528 17801 18387
CAD 17901 18176 18793
CHF 30738 31115 31762
CNY 0 3834 3930
EUR 28247 28463 29543
GBP 33741 34130 35065
HKD 0 3154 3357
JPY 156 160 167
KRW 0 18 20
NZD 0 14176 14766
SGD 19608 19889 20459
THB 679 742 795
USD (1,2) 25514 0 0
USD (5,10,20) 25552 0 0
USD (50,100) 25579 25593 25963
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 25,605 25,605 25,985
USD(1-2-5) 24,581 - -
USD(10-20) 24,581 - -
EUR 28,276 28,299 29,643
JPY 158.92 159.21 168.85
GBP 33,933 34,025 35,220
AUD 17,760 17,824 18,499
CAD 18,098 18,156 18,829
CHF 30,935 31,031 31,945
SGD 19,747 19,808 20,593
CNY - 3,805 3,952
HKD 3,220 3,230 3,366
KRW 17.69 18.45 20.08
THB 727.78 736.77 788.72
NZD 14,164 14,296 14,719
SEK - 2,586 2,678
DKK - 3,793 3,927
NOK - 2,751 2,849
LAK - 0.87 1.21
MYR 5,920.63 - 6,686.79
TWD 713.93 - 865.04
SAR - 6,754.63 7,116.3
KWD - 81,450 86,680
AED - 6,768 7,294
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 25,580 25,610 25,990
EUR 28,221 28,363 29,591
GBP 33,895 34,065 35,100
HKD 3,215 3,234 3,352
CHF 30,727 30,881 31,829
JPY 158.68 160.28 168.26
AUD 17,756 17,881 18,479
SGD 19,728 19,907 20,504
THB 732 747 784
CAD 18,082 18,209 18,807
NZD 14,263 14,818
KRW 18.60 20.58
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 25560 25590 25960
AUD 17749 17849 18774
CAD 18104 18204 19217
CHF 31010 31040 32618
CNY 3817.5 3842.5 3977.5
CZK 0 1130 0
DKK 0 3845 0
EUR 28470 28500 30222
GBP 34095 34145 35903
HKD 0 3300 0
JPY 159.69 160.19 170.73
KHR 0 6.097 0
KRW 0 19 0
LAK 0 1.0945 0
MYR 0 6450 0
NOK 0 2778 0
NZD 0 14322 0
PHP 0 373 0
SEK 0 2605 0
SGD 19776 19906 20637
THB 0 708.3 0
TWD 0 785 0
SJC 9999 13800000 13800000 14100000
SBJ 12000000 12000000 14100000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 25,500 25,620 25,920
USD20 25,470 25,620 25,920
USD1 25,450 25,620 25,920
AUD 17,715 17,865 18,697
EUR 28,152 28,252 29,924
CAD 18,054 18,154 19,466
SGD 19,866 20,016 20,900
JPY 160.41 161.91 167.53
GBP 33,928 34,078 35,461
XAU 13,698,000 0 14,002,000
CNY 0 3,795 0
THB 0 744 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 03/11/2026 06:00
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
BIDV 0,10 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
VietinBank 0,10 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
Agribank 0,20 - - - 2,60 2,60 2,90 4,00 4,00 5,90 6,00
ACB 0,50 - - - 4,00 4,20 4,40 4,50 4,70 5,30 5,40
Sacombank 0,50 - - - 4,75 4,75 4,75 6,30 6,30 6,10 6,80
Techcombank 0,05 - - - 4,20 4,20 4,50 6,20 6,20 6,40 5,50
LPBank 0,20 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 4,60 4,60
Vikki Bank 0,49 0,49 - - 4,64 4,64 4,64 5,75 5,52 5,76 5,43
Eximbank 0,20 0,20 0,20 0,20 2,80 3,00 3,10 4,20 4.00 4,70 5,30