Tín dụng ngân hàng Khu vực 15 sắp chạm mốc 400 nghìn tỷ đồng, tạo lực đẩy cho tăng trưởng

(TBTCO) - Các tổ chức tín dụng trên địa bàn Ngân hàng Nhà nước Khu vực 15 tiếp tục giữ vai trò chủ lực trong dẫn vốn tín dụng phục vụ phát triển kinh tế tại An Giang và Cà Mau. Đến cuối tháng 7/2025, dư nợ toàn khu vực đạt gần 391.000 tỷ đồng, tăng 3,55%, tập trung vào các lĩnh vực sản xuất kinh doanh, công trình trọng điểm và nông sản chủ lực.
aa

Sau khi sắp xếp, tổ chức lại đơn vị hành chính 2 cấp từ ngày 1/7, Ngân hàng Nhà nước chi nhánh Khu vực 15 có hai tỉnh gồm An Giang (sáp nhập tỉnh Kiên Giang và An Giang) và Cà Mau (sáp nhập tỉnh Bạc Liêu và Cà Mau). Đây là 2/6 tỉnh thuộc khu vực Đồng bằng sông Cửu Long, với tổng diện tích tự nhiên 17.831 km2, chiếm 39,7% diện tích toàn vùng. Trong đó, tỉnh An Giang (mới) có quy mô dân số và diện tích lớn nhất vùng; tỉnh Cà Mau (mới) đứng thứ 3/6 về diện tích, thứ 6/6 về dân số.

Tín dụng đưa nông - thủy sản vươn xa, góp lực cho GDP

Tỉnh An Giang xác định tầm nhìn trở thành một trung tâm phát triển năng động, toàn diện và bền vững của vùng, giữ vai trò kết nối chiến lược Đông - Tây, biển - biên giới, đô thị - nông thôn, dịch vụ - sản xuất - du lịch, hướng đến mục tiêu trở thành trung tâm kinh tế biển quốc gia; động lực phát triển công nghiệp, logistics và văn hóa toàn vùng.

Còn tỉnh Cà Mau định hướng phát triển kinh tế hội tụ đầy đủ các ngành, lĩnh vực trọng điểm như: nông nghiệp, công nghiệp, phát triển năng lượng tái tạo, năng lượng sạch, du lịch, kinh tế biển và kết cấu hạ tầng đồng bộ, đặc biệt là phát triển kinh tế biển.

Theo số liệu thống kê từ Chi cục Thống kê, 6 tháng đầu năm 2025, kinh tế - xã hội hai tỉnh trong khu vực phát triển tích cực. Theo đó, GRDP An Giang tăng khoảng 8,12%; GRDP Cà Mau tăng khoảng 7,09%. Nguồn vốn tín dụng từ hệ thống ngân hàng là một trong những yếu tố then chốt góp phần tạo nên sức bật tăng trưởng nửa đầu năm.

Dư nợ tín dụng Khu vực 15 tăng 3,55%, An Giang chiếm gần 70%

Số liệu từ Ngân hàng Nhà nước Khu vực 15, tính đến cuối tháng 7/2025, dư nợ tín dụng khu vực ước đạt 390.600 tỷ đồng, tăng 0,52% so tháng trước và tăng 3,55% so cuối năm 2024. Trong đó, dư nợ tín dụng An Giang ước đạt 267.400 tỷ đồng, tăng 2,6% so cuối năm 2024, chiếm 68,5% tổng dư nợ tín dụng Khu vực 15; Cà Mau ước đạt 123.200 tỷ đồng, tăng 5,68% và chiếm 31,5%.

Được tiếp sức bởi dòng vốn tín dụng kịp thời và ổn định, Công ty cổ phần Rau quả Thực phẩm An Giang (Antesco) mạnh dạn mở rộng quy mô sản xuất, hiện quản lý hơn 10.000 ha vùng nguyên liệu, liên kết với hơn 6.000 hộ nông dân và hợp tác xã, tạo việc làm cho trên 20.000 lao động.

Nguồn vốn tín dụng cũng góp phần quan trọng giúp doanh nghiệp đẩy nhanh quá trình chuyển đổi số, kiểm soát quy trình sản xuất chặt chẽ, đáp ứng các tiêu chuẩn an toàn nông dược quốc tế, đây là điều kiện tiên quyết để giữ vững thị trường xuất khẩu.

Tổng Giám đốc Antesco Nguyễn Hoàng Minh cho biết, với sản lượng trên 100.000 tấn nguyên liệu mỗi năm, số hóa là yếu tố bắt buộc để quản lý hiệu quả, với ba mô hình đang triển khai gồm: quản trị văn phòng, sản xuất và kiểm soát chi phí. Doanh nghiệp cũng tích cực hỗ trợ nông dân sử dụng điện thoại thông minh để kết nối sản xuất - tiêu thụ, đồng thời ứng dụng kỹ thuật hiện đại vào canh tác.

dư nợ tín dụng khu vực 15 ước đạt 390.600 tỷ đồng
Tàu vào bến chở gạo thu hoạch từ cánh đồng Châu Phú theo Đề án 1 triệu ha lúa chất lượng cao, phát thải thấp. Ảnh: T.L.

Song song với đó, hai tỉnh đang triển khai Đề án “Phát triển bền vững 1 triệu ha lúa chất lượng cao, phát thải thấp gắn với tăng trưởng xanh vùng Đồng bằng sông Cửu Long đến năm 2030”. Nhờ sự đồng hành của nguồn vốn tín dụng từ các ngân hàng, nhiều hộ nông dân và hợp tác xã có điều kiện chuyển đổi tư duy sản xuất, ứng dụng khoa học - công nghệ, nâng cao giá trị nông sản và mở rộng liên kết tiêu thụ bền vững.

Nhờ những chuyển biến tích cực này, dư nợ cho vay ngành lúa gạo tại khu vực 15 đạt 31.463 tỷ đồng, chiếm 13,77% tổng dư nợ toàn khu vực.

An Giang và Cà Mau được thiên nhiên ưu đãi với cả ba loại hình môi trường nuôi thủy sản gồm nước ngọt, mặn và lợ, cùng bờ biển dài hơn 200 km và ngư trường rộng trên 63.000 km2, tạo điều kiện tốt phát triển ngành thủy sản, phục vụ chế biến xuất khẩu lẫn tiêu thụ ở thị trường trên 101 triệu dân của Việt Nam.

Về ngành hàng xuất khẩu cá tra, An Giang có 18 doanh nghiệp với 23 nhà máy, công suất chế biến trên 350.000 tấn/năm. Các tổ chức tín dụng trên địa bàn khu vực đẩy mạnh cho vay lĩnh vực thủy hải sản trên địa bàn, với dư nợ ngành thủy sản đạt 78.693 tỷ đồng, chiếm 20,8% tổng dư nợ.

Tính đến cuối tháng 7, theo số liệu từ Ngân hàng Nhà nước Khu vực 15, dư nợ tín dụng ngành nông nghiệp, lâm nghiệp và thủy sản đạt 80.940 tỷ đồng, tăng 2,1% so cuối năm 2024, chiếm 20,8% tổng dư nợ tín dụng Khu vực 15.

Dư nợ tín dụng ngành công nghiệp và xây dựng đạt 52.174 tỷ đồng, tăng 1,91% so cuối năm 2024, chiếm 13,4%. Tín dụng ngành thương mại và dịch vụ đạt 255.470 tỷ đồng, tăng 3,55% và chiếm 65,79%.

Định hướng tín dụng cuối năm, kiểm soát chặt lĩnh vực rủi ro

Để hiện thực hóa mục tiêu tăng trưởng GRDP của hai tỉnh, ngoài nguồn lực đầu tư công của Chính phủ, hệ thống ngân hàng Khu vực 15 tiếp thêm động lực tăng trưởng kinh tế địa phương bằng giải pháp đồng bộ, tăng tốc dư nợ tín dụng vào các động lực tăng trưởng. Trong đó, ưu tiên cho vay phát triển hạ tầng mang tính chiến lược, trong đó có cao tốc Châu Đốc - Cần Thơ - Sóc Trăng, các tuyến đường kết nối vùng, liên kết đến các vùng nuôi, nhà máy, kho lạnh, cảng sông, cảng biển.

Tháng 12/2025, dự án cao tốc Châu Đốc - Cần Thơ - Sóc Trăng dự kiến khánh thành và đưa vào khai thác, góp phần rút ngắn thời gian vận chuyển, giảm chi phí logistics, tăng năng lực cạnh tranh cho ngành thủy sản của tỉnh.

dư nợ tín dụng khu vực 15 ước đạt 390.600 tỷ đồng
Ngư dân nuôi cá lồng trên biển Kiên Hải. Ảnh: T.L.

Giai đoạn cuối năm, Ngân hàng Nhà nước Khu vực 15 triển khai các giải pháp tăng trưởng tín dụng an toàn, hiệu quả, nâng cao chất lượng tín dụng. Cùng với đó, cân đối nguồn vốn đáp ứng nhu cầu vốn tín dụng cho nền kinh tế, hướng tín dụng vào các lĩnh vực sản xuất kinh doanh, lĩnh vực ưu tiên và các động lực tăng trưởng kinh tế, các chương trình, chính sách tín dụng theo chỉ đạo của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ; kiểm soát chặt chẽ tín dụng vào các lĩnh vực tiềm ẩn rủi ro.

Chú trọng đầu tư tín dụng vào các dự án, công trình trọng điểm khả thi phục vụ phát triển kinh tế của khu vực như: phát triển kinh tế biển, công nghiệp, logistics, phát triển năng lượng tái tạo, năng lượng sạch, du lịch... và các mặt hàng nông sản chủ lực như: lúa gạo, thủy sản...

Tạo thuận lợi tiếp cận vốn, không nới lỏng điều kiện tín dụng

Nửa cuối năm 2025, các tổ chức tín dụng tiếp tục tạo điều kiện thuận lợi cho khách hàng tiếp cận nguồn vốn tín dụng ngân hàng trên cơ sở rà soát, đơn giản hóa thủ tục, hồ sơ vay vốn, tài sản bảo đảm.... theo hướng dẫn của Hội sở chính, đi đôi với việc tuân thủ các quy định của pháp luật, không nới lỏng các điều kiện cấp tín dụng để đảm bảo an toàn hoạt động, hạn chế nợ xấu phát sinh. Chủ động triển khai, tăng cường hoạt động kết nối ngân hàng - doanh nghiệp bằng hình thức phù hợp./.

ThS. Trần Trọng Triết - Ngân hàng Nhà nước Khu vực 15

Đọc thêm

Chi trả quyền lợi bảo hiểm: Thước đo thật sự của niềm tin trong ngành bảo hiểm nhân thọ

Chi trả quyền lợi bảo hiểm: Thước đo thật sự của niềm tin trong ngành bảo hiểm nhân thọ

(TBTCO) - Ghi nhận chi trả quyền lợi bảo hiểm lên tới 16.489 tỷ đồng trong năm 2025, duy trì biên khả năng thanh toán trên 200% và đứng đầu thị trường về chỉ số rNPS – Prudential Việt Nam đang cho thấy niềm tin trong ngành bảo hiểm nhân thọ không đến từ quảng cáo, mà được xây dựng bằng năng lực thực hiện cam kết dài hạn với khách hàng.
Tỷ giá USD hôm nay (9/5): USD tự do lao dốc gần 300 đồng tuần qua, DXY suy yếu lùi về dưới 98 điểm

Tỷ giá USD hôm nay (9/5): USD tự do lao dốc gần 300 đồng tuần qua, DXY suy yếu lùi về dưới 98 điểm

(TBTCO) - Sáng ngày 9/5, tỷ giá trung tâm do Ngân hàng Nhà nước công bố ở mức 25.112 đồng trong phiên cuối tuần, trong khi USD tự do giảm sâu gần 300 đồng sau một tuần. Chỉ số DXY chốt tuần tại 97,86 điểm, giảm 0,19%, khi căng thẳng Trung Đông có tín hiệu hạ nhiệt, dù vẫn nhiều bất định để đạt thỏa thuận ngừng bắn lâu dài giữa Mỹ và Iran.
Giá vàng hôm nay ngày 9/5: Giá vàng trong nước neo quanh ngưỡng 164,5 - 167,5 triệu đồng/lượng

Giá vàng hôm nay ngày 9/5: Giá vàng trong nước neo quanh ngưỡng 164,5 - 167,5 triệu đồng/lượng

(TBTCO) - Giá vàng trong nước sáng ngày 9/5 đi ngang quanh ngưỡng 164,5 - 167,5 triệu đồng/lượng. Trong khi đó, giá vàng thế giới tiếp tục dao động ở vùng cao trước các yếu tố địa chính trị và kỳ vọng lãi suất của Fed.
Thông báo về việc thay đổi tên gọi và địa điểm đặt trụ sở các phòng giao dịch MBV

Thông báo về việc thay đổi tên gọi và địa điểm đặt trụ sở các phòng giao dịch MBV

(TBTCO) - Ngân hàng TNHH MTV Việt Nam Hiện Đại (MBV) trân trọng thông báo về việc thay đổi tên gọi và địa điểm đặt trụ sở các phòng giao dịch (PGD) trực thuộc.
Áp lực và cơ hội song hành, ngân hàng “big 4” bước vào chu kỳ tăng vốn mới

Áp lực và cơ hội song hành, ngân hàng “big 4” bước vào chu kỳ tăng vốn mới

(TBTCO) - Khối lợi nhuận tích lũy chưa phân phối cao vượt trội cùng cơ chế mới và yêu cầu nâng chuẩn hệ số an toàn vốn (CAR) đang tạo lực đẩy mạnh cho nhóm ngân hàng “big 4” bước vào chu kỳ tăng vốn mới.
Không để gián đoạn quyền lợi người hưởng khi giấy ủy quyền nhận lương hưu hết hiệu lực

Không để gián đoạn quyền lợi người hưởng khi giấy ủy quyền nhận lương hưu hết hiệu lực

(TBTCO) - Trước thời điểm 1/7/2026, nhiều trường hợp ủy quyền nhận lương hưu, trợ cấp bảo hiểm xã hội hằng tháng có thể hết hiệu lực theo quy định của Luật Bảo hiểm xã hội năm 2024. Bảo hiểm xã hội Việt Nam chỉ đạo bảo hiểm xã hội các tỉnh, thành phố chủ động rà soát, phối hợp hỗ trợ người hưởng lập lại văn bản ủy quyền hoặc chuyển sang nhận qua tài khoản cá nhân, bảo đảm chi trả đúng người, đúng chế độ, không để gián đoạn việc chi trả.
"Tân binh" tăng vốn, thị phần bảo hiểm nhân thọ biến động mạnh

"Tân binh" tăng vốn, thị phần bảo hiểm nhân thọ biến động mạnh

(TBTCO) - Thị trường bảo hiểm nhân thọ hai tháng đầu năm 2026 ghi nhận doanh thu khai thác mới giảm hơn 12%, nhưng cuộc đua thị phần ngày càng sôi động, với sự nổi lên của “tân binh”.
Agribank được Moody’s Ratings điều chỉnh triển vọng xếp hạng từ “Ổn định” lên “Tích cực”

Agribank được Moody’s Ratings điều chỉnh triển vọng xếp hạng từ “Ổn định” lên “Tích cực”

(TBTCO) - Ngày 5/5/2026, tổ chức xếp hạng tín nhiệm quốc tế Moody's Ratings công bố điều chỉnh triển vọng xếp hạng của Agribank từ “Ổn định” lên “Tích cực”, đồng thời giữ nguyên xếp hạng tiền gửi dài hạn của Agribank ở mức Ba2 và Đánh giá tín nhiệm cơ sở (BCA) ở mức b1.
Xem thêm

Mới nhất Đọc nhiều

DOJI Giá mua Giá bán
SJC -Bán Lẻ 16,450 16,750
Kim TT/AVPL 16,450 16,750
NHẪN TRÒN 9999 HƯNG THỊNH VƯỢNG 16,450 16,750
Nguyên Liệu 99.99 15,400 15,600
Nguyên Liệu 99.9 15,350 15,550
NỮ TRANG 9999 - BÁN LẺ 16,200 16,600
NỮ TRANG 999 - BÁN LẺ 16,150 16,550
Nữ trang 99 - Bán Lẻ 16,080 16,530
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 164,300 167,300
Hà Nội - PNJ 164,300 167,300
Đà Nẵng - PNJ 164,300 167,300
Miền Tây - PNJ 164,300 167,300
Tây Nguyên - PNJ 164,300 167,300
Đông Nam Bộ - PNJ 164,300 167,300
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 16,450 16,750
Miếng SJC Nghệ An 16,450 16,750
Miếng SJC Thái Bình 16,450 16,750
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 16,450 16,750
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 16,450 16,750
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 16,450 16,750
NL 99.90 15,150
NL 99.99, Nhẫn Tròn Thái Bình 15,200
Trang sức 99.9 15,940 16,640
Trang sức 99.99 15,950 16,650
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,645 1,675
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,645 16,752
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,645 16,753
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 164 167
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 164 1,671
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 162 1,655
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 157,361 163,861
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 115,387 124,287
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 103,801 112,701
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 92,215 101,115
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 87,746 96,646
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 6,027 6,917
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,645 1,675
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,645 1,675
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,645 1,675
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,645 1,675
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,645 1,675
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,645 1,675
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,645 1,675
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,645 1,675
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,645 1,675
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,645 1,675
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,645 1,675
Cập nhật: 11/05/2026 00:30
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 18518 18795 19385
CAD 18699 18977 19594
CHF 33218 33605 34257
CNY 0 3827 3920
EUR 30361 30636 31675
GBP 35052 35447 36387
HKD 0 3229 3432
JPY 161 165 171
KRW 0 17 18
NZD 0 15381 15977
SGD 20212 20496 21029
THB 731 794 849
USD (1,2) 26038 0 0
USD (5,10,20) 26079 0 0
USD (50,100) 26108 26127 26367
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,117 26,117 26,367
USD(1-2-5) 25,073 - -
USD(10-20) 25,073 - -
EUR 30,444 30,468 31,764
JPY 163.58 163.87 172.93
GBP 35,183 35,278 36,312
AUD 18,708 18,776 19,389
CAD 18,956 19,017 19,619
CHF 33,426 33,530 34,337
SGD 20,354 20,417 21,117
CNY - 3,803 3,928
HKD 3,300 3,310 3,432
KRW 16.53 17.24 18.66
THB 778.98 788.6 841.14
NZD 15,357 15,500 15,879
SEK - 2,801 2,885
DKK - 4,074 4,197
NOK - 2,791 2,875
LAK - 0.92 1.27
MYR 6,288.73 - 7,064.1
TWD 758.45 - 914.22
SAR - 6,910.9 7,242.58
KWD - 83,802 88,718
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,107 26,127 26,367
EUR 30,300 30,422 31,604
GBP 35,039 35,180 36,191
HKD 3,292 3,305 3,420
CHF 33,133 33,266 34,211
JPY 163.73 164.39 171.87
AUD 18,621 18,696 19,293
SGD 20,378 20,460 21,047
THB 795 798 833
CAD 18,918 18,994 19,571
NZD 0 15,386 15,922
KRW 0 17.22 18.93
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26209 26209 26367
AUD 18682 18782 19710
CAD 18925 19025 20040
CHF 33411 33441 35024
CNY 3807.6 3832.6 3967.8
CZK 0 1220 0
DKK 0 4140 0
EUR 30511 30541 32266
GBP 35312 35362 37122
HKD 0 3355 0
JPY 164.35 164.85 175.39
KHR 0 6.097 0
KRW 0 17.6 0
LAK 0 1.165 0
MYR 0 6840 0
NOK 0 2772 0
NZD 0 15488 0
PHP 0 400 0
SEK 0 2840 0
SGD 20369 20499 21227
THB 0 761.7 0
TWD 0 820 0
SJC 9999 16400000 16400000 16700000
SBJ 14000000 14000000 16700000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,134 26,184 26,367
USD20 26,134 26,184 26,367
USD1 23,857 26,184 26,367
AUD 18,734 18,834 19,942
EUR 30,657 30,657 32,068
CAD 18,872 18,972 20,280
SGD 20,448 20,598 21,490
JPY 164.89 166.39 170.97
GBP 35,216 35,566 36,430
XAU 16,448,000 0 16,752,000
CNY 0 3,717 0
THB 0 797 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 11/05/2026 00:30
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80