Tín dụng ngân hàng Khu vực 15 sắp chạm mốc 400 nghìn tỷ đồng, tạo lực đẩy cho tăng trưởng

(TBTCO) - Các tổ chức tín dụng trên địa bàn Ngân hàng Nhà nước Khu vực 15 tiếp tục giữ vai trò chủ lực trong dẫn vốn tín dụng phục vụ phát triển kinh tế tại An Giang và Cà Mau. Đến cuối tháng 7/2025, dư nợ toàn khu vực đạt gần 391.000 tỷ đồng, tăng 3,55%, tập trung vào các lĩnh vực sản xuất kinh doanh, công trình trọng điểm và nông sản chủ lực.
aa

Sau khi sắp xếp, tổ chức lại đơn vị hành chính 2 cấp từ ngày 1/7, Ngân hàng Nhà nước chi nhánh Khu vực 15 có hai tỉnh gồm An Giang (sáp nhập tỉnh Kiên Giang và An Giang) và Cà Mau (sáp nhập tỉnh Bạc Liêu và Cà Mau). Đây là 2/6 tỉnh thuộc khu vực Đồng bằng sông Cửu Long, với tổng diện tích tự nhiên 17.831 km2, chiếm 39,7% diện tích toàn vùng. Trong đó, tỉnh An Giang (mới) có quy mô dân số và diện tích lớn nhất vùng; tỉnh Cà Mau (mới) đứng thứ 3/6 về diện tích, thứ 6/6 về dân số.

Tín dụng đưa nông - thủy sản vươn xa, góp lực cho GDP

Tỉnh An Giang xác định tầm nhìn trở thành một trung tâm phát triển năng động, toàn diện và bền vững của vùng, giữ vai trò kết nối chiến lược Đông - Tây, biển - biên giới, đô thị - nông thôn, dịch vụ - sản xuất - du lịch, hướng đến mục tiêu trở thành trung tâm kinh tế biển quốc gia; động lực phát triển công nghiệp, logistics và văn hóa toàn vùng.

Còn tỉnh Cà Mau định hướng phát triển kinh tế hội tụ đầy đủ các ngành, lĩnh vực trọng điểm như: nông nghiệp, công nghiệp, phát triển năng lượng tái tạo, năng lượng sạch, du lịch, kinh tế biển và kết cấu hạ tầng đồng bộ, đặc biệt là phát triển kinh tế biển.

Theo số liệu thống kê từ Chi cục Thống kê, 6 tháng đầu năm 2025, kinh tế - xã hội hai tỉnh trong khu vực phát triển tích cực. Theo đó, GRDP An Giang tăng khoảng 8,12%; GRDP Cà Mau tăng khoảng 7,09%. Nguồn vốn tín dụng từ hệ thống ngân hàng là một trong những yếu tố then chốt góp phần tạo nên sức bật tăng trưởng nửa đầu năm.

Dư nợ tín dụng Khu vực 15 tăng 3,55%, An Giang chiếm gần 70%

Số liệu từ Ngân hàng Nhà nước Khu vực 15, tính đến cuối tháng 7/2025, dư nợ tín dụng khu vực ước đạt 390.600 tỷ đồng, tăng 0,52% so tháng trước và tăng 3,55% so cuối năm 2024. Trong đó, dư nợ tín dụng An Giang ước đạt 267.400 tỷ đồng, tăng 2,6% so cuối năm 2024, chiếm 68,5% tổng dư nợ tín dụng Khu vực 15; Cà Mau ước đạt 123.200 tỷ đồng, tăng 5,68% và chiếm 31,5%.

Được tiếp sức bởi dòng vốn tín dụng kịp thời và ổn định, Công ty cổ phần Rau quả Thực phẩm An Giang (Antesco) mạnh dạn mở rộng quy mô sản xuất, hiện quản lý hơn 10.000 ha vùng nguyên liệu, liên kết với hơn 6.000 hộ nông dân và hợp tác xã, tạo việc làm cho trên 20.000 lao động.

Nguồn vốn tín dụng cũng góp phần quan trọng giúp doanh nghiệp đẩy nhanh quá trình chuyển đổi số, kiểm soát quy trình sản xuất chặt chẽ, đáp ứng các tiêu chuẩn an toàn nông dược quốc tế, đây là điều kiện tiên quyết để giữ vững thị trường xuất khẩu.

Tổng Giám đốc Antesco Nguyễn Hoàng Minh cho biết, với sản lượng trên 100.000 tấn nguyên liệu mỗi năm, số hóa là yếu tố bắt buộc để quản lý hiệu quả, với ba mô hình đang triển khai gồm: quản trị văn phòng, sản xuất và kiểm soát chi phí. Doanh nghiệp cũng tích cực hỗ trợ nông dân sử dụng điện thoại thông minh để kết nối sản xuất - tiêu thụ, đồng thời ứng dụng kỹ thuật hiện đại vào canh tác.

dư nợ tín dụng khu vực 15 ước đạt 390.600 tỷ đồng
Tàu vào bến chở gạo thu hoạch từ cánh đồng Châu Phú theo Đề án 1 triệu ha lúa chất lượng cao, phát thải thấp. Ảnh: T.L.

Song song với đó, hai tỉnh đang triển khai Đề án “Phát triển bền vững 1 triệu ha lúa chất lượng cao, phát thải thấp gắn với tăng trưởng xanh vùng Đồng bằng sông Cửu Long đến năm 2030”. Nhờ sự đồng hành của nguồn vốn tín dụng từ các ngân hàng, nhiều hộ nông dân và hợp tác xã có điều kiện chuyển đổi tư duy sản xuất, ứng dụng khoa học - công nghệ, nâng cao giá trị nông sản và mở rộng liên kết tiêu thụ bền vững.

Nhờ những chuyển biến tích cực này, dư nợ cho vay ngành lúa gạo tại khu vực 15 đạt 31.463 tỷ đồng, chiếm 13,77% tổng dư nợ toàn khu vực.

An Giang và Cà Mau được thiên nhiên ưu đãi với cả ba loại hình môi trường nuôi thủy sản gồm nước ngọt, mặn và lợ, cùng bờ biển dài hơn 200 km và ngư trường rộng trên 63.000 km2, tạo điều kiện tốt phát triển ngành thủy sản, phục vụ chế biến xuất khẩu lẫn tiêu thụ ở thị trường trên 101 triệu dân của Việt Nam.

Về ngành hàng xuất khẩu cá tra, An Giang có 18 doanh nghiệp với 23 nhà máy, công suất chế biến trên 350.000 tấn/năm. Các tổ chức tín dụng trên địa bàn khu vực đẩy mạnh cho vay lĩnh vực thủy hải sản trên địa bàn, với dư nợ ngành thủy sản đạt 78.693 tỷ đồng, chiếm 20,8% tổng dư nợ.

Tính đến cuối tháng 7, theo số liệu từ Ngân hàng Nhà nước Khu vực 15, dư nợ tín dụng ngành nông nghiệp, lâm nghiệp và thủy sản đạt 80.940 tỷ đồng, tăng 2,1% so cuối năm 2024, chiếm 20,8% tổng dư nợ tín dụng Khu vực 15.

Dư nợ tín dụng ngành công nghiệp và xây dựng đạt 52.174 tỷ đồng, tăng 1,91% so cuối năm 2024, chiếm 13,4%. Tín dụng ngành thương mại và dịch vụ đạt 255.470 tỷ đồng, tăng 3,55% và chiếm 65,79%.

Định hướng tín dụng cuối năm, kiểm soát chặt lĩnh vực rủi ro

Để hiện thực hóa mục tiêu tăng trưởng GRDP của hai tỉnh, ngoài nguồn lực đầu tư công của Chính phủ, hệ thống ngân hàng Khu vực 15 tiếp thêm động lực tăng trưởng kinh tế địa phương bằng giải pháp đồng bộ, tăng tốc dư nợ tín dụng vào các động lực tăng trưởng. Trong đó, ưu tiên cho vay phát triển hạ tầng mang tính chiến lược, trong đó có cao tốc Châu Đốc - Cần Thơ - Sóc Trăng, các tuyến đường kết nối vùng, liên kết đến các vùng nuôi, nhà máy, kho lạnh, cảng sông, cảng biển.

Tháng 12/2025, dự án cao tốc Châu Đốc - Cần Thơ - Sóc Trăng dự kiến khánh thành và đưa vào khai thác, góp phần rút ngắn thời gian vận chuyển, giảm chi phí logistics, tăng năng lực cạnh tranh cho ngành thủy sản của tỉnh.

dư nợ tín dụng khu vực 15 ước đạt 390.600 tỷ đồng
Ngư dân nuôi cá lồng trên biển Kiên Hải. Ảnh: T.L.

Giai đoạn cuối năm, Ngân hàng Nhà nước Khu vực 15 triển khai các giải pháp tăng trưởng tín dụng an toàn, hiệu quả, nâng cao chất lượng tín dụng. Cùng với đó, cân đối nguồn vốn đáp ứng nhu cầu vốn tín dụng cho nền kinh tế, hướng tín dụng vào các lĩnh vực sản xuất kinh doanh, lĩnh vực ưu tiên và các động lực tăng trưởng kinh tế, các chương trình, chính sách tín dụng theo chỉ đạo của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ; kiểm soát chặt chẽ tín dụng vào các lĩnh vực tiềm ẩn rủi ro.

Chú trọng đầu tư tín dụng vào các dự án, công trình trọng điểm khả thi phục vụ phát triển kinh tế của khu vực như: phát triển kinh tế biển, công nghiệp, logistics, phát triển năng lượng tái tạo, năng lượng sạch, du lịch... và các mặt hàng nông sản chủ lực như: lúa gạo, thủy sản...

Tạo thuận lợi tiếp cận vốn, không nới lỏng điều kiện tín dụng

Nửa cuối năm 2025, các tổ chức tín dụng tiếp tục tạo điều kiện thuận lợi cho khách hàng tiếp cận nguồn vốn tín dụng ngân hàng trên cơ sở rà soát, đơn giản hóa thủ tục, hồ sơ vay vốn, tài sản bảo đảm.... theo hướng dẫn của Hội sở chính, đi đôi với việc tuân thủ các quy định của pháp luật, không nới lỏng các điều kiện cấp tín dụng để đảm bảo an toàn hoạt động, hạn chế nợ xấu phát sinh. Chủ động triển khai, tăng cường hoạt động kết nối ngân hàng - doanh nghiệp bằng hình thức phù hợp./.

ThS. Trần Trọng Triết - Ngân hàng Nhà nước Khu vực 15

Đọc thêm

Tỷ giá USD hôm nay (1/7): Ngân hàng bán USD kịch trần, tỷ giá USD/JPY lập đỉnh nhiều thập kỷ

Tỷ giá USD hôm nay (1/7): Ngân hàng bán USD kịch trần, tỷ giá USD/JPY lập đỉnh nhiều thập kỷ

(TBTCO) - Sáng 1/7, trong phiên giao dịch đầu tháng, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam giữ nguyên tỷ giá trung tâm ở mức 25.206 đồng, trong khi các ngân hàng thương mại niêm yết giá bán USD kịch trần 26.466 đồng. Chỉ số DXY tăng lên 101,17 điểm, hỗ trợ đồng USD đi lên và đẩy tỷ giá USD/JPY lập đỉnh nhiều thập kỷ.
SHB được vinh danh trong Top 10 ngân hàng thương mại Việt Nam uy tín năm 2026 và Top 200 doanh nghiệp lớn nhất Đông Nam Á của Fortune

SHB được vinh danh trong Top 10 ngân hàng thương mại Việt Nam uy tín năm 2026 và Top 200 doanh nghiệp lớn nhất Đông Nam Á của Fortune

(TBTCO) - Liên tiếp được vinh danh tại các bảng xếp hạng uy tín cùng giải thưởng danh giá trong nước và quốc tế, SHB tiếp tục khẳng định vị thế, uy tín và năng lực cạnh tranh của một định chế tài chính hàng đầu Việt Nam.
Giá vàng hôm nay ngày 1/7: Giá vàng thế giới lùi về sát mốc 4.000 USD/ounce

Giá vàng hôm nay ngày 1/7: Giá vàng thế giới lùi về sát mốc 4.000 USD/ounce

(TBTCO) - Giá vàng thế giới lùi về sát mốc 4.000 USD/ounce sau nhịp điều chỉnh kéo dài. Trong nước, giá vàng miếng và vàng nhẫn cũng tiếp tục giảm tại nhiều doanh nghiệp kinh doanh vàng.
Bức tranh lợi nhuận ngân hàng thay đổi sau 10 năm

Bức tranh lợi nhuận ngân hàng thay đổi sau 10 năm

(TBTCO) - Tổng lợi nhuận trước thuế của 27 ngân hàng đạt 293.388 tỷ đồng trong năm 2025, tăng hơn 8 lần so với năm 2015. Cùng với đó, thứ hạng lợi nhuận của nhiều ngân hàng cũng có sự thay đổi sau một thập kỷ.
NCB tăng vốn lớn nhất lịch sử lên hơn 29.000 tỷ đồng, bổ nhiệm 2 Phó Tổng giám đốc

NCB tăng vốn lớn nhất lịch sử lên hơn 29.000 tỷ đồng, bổ nhiệm 2 Phó Tổng giám đốc

(TBTCO) - NCB vừa hoàn tất đợt tăng vốn lớn nhất lịch sử với 1 tỷ cổ phiếu phát hành riêng lẻ, thu về 10.000 tỷ đồng, qua đó, nâng vốn điều lệ lên 29.280 tỷ đồng. Động thái này giúp ngân hàng củng cố năng lực tài chính, mở rộng dư địa tăng trưởng tín dụng và đẩy nhanh lộ trình tại Phương án cơ cấu lại.
Bảo hiểm y tế mở rộng chi trả cho khám ngoại trú trái tuyến

Bảo hiểm y tế mở rộng chi trả cho khám ngoại trú trái tuyến

(TBTCO) - Trao đổi với phóng viên Báo Tài chính - Đầu tư, bà Nguyễn Lan Hương - Phó Trưởng Ban Thực hiện chính sách bảo hiểm y tế, Bảo hiểm xã hội Việt Nam cho biết, từ ngày 1/7/2026, người tham gia bảo hiểm y tế tự đi khám, chữa bệnh ngoại trú tại các cơ sở khám bệnh, chữa bệnh cấp cơ bản và cấp chuyên sâu sẽ được mở rộng quyền lợi. Đáng chú ý, nhiều bệnh, nhóm bệnh trước đây chưa được Quỹ Bảo hiểm y tế thanh toán nay sẽ được chi trả 50% mức hưởng trong phạm vi được hưởng.
Đổi "thước đo" sang CDR có kích hoạt cuộc đua huy động vốn?

Đổi "thước đo" sang CDR có kích hoạt cuộc đua huy động vốn?

(TBTCO) - Đề xuất thay thế tỷ lệ dư nợ cho vay so với tổng tiền gửi (LDR) bằng dư nợ cấp tín dụng so với huy động vốn (CDR) và áp trần 85% đang nhận nhiều góp ý, do hầu hết ngân hàng vượt ngưỡng này và có thể buộc hệ thống đua lãi suất để huy động thêm 2,6 triệu tỷ đồng.
ABBank được vinh danh 2 giải thưởng quốc tế về công nghệ và ngân hàng bán lẻ

ABBank được vinh danh 2 giải thưởng quốc tế về công nghệ và ngân hàng bán lẻ

(TBTCO) - Việc đồng thời nhận hai giải thưởng tại Global Banking & Finance Awards® 2026 cho thấy dấu ấn ngày càng rõ nét của ABBank trong chuyển đổi số và mở rộng hoạt động bán lẻ. Đây cũng là sự ghi nhận quốc tế đối với chiến lược đầu tư công nghệ, đổi mới sáng tạo và nâng cao trải nghiệm khách hàng của ABBank.
Xem thêm
DOJI Giá mua Giá bán
SJC -Bán Lẻ 14,340 ▼60K 14,640 ▼60K
Kim TT/AVPL 14,340 ▼60K 14,640 ▼60K
NHẪN TRÒN 9999 HƯNG THỊNH VƯỢNG 14,340 ▼60K 14,640 ▼60K
Nguyên Liệu 99.99 13,090 ▼60K 13,290 ▼60K
Nguyên Liệu 99.9 13,040 ▼60K 13,240 ▼60K
NỮ TRANG 9999 - BÁN LẺ 13,590 ▼60K 14,090 ▼60K
NỮ TRANG 999 - BÁN LẺ 13,540 ▼60K 14,040 ▼60K
Nữ trang 99 - Bán Lẻ 13,470 ▼60K 14,020 ▼60K
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 143,000 ▼1000K 146,000 ▼1000K
Hà Nội - PNJ 143,000 ▼1000K 146,000 ▼1000K
Đà Nẵng - PNJ 143,000 ▼1000K 146,000 ▼1000K
Miền Tây - PNJ 143,000 ▼1000K 146,000 ▼1000K
Tây Nguyên - PNJ 143,000 ▼1000K 146,000 ▼1000K
Đông Nam Bộ - PNJ 143,000 ▼1000K 146,000 ▼1000K
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 14,340 ▼60K 14,640 ▼60K
Miếng SJC Nghệ An 14,340 ▼60K 14,640 ▼60K
Miếng SJC Thái Bình 14,340 ▼60K 14,640 ▼60K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 14,250 ▼50K 14,600 ▼50K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 14,250 ▼50K 14,600 ▼50K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 14,250 ▼50K 14,600 ▼50K
NL 99.90 12,900
NL 99.99, Nhẫn Tròn Thái Bình 12,950
Trang sức 99.9 13,790 ▼50K 14,490 ▼50K
Trang sức 99.99 13,800 ▼50K 14,500 ▼50K
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,434 ▲1290K 1,464 ▲1317K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,434 ▲1290K 14,642 ▼60K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,434 ▲1290K 14,643 ▼60K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,433 ▼6K 1,463 ▼6K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,433 ▼6K 1,464 ▲1317K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,413 ▼6K 1,448 ▼6K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 136,366 ▲122670K 143,366 ▲128970K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 99,261 ▼450K 108,761 ▼450K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 89,124 ▼408K 98,624 ▼408K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 78,987 ▼366K 88,487 ▼366K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 75,077 ▼350K 84,577 ▼350K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 51,038 ▼250K 60,538 ▼250K
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,434 ▲1290K 1,464 ▲1317K
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,434 ▲1290K 1,464 ▲1317K
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,434 ▲1290K 1,464 ▲1317K
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,434 ▲1290K 1,464 ▲1317K
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,434 ▲1290K 1,464 ▲1317K
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,434 ▲1290K 1,464 ▲1317K
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,434 ▲1290K 1,464 ▲1317K
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,434 ▲1290K 1,464 ▲1317K
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,434 ▲1290K 1,464 ▲1317K
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,434 ▲1290K 1,464 ▲1317K
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,434 ▲1290K 1,464 ▲1317K
Cập nhật: 01/07/2026 17:00
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17587 17860 18440
CAD 17958 18233 18848
CHF 31805 32186 32836
CNY 0 3829 3922
EUR 29320 29540 30618
GBP 34049 34439 35373
HKD 0 3222 3424
JPY 154 159 165
KRW 0 16 18
NZD 0 14609 15197
SGD 19744 20026 20591
THB 703 766 819
USD (1,2) 26032 0 0
USD (5,10,20) 26073 0 0
USD (50,100) 26102 26116 26466
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,106 26,106 26,466
USD(1-2-5) 25,062 - -
USD(10-20) 25,062 - -
EUR 29,509 29,533 30,918
JPY 157.36 157.64 167.03
GBP 34,219 34,312 35,479
AUD 17,803 17,867 18,533
CAD 18,172 18,230 18,886
CHF 32,119 32,219 33,150
SGD 19,888 19,950 20,717
CNY - 3,799 3,941
HKD 3,289 3,299 3,434
KRW 15.59 16.26 17.68
THB 752.48 761.77 814.39
NZD 14,605 14,741 15,167
SEK - 2,660 2,751
DKK - 3,948 4,084
NOK - 2,604 2,694
LAK - 0.9 1.24
MYR 6,009.7 - 6,780.2
TWD 745.94 - 902.89
SAR - 6,887.27 7,248.41
KWD - 83,196 88,445
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,106 26,126 26,466
EUR 29,463 29,581 30,773
GBP 34,234 34,371 35,396
HKD 3,287 3,300 3,417
CHF 31,978 32,106 33,032
JPY 157.71 158.34 166.12
AUD 17,815 17,887 18,480
SGD 19,974 20,054 20,639
THB 770 773 808
CAD 18,179 18,252 18,819
NZD 14,674 15,210
KRW 16.21 17.81
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26105 26105 26466
AUD 17767 17867 18798
CAD 18136 18236 19248
CHF 32055 32085 33671
CNY 3809.5 3834.5 3970.2
CZK 0 1190 0
DKK 0 4025 0
EUR 29508 29538 31263
GBP 34325 34375 36136
HKD 0 3355 0
JPY 158.08 158.58 169.13
KHR 0 6.097 0
KRW 0 16.6 0
LAK 0 1.165 0
MYR 0 6600 0
NOK 0 2710 0
NZD 0 14720 0
PHP 0 395 0
SEK 0 2735 0
SGD 19903 20033 20755
THB 0 732.5 0
TWD 0 820 0
SJC 9999 14300000 14300000 15000000
SBJ 13000000 13000000 15000000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,138 26,188 26,466
USD20 26,138 26,188 26,466
USD1 26,138 26,188 26,466
AUD 17,834 17,934 19,039
EUR 29,696 29,696 31,102
CAD 18,103 18,203 19,507
SGD 19,996 20,146 20,700
JPY 158.72 160.22 164.75
GBP 34,234 34,584 35,550
XAU 14,338,000 0 14,642,000
CNY 0 3,722 0
THB 0 768 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 01/07/2026 17:00
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80