Trí tuệ nhân tạo – công nghệ kiến tạo lợi thế cạnh tranh cho ngành ngân hàng

Tấn Minh
(TBTCO) - Trí tuệ nhân tạo đang là công nghệ tạo sự khác biệt và lợi thế cạnh tranh, giúp ngành ngân hàng tiếp cận và chinh phục khách hàng trong kỷ nguyên số. Đây là quan điểm được lãnh đạo FPT Smart Cloud chia sẻ, tại hội thảo trực tuyến "Ngân hàng tích hợp AI: Xu thế của tương lai", diễn ra ngày 26/11.
aa

Ngành tài chính - ngân hàng đang trải qua những thay đổi lớn bởi sức ép cạnh tranh từ các mô hình tài chính mới như fintech, hay xu thế ngân hàng di dộng, và cả từ sự gia tăng của các rủi ro an ninh mạng, kỳ vọng của khách hàng và áp lực nâng cao hiệu quả vận hành.

Được đánh giá là một trong những yếu tố sẽ làm thay đổi sâu sắc bộ mặt ngành, trí tuệ nhân tạo (AI) với những bước tiến mạnh mẽ được kỳ vọng giúp ngân hàng nâng cao năng lực hoạt động, khai thác lượng dữ liệu khổng lồ, giảm thiểu rủi ro và tự động hóa các tác vụ thông thường.

Trí tuệ nhân tạo – công nghệ kiến tạo lợi thế cạnh tranh cho ngành ngân hàng
Nền tảng AI Conversation (chatbot) của FPT.AI đã được tích hợp vào quy trình chăm sóc khách hàng của các ngân hàng lớn tại Việt Nam

Tại sự kiện do FPT Smart Cloud và Microsoft tổ chức ngày 26/11, ông Karthikeyan Rajasekharan – Giám đốc cấp cao về Phân tích dữ liệu & trí tuệ nhân tạo, APAC, Microsoft - đã khẳng định tầm quan trọng và vị thế chủ đạo của công nghệ trí tuệ nhân tạo đối với ngành tài chính ngân hàng thế giới.

Theo ông Karthikeyan, sự thay đổi của thị trường là rất nhanh chóng, cùng với việc kỳ vọng của khách hàng về trải nghiệm, tốc độ phục vụ và tương tác ngày càng tăng đã đặt áp lực lên các ngân hàng và công ty tài chính. Trong bối cảnh đó, trí tuệ nhân tạo đã trở thành một chiến lược có thể thay đổi cục diện ngành ngân hàng, nhất là ở những khía cạnh liên quan đến tương tác với khách hàng, quản trị rủi ro.

Tiềm năng ứng dụng của AI trong lĩnh vực tài chính – ngân hàng có thể lên tới 1,3 nghìn tỷ, với tốc độ ứng dụng ngày càng tăng. Đại diện của Microsoft cũng nhận định, trong tương lai 10 năm nữa, các công ty sẽ không còn lấy nền tảng là công nghệ nữa, mà thay vào đó là lấy nền tảng là trí tuệ nhân tạo.

Cũng tại sự kiện, ông Lê Hồng Việt - Tổng giám đốc Công ty FPT Smart Cloud, đã chia sẻ về những khác biệt mà AI đã và đang đem lại cho khách hàng và các nhân viên ngân hàng trong thời đại số. Khách hàng được phục vụ tức thì với trải nghiệm liền mạch và cá nhân hóa bởi các trợ lý ảo tổng đài, giao dịch nhanh chóng dựa trên công nghệ sinh trắc học (nhận diện khuôn mặt, giọng nói). Trong khi đó, các nhân viên ngân hàng sẽ được giải phóng bởi các tác vụ lặp thường ngày, tập trung chuyên môn vào các nhiệm vụ quan trọng và phức tạp hơn.

Đối với quy trình vận hành của ngân hàng, AI “gánh vác” giúp nhân viên ngân hàng nhiệm vụ lưu trữ, trích xuất và quản lý dữ liệu, đồng thời xây dựng các trợ lý ảo hỗ trợ chia sẻ thông tin nội bộ như IT helpdesk, đào tạo...

Các chuyên gia công nghệ hàng đầu từ FPT và Microsoft đều có chung nhận định rằng, AI đang ngày càng trở nên phổ biến và có tiềm năng không giới hạn trong nhiều lĩnh vực, nhưng tài chính – ngân hàng là một trong những ngành nghề có tốc độ ứng dụng AI lớn nhất hiện nay. Trong bối cảnh đó, FPT.AI đã kết hợp cùng Microsoft đem lại giải pháp triển khai AI trên nền tảng điện toán đám mây, giúp các ngân hàng bắt đầu hành trình ứng dụng trí tuệ nhân tạo một cách hiệu quả, toàn diện và linh hoạt.

Hơn bao giờ hết, thời đại của trí tuệ nhân tạo đang diễn ra mạnh mẽ và sẽ sớm định hình lại tương lai của ngành tài chính – ngân hàng. Bài toán đặt ra cho các ngân hàng tại Việt Nam đó là cần nhanh chóng thích ứng và sử dụng “đòn bẩy công nghệ” tới từ AI để chinh phục khách hàng, đổi mới toàn diện quy trình kinh doanh, đem lại lợi thế cạnh tranh khác biệt trong thời đại số./.

Tấn Minh

Đọc thêm

Giá vàng hôm nay ngày 12/9: Vàng trong nước giảm tới 1,4 triệu đồng

Giá vàng hôm nay ngày 12/9: Vàng trong nước giảm tới 1,4 triệu đồng

(TBTCO) - Giá vàng thế giới tăng 29 USD, giao dịch quanh mức 4.349 USD/ounce. Trong khi đó, thị trường trong nước ghi nhận mức giảm cao nhất 1,4 triệu đồng/lượng.
Giá vàng hôm nay ngày 11/9: Vàng thế giới đảo chiều giảm mạnh

Giá vàng hôm nay ngày 11/9: Vàng thế giới đảo chiều giảm mạnh

(TBTCO) - Giá vàng thế giới giảm 95 USD/ounce, xuống còn 4.320 USD/ounce. Trong nước, giá vàng giữ ổn định ở cả phân khúc vàng miếng và vàng nhẫn.
Giá vàng hôm nay ngày 10/9: Vàng thế giới tăng hơn 50 USD/ounce

Giá vàng hôm nay ngày 10/9: Vàng thế giới tăng hơn 50 USD/ounce

(TBTCO) - Giá vàng thế giới tăng hơn 50 USD, lên ngưỡng 4.403 USD/ounce. Trong nước, vàng miếng ổn định, trong khi vàng nhẫn biến động trái chiều.
Giá vàng hôm nay ngày 9/9: Vàng thế giới giảm mạnh, vàng trong nước quay đầu giảm

Giá vàng hôm nay ngày 9/9: Vàng thế giới giảm mạnh, vàng trong nước quay đầu giảm

(TBTCO) - Giá vàng thế giới giảm 55 USD, xuống còn 4.356 USD/ounce. Trong nước, giá vàng miếng và vàng nhẫn cũng quay đầu giảm từ 1,1 - 1,2 triệu đồng/lượng.
Giá vàng hôm nay ngày 8/9: Giá vàng thế giới và trong nước đồng loạt giảm

Giá vàng hôm nay ngày 8/9: Giá vàng thế giới và trong nước đồng loạt giảm

(TBTCO) - Vàng thế giới giảm hơn 10 USD/ounce, xuống còn 4.414 USD/ounce. Trong nước, vàng miếng giảm 1,1 triệu đồng, còn vàng nhẫn giảm tới 1,2 triệu đồng/lượng.
Giá vàng hôm nay ngày 7/9: Vàng nhẫn cao hơn vàng miếng 2,4 triệu đồng/lượng

Giá vàng hôm nay ngày 7/9: Vàng nhẫn cao hơn vàng miếng 2,4 triệu đồng/lượng

(TBTCO) - Giá vàng trong nước đi ngang, trong đó vàng nhẫn được niêm yết cao nhất ở mức 150 triệu đồng/lượng, cao hơn vàng miếng 2,4 triệu đồng/lượng.
Giá vàng hôm nay ngày 6/9: Vàng miếng và vàng nhẫn đồng loạt giảm

Giá vàng hôm nay ngày 6/9: Vàng miếng và vàng nhẫn đồng loạt giảm

(TBTCO) - Giá vàng trong nước đồng loạt đi xuống, với vàng miếng giảm 1 triệu đồng/lượng và vàng nhẫn giảm từ 500.000 đồng đến 1 triệu đồng/lượng.
Giá vàng hôm nay ngày 5/9: Vàng thế giới giảm hơn 60 USD, vàng trong nước đồng loạt tăng

Giá vàng hôm nay ngày 5/9: Vàng thế giới giảm hơn 60 USD, vàng trong nước đồng loạt tăng

(TBTCO) - Giá vàng thế giới giảm hơn 60 USD, xuống mức 4.430 USD/ounce. Trong khi đó, vàng trong nước đồng loạt tăng, có thương hiệu điều chỉnh vàng nhẫn thêm 1 triệu đồng/lượng.
Xem thêm

Mới nhất Đọc nhiều

PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 143,000 146,100 ▲100K
Hà Nội - PNJ 143,000 146,100 ▲100K
Đà Nẵng - PNJ 143,000 146,100 ▲100K
Miền Tây - PNJ 143,000 146,100 ▲100K
Tây Nguyên - PNJ 143,000 146,100 ▲100K
Đông Nam Bộ - PNJ 143,000 146,100 ▲100K
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 14,320 ▲20K 14,620 ▲20K
Miếng SJC Nghệ An 14,320 ▲20K 14,620 ▲20K
Miếng SJC Thái Bình 14,320 ▲20K 14,620 ▲20K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 14,320 ▲20K 14,670 ▲20K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 14,320 ▲20K 14,670 ▲20K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 14,320 ▲20K 14,670 ▲20K
NL 99.99 13,650 ▲50K
Nhẫn Tròn Thái Bình 13,550 ▲50K
Trang sức 99.9 13,980 ▲20K 14,580 ▲20K
Trang sức 99.99 13,990 ▲20K 14,590 ▲20K
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,432 ▲1289K 1,462 ▲1316K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,432 ▲1289K 14,622 ▲20K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,432 ▲1289K 14,623 ▲20K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,427 ▲2K 1,457 ▲2K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,427 ▲2K 1,458 ▲2K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,402 ▲1262K 1,447 ▲2K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 136,267 ▲198K 143,267 ▲198K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 98,886 ▲150K 108,686 ▲150K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 88,756 ▲79894K 98,556 ▲88714K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 78,626 ▲122K 88,426 ▲122K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 74,719 ▲117K 84,519 ▲117K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 50,696 ▲83K 60,496 ▲83K
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,432 ▲1289K 1,462 ▲1316K
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,432 ▲1289K 1,462 ▲1316K
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,432 ▲1289K 1,462 ▲1316K
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,432 ▲1289K 1,462 ▲1316K
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,432 ▲1289K 1,462 ▲1316K
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,432 ▲1289K 1,462 ▲1316K
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,432 ▲1289K 1,462 ▲1316K
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,432 ▲1289K 1,462 ▲1316K
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,432 ▲1289K 1,462 ▲1316K
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,432 ▲1289K 1,462 ▲1316K
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,432 ▲1289K 1,462 ▲1316K
Cập nhật: 14/09/2026 11:30
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 18010 18284 18860
CAD 18163 18439 19054
CHF 31064 31442 32077
CNY 0 3825 3921
EUR 29388 29609 30687
GBP 34234 34625 35552
HKD 0 3176 3379
JPY 161 165 172
KRW 0 18 20
NZD 0 14686 15276
SGD 19898 20180 20757
THB 698 761 814
USD (1,2) 25677 0 0
USD (5,10,20) 25715 0 0
USD (50,100) 25743 25757 26123
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 25,750 25,750 26,130
USD(1-2-5) 24,720 - -
USD(10-20) 24,720 - -
EUR 29,418 29,442 30,840
JPY 163.66 163.96 173.89
GBP 34,393 34,486 35,680
AUD 18,196 18,262 18,952
CAD 18,345 18,404 19,082
CHF 31,300 31,397 32,327
SGD 20,014 20,076 20,863
CNY - 3,793 3,938
HKD 3,240 3,250 3,387
KRW 17.77 18.53 20.16
THB 745.57 754.78 808.2
NZD 14,668 14,804 15,244
SEK - 2,618 2,711
DKK - 3,946 4,085
NOK - 2,739 2,836
LAK - 0.88 1.23
MYR 5,951.23 - 6,719.15
TWD 738.06 - 894.23
SAR - 6,786.92 7,153.73
KWD - 82,285 87,561
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 25,700 25,730 26,110
EUR 29,475 29,593 30,790
GBP 34,415 34,553 35,582
HKD 3,237 3,250 3,367
CHF 31,175 31,300 32,234
JPY 164.54 165.20 173.18
AUD 18,181 18,254 18,848
SGD 20,090 20,171 20,766
THB 763 766 803
CAD 18,351 18,425 19,017
NZD 14,783 15,323
KRW 18.43 20.39
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 25750 25750 26120
AUD 18192 18292 19217
CAD 18341 18441 19457
CHF 31292 31322 32908
CNY 3807.2 3832.2 3967.6
CZK 0 1190 0
DKK 0 4010 0
EUR 29563 29593 31316
GBP 34527 34577 36334
HKD 0 3305 0
JPY 164.82 165.32 175.87
KHR 0 6.097 0
KRW 0 18.8 0
LAK 0 1.0945 0
MYR 0 6470 0
NOK 0 2820 0
NZD 0 14796 0
PHP 0 380 0
SEK 0 2660 0
SGD 20058 20188 20911
THB 0 726.9 0
TWD 0 810 0
SJC 9999 14350000 14350000 14650000
SBJ 13000000 13000000 14650000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 25,680 25,730 26,130
USD20 25,650 25,730 26,130
USD1 24,317 25,730 26,875
AUD 18,210 18,360 19,499
EUR 29,341 29,491 31,193
CAD 18,254 18,404 19,735
SGD 20,079 20,279 20,862
JPY 164.99 166.49 172.3
GBP 34,333 34,533 35,640
XAU 14,238,000 0 14,542,000
CNY 0 3,711 0
THB 0 765 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 14/09/2026 11:30
Ngân hàng