Tỷ giá và quyền lực của thị trường

Chính Trung
Diễn biến trong ngày 22/8 cho thấy, thêm một lần nữa tỷ giá USD/VND có khả năng tạo biến động nhanh, mạnh và bất ngờ. Thị trường muốn có quyền lực riêng của nó.
aa

Tuần đầu tháng 8/2013, diễn biến trên thị trường ngoại hối như dội một gáo nước lạnh vào các ý kiến, đề xuất cần tiếp tục tăng tỷ giá USD/VND rộ lên đầu năm, khi các ngân hàng thương mại liên tục hạ giá USD trên biểu niêm yết…

Thị trường lên tiếng

Đầu năm 2013, nổi lên trong các dòng chảy thông tin kinh tế là “cuộc tranh cãi” về yêu cầu điều chỉnh tỷ giá USD/VND hay không, mức độ bao nhiêu, cũng như trả thêm quyền lực cho thị trường bằng nới biên độ. Điểm chung, nhiều ý kiến cho rằng VND đang bị định giá quá cao, cần phải phá giá 4 - 5% trong năm nay.

Thế rồi Ngân hàng Nhà nước cũng đã quyết định phá giá thêm 1%. Tỷ giá vẫn căng, nhà điều hành lại vào cuộc xử lý. Tuần đầu tháng 8 vừa qua, tỷ giá rơi, từ trần 21.246 VND về còn 21.120 VND. Đà rơi chỉ dừng lại khi Sở Giao dịch Ngân hàng Nhà nước phát tín hiệu nâng mạnh giá mua vào trong ngày 7/8.

Về sự kiện nâng giá trên, một cán bộ quản lý ngoại hối nói rằng, thị trường đã đưa ra một câu trả lời trớ trêu cho các kiến nghị, đề xuất phá giá VND cỡ 4 - 5% hồi đầu năm. Nếu Ngân hàng Nhà nước không “chặn” lại, tỷ giá thậm chí còn có thể rơi nữa, ngược với những kiến nghị hay đề xuất đó. Bởi lẽ, thị trường lên tiếng, cung - cầu quyết định. Trước nguồn cung chảy mạnh, giá USD giảm là đương nhiên.

Tất nhiên, mấu chốt ở đây là biện pháp can thiệp hành chính của Ngân hàng Nhà nước. Họ đã chốt lại kỳ vọng của thị trường. Tức là, nhà điều hành đã đưa ra một giới hạn, cam kết giữ vững nó. Tỷ giá từ nay đến cuối năm sẽ khó tăng quá 1%, sau khi đã tăng 1% vào ngày 28/6, mà cam kết mức tăng cả năm không quá 2 - 3%. Giới hạn hành chính này, hay việc neo kỳ vọng, đã đánh vào lợi ích nắm giữ ngoại tệ, tác động đến sự chuyển đổi và tạo cung cho thị trường.

Dù có sức nặng và dường như vững chắc của giới hạn hành chính đó, thị trường vẫn có tiếng nói của mình. Một lần nữa, ngày 22/8 nó lại lên tiếng.

Chỉ trong một ngày, thị trường ngoại hối chuyển sang một thái cực hoàn toàn khác. Sau khi liên tục giảm rồi ổn định ở 21.120 VND, chỉ trong ngày 22/8 giá USD của các ngân hàng đã bật mạnh trở lại, tăng tới 100 VND. Trên thị trường liên ngân hàng, sau những ngày giao dịch “ru ngủ” quanh 21.080 - 21.097 VND, giá USD cũng liên tiếp tăng nhanh lên 21.200 VND.

Diễn biến trên là tiếng nói riêng của thị trường, khác với tính toán của Ngân hàng Nhà nước. Bởi ngay cuối ngày 22/8 họ đã phải phát đi thông cáo lý giải và định hướng để có thể “chỉnh” tiếng nói đó vào khuôn khổ. Và nguyên do được đưa ra trong thông cáo: “Trong ngày 22/8/2013, tỷ giá giao dịch trên thị trường có diễn biến tăng do tác động tâm lý của một số thông tin, nhận định thiếu cơ sở liên quan đến định hướng điều hành tỷ giá của Ngân hàng Nhà nước”.

Nhưng thực tế tỷ giá USD/VND không dễ bị lung lay bởi một số “nhận định thiếu cơ sở” như vậy. Tiếng nói của thị trường thực tế hơn, nó gắn với lượng tiền đồng đang dư thừa và chực nhào vào những điểm nào đó gợi mở cơ hội.

Khoảng 10 nghìn tỷ đồng tín phiếu đáo hạn trong tuần này là một quy mô lớn, trong khi đầu ra cho nó là tín dụng hay các kênh đầu tư khác đang bí bách. Một phần nguồn vốn hẳn để mắt đến tỷ giá USD/VND đang ở mức thấp và tìm đến. Về độ dư tiền đồng này, chính ngay trong chiều 22/8, Ngân hàng Nhà nước đã phải tung ra 2.000 tỷ đồng tín phiếu để hút về, và hút được tổng thể 1.979 tỷ đồng thay vì lượng ít ỏi ở loạt phiên trước.

Nhưng thực tế tỷ giá USD/VND không dễ bị lung lay bởi một số “nhận định thiếu cơ sở” như vậy. Tiếng nói của thị trường thực tế hơn, nó gắn với lượng tiền đồng đang dư thừa và chực nhào vào những điểm nào đó gợi mở cơ hội.

Thêm nữa, một số thành viên thị trường phản ánh có nhu cầu ngoại tệ lớn hơn bình thường xuất hiện trong ngày 22/8. Cầu lớn, giá lên là tiếng nói đương nhiên. Và khi sóng gợn, nó dễ hút dòng vốn đầu cơ đổ vào, tạo hiệu ứng sóng lớn hơn - cơ hội kiếm lời.

Vì sao không trao quyền lực cho thị trường?

Quyền lực quyết định tiếng nói của thị trường. Song cơ chế hiện nay có vẻ như đang bóp nghẹt nó. Một mặt, biên độ giao dịch tỷ giá chỉ cho phép trong khoảng rất hẹp, +/-1% so với tỷ giá bình quân liên ngân hàng. Mặt khác, dù thế nào thì cam kết không phá giá VND quá 2 - 3% trong năm nay vẫn còn đó.

Thời gian qua đã có những ý kiến cho rằng nên mở rộng biên độ giao dịch tỷ giá lên +/-3%, hay lớn hơn là +/-5%. Không gian rộng hơn, tiếng nói của thị trường sẽ rõ hơn. Nhưng vì sao Ngân hàng Nhà nước không làm vậy, không trao thêm quyền lực cho thị trường?

Giới hạn một biên độ giao dịch đồng nghĩa với chấp nhận mức độ biến động của tỷ giá trong phạm vi đó. Càng hẹp càng dễ kiểm soát, càng chủ động hơn với những tác động liên quan. Nới rộng thêm biên độ sẽ trao thêm quyền lực cho thị trường và việc điều hành sẽ càng thụ động với tác động của nó.

Ở đây tỷ giá không chỉ là tỷ giá. Một môi trường rộng hơn cho biến động tỷ giá bao hàm rủi ro lớn hơn trong kiểm soát tác động đến lạm phát, tới các cân đối trong xuất nhập khẩu, tới mức độ của những con sóng trên thị trường vàng, tới chi phí của các khoản vay nợ quốc tế, tới các dòng chảy vốn đầu tư nước ngoài…, qua đó dễ tạo mức độ sai số lớn ở các mục tiêu điều hành vĩ mô.

Vậy nên Ngân hàng Nhà nước đã lựa chọn, giữ chặt cơ chế biên độ hẹp của tỷ giá hiện nay, mà không dễ chia sẻ bớt quyền lực của mình. Tỷ giá USD/VND có biến động mạnh đi nữa như ngày 22/8, hay căng thẳng hồi đầu tháng 7 vừa qua, cũng chỉ bơi trong biên độ +/-1% đó mà thôi.

Nhưng ngược lại, Ngân hàng Nhà nước phải linh hoạt và điều hành tỷ giá sát hơn với yêu cầu được nói của thị trường. Tiếc rằng, điểm hạn chế hiện nay là tỷ giá bình quân liên ngân hàng sau mỗi lần giật lên lại đứng im trong một thời gian dài, trong khi thị trường thì không bao giờ đứng im.

Chính Trung

Chính Trung

Đọc thêm

LPBank kết nối doanh nghiệp Đồng bằng sông Cửu Long, thúc đẩy phát triển bền vững

LPBank kết nối doanh nghiệp Đồng bằng sông Cửu Long, thúc đẩy phát triển bền vững

(TBTCO) - Ngày 10/4, Ngân hàng TMCP Lộc Phát Việt Nam (LPBank) phối hợp với Sở Công thương Cần Thơ tổ chức chương trình “LPBank Connect - Kết nối địa phương, đồng hành cùng doanh nghiệp”, hướng tới tăng cường liên kết, hỗ trợ doanh nghiệp tiếp cận nguồn lực và nâng cao năng lực cạnh tranh.
Thị trường tiền tệ tuần  6 - 10/4: Hút ròng hơn 66 nghìn tỷ đồng, tỷ giá USD tự do lao dốc tới 700 đồng

Thị trường tiền tệ tuần 6 - 10/4: Hút ròng hơn 66 nghìn tỷ đồng, tỷ giá USD tự do lao dốc tới 700 đồng

(TBTCO) - Diễn biến nổi bật trên thị trường tiền tệ tuần qua từ ngày 6 - 10/4 cho thấy, Ngân hàng Nhà nước chuyển sang hút ròng khoảng 66.258 tỷ đồng trên kênh thị trường mở, đảo chiều so với tuần trước. Lãi suất liên ngân hàng lùi về vùng 6 - 8%, thanh khoản hạ nhiệt nhưng áp lực vẫn lớn. Trong khi đó, tỷ giá ổn định, USD tự do giảm sâu 700 đồng về quanh 26.800 - 26.830 VND/USD, còn chỉ số DXY suy yếu nhẹ.
Giá vàng đồng loạt tăng lên ngưỡng 172,7 triệu đồng/lượng

Giá vàng đồng loạt tăng lên ngưỡng 172,7 triệu đồng/lượng

(TBTCO) - Giá vàng trong nước sáng 11/4 đồng loạt tăng tại nhiều doanh nghiệp lớn, với mức điều chỉnh phổ biến trên 1 triệu đồng/lượng, đưa mặt bằng giao dịch lên quanh 169,7 - 172,7 triệu đồng/lượng.
Doanh nghiệp bảo hiểm "thiết kế" chiến lược để nâng vị thế

Doanh nghiệp bảo hiểm "thiết kế" chiến lược để nâng vị thế

(TBTCO) - Trong bối cảnh ngành bảo hiểm phi nhân thọ năm 2026 được dự báo tăng trưởng 2 con số, nhưng đi kèm xu hướng "sàng lọc" mạnh, các doanh nghiệp bảo hiểm đồng loạt "thiết kế" lại chiến lược nhằm củng cố năng lực cạnh tranh và giữ vững vị thế trên thị trường.
Lãi suất hạ nhiệt sau chỉ đạo, nhưng “sóng ngầm” cạnh tranh vẫn dâng cao

Lãi suất hạ nhiệt sau chỉ đạo, nhưng “sóng ngầm” cạnh tranh vẫn dâng cao

(TBTCO) - Sau cuộc họp điều hành chiều 9/4 của Ngân hàng Nhà nước, lãi suất huy động hạ nhiệt nhẹ, phổ biến giảm khoảng 0,5 điểm phần trăm tại một số ngân hàng, song mặt bằng tại nhiều nhà băng vẫn cao hơn tới gần 3 điểm phần trăm so với đầu đợt tăng lãi suất. Đáng chú ý, khi cộng ưu đãi "ngầm", lãi suất thực có thể tiệm cận 9%/năm, cho thấy áp lực thanh khoản và cạnh tranh huy động vẫn hiện hữu.
Nam A Bank có tổng giám đốc mới

Nam A Bank có tổng giám đốc mới

(TBTCO) - Được sự chấp thuận của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN), Hội đồng quản trị (HĐQT) Ngân hàng TMCP Nam A (Nam A Bank, mã ck: NAB) đã bổ nhiệm ông Trần Khải Hoàn giữ chức vụ Tổng giám đốc Nam A Bank kể từ ngày 10/4/2026.
Bảo hiểm BIC hé lộ kế hoạch trước thềm đại hội, mục tiêu vượt 6.000 tỷ đồng doanh thu phí

Bảo hiểm BIC hé lộ kế hoạch trước thềm đại hội, mục tiêu vượt 6.000 tỷ đồng doanh thu phí

(TBTCO) - Hội đồng quản trị Bảo hiểm BIC vừa phê duyệt kế hoạch kinh doanh năm 2026 trình Đại hội đồng cổ đông, với mục tiêu doanh thu phí bảo hiểm 6.230 tỷ đồng và lợi nhuận hợp nhất 780 tỷ đồng.
Thanh tra Ngân hàng Nhà nước Khu vực 1 xử phạt Huy Thanh Jewelry, lộ vi phạm về thuế

Thanh tra Ngân hàng Nhà nước Khu vực 1 xử phạt Huy Thanh Jewelry, lộ vi phạm về thuế

(TBTCO) - Thanh tra Ngân hàng Nhà nước Khu vực 1 đã ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực tiền tệ và hoạt động ngân hàng với Công ty TNHH Vàng bạc đá quý Huy Thành. Đồng thời, chuyển hồ sơ vi phạm hành chính đến Thuế Thành phố Hà Nội khi phát hiện công ty khai sai dẫn đến thiếu số tiền thuế thu nhập doanh nghiệp phải nộp.
Xem thêm

Mới nhất Đọc nhiều

DOJI Giá mua Giá bán
SJC -Bán Lẻ 16,940 17,240
Kim TT/AVPL 16,950 17,250
NHẪN TRÒN 9999 HƯNG THỊNH VƯỢNG 16,940 17,240
Nguyên Liệu 99.99 15,800 16,000
Nguyên Liệu 99.9 15,750 15,950
NỮ TRANG 9999 - BÁN LẺ 16,600 17,000
NỮ TRANG 999 - BÁN LẺ 16,550 16,950
Nữ trang 99 - Bán Lẻ 16,480 16,930
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 169,200 172,200
Hà Nội - PNJ 169,200 172,200
Đà Nẵng - PNJ 169,200 172,200
Miền Tây - PNJ 169,200 172,200
Tây Nguyên - PNJ 169,200 172,200
Đông Nam Bộ - PNJ 169,200 172,200
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 16,940 17,240
Miếng SJC Nghệ An 16,940 17,240
Miếng SJC Thái Bình 16,940 17,240
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 16,920 17,220
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 16,920 17,220
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 16,920 17,220
NL 99.90 15,520
NL 99.99, Nhẫn Tròn Thái Bình 15,550
Trang sức 99.9 16,410 17,110
Trang sức 99.99 16,420 17,120
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,694 1,724
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,694 17,242
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,694 17,243
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,691 1,721
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,691 1,722
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,671 1,706
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 162,411 168,911
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 119,213 128,113
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 10,727 11,617
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 95,326 104,226
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 9,072 9,962
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 62,397 71,297
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,694 1,724
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,694 1,724
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,694 1,724
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,694 1,724
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,694 1,724
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,694 1,724
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,694 1,724
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,694 1,724
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,694 1,724
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,694 1,724
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,694 1,724
Cập nhật: 12/04/2026 19:30
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 18056 18331 18915
CAD 18487 18764 19389
CHF 32715 33100 33742
CNY 0 3800 3870
EUR 30224 30498 31532
GBP 34634 35027 35978
HKD 0 3231 3435
JPY 158 162 168
KRW 0 16 18
NZD 0 15050 15648
SGD 20121 20404 20942
THB 736 799 855
USD (1,2) 26066 0 0
USD (5,10,20) 26107 0 0
USD (50,100) 26136 26155 26360
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,130 26,130 26,360
USD(1-2-5) 25,085 - -
USD(10-20) 25,085 - -
EUR 30,313 30,337 31,601
JPY 161.2 161.49 170.27
GBP 34,783 34,877 35,875
AUD 18,286 18,352 18,934
CAD 18,720 18,780 19,359
CHF 32,986 33,089 33,868
SGD 20,269 20,332 21,013
CNY - 3,789 3,912
HKD 3,303 3,313 3,433
KRW 16.37 17.07 18.47
THB 782.26 791.92 842.99
NZD 15,067 15,207 15,566
SEK - 2,783 2,865
DKK - 4,057 4,175
NOK - 2,725 2,809
LAK - 0.91 1.26
MYR 6,213.63 - 6,976.01
TWD 749.69 - 902.95
SAR - 6,916.97 7,243.76
KWD - 83,839 88,688
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,110 26,140 26,360
EUR 30,207 30,328 31,508
GBP 34,719 34,858 35,864
HKD 3,293 3,306 3,421
CHF 32,698 32,829 33,755
JPY 161.50 162.15 169.45
AUD 18,273 18,346 18,938
SGD 20,318 20,400 20,984
THB 799 802 837
CAD 18,700 18,775 19,341
NZD 15,151 15,682
KRW 17.07 18.75
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26220 26220 26360
AUD 18254 18354 19280
CAD 18681 18781 19795
CHF 32941 32971 34550
CNY 3795.5 3820.5 3955.8
CZK 0 1185 0
DKK 0 4050 0
EUR 30381 30411 32133
GBP 34881 34931 36702
HKD 0 3355 0
JPY 161.84 162.34 172.88
KHR 0 6.097 0
KRW 0 17.2 0
LAK 0 1.165 0
MYR 0 6840 0
NOK 0 2720 0
NZD 0 15181 0
PHP 0 400 0
SEK 0 2790 0
SGD 20277 20407 21138
THB 0 763.3 0
TWD 0 810 0
SJC 9999 16970000 16970000 17270000
SBJ 15000000 15000000 17270000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,135 26,185 26,360
USD20 26,135 26,185 26,360
USD1 26,135 26,185 26,360
AUD 18,282 18,382 19,522
EUR 30,482 30,482 31,943
CAD 18,609 18,709 20,050
SGD 20,331 20,481 21,450
JPY 162.15 163.65 168.5
GBP 34,738 35,088 36,011
XAU 16,968,000 0 17,272,000
CNY 0 3,701 0
THB 0 799 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 12/04/2026 19:30
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80