Vì sao các ngân hàng trung ương đang đua nhau tích trữ vàng?

Hoàng Lê
(TBTCO) - Các chuyên gia cho rằng, các ngân hàng trung ương đang ngày càng tích trữ nhiều tiền trong kho bạc của mình như một chính sách bảo hiểm trong một thế giới đầy biến động.
aa

Ngày càng nhiều ngân hàng trung ương vội vàng tích trữ lượng lớn vàng, đảo ngược logic kinh tế truyền thống kéo dài hàng thập kỷ và thúc đẩy giá vàng tăng cao trong bối cảnh căng thẳng địa chính trị leo thang.

Khi Washington thách thức tính độc lập của Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed), gây ra sự bất ổn trên thị trường tài chính, giá vàng đã tăng vọt lên mức kỷ lục 4.643 USD (3.463 Bảng Anh) một ounce trong tuần này, và các nhà phân tích dự đoán giá vàng sẽ vượt mốc 5.000 USD trong năm nay.

Vì sao các ngân hàng trung ương đang đua nhau tích trữ vàng?
Theo khảo sát của công ty quản lý tài sản Invesco với 50 ngân hàng trung ương, khoảng một nửa có kế hoạch tăng tỷ lệ phân bổ vàng. Ảnh TL

Công cụ bảo hiểm rủi ro tài chính

Khi Tổng thống Donald Trump phá vỡ trật tự toàn cầu dựa trên các quy tắc, các thể chế chính thức (và các nhà đầu tư tư nhân) đang tranh nhau mua vàng: tỷ trọng của tài sản này trong dự trữ của các ngân hàng trung ương đã tăng gấp đôi trong thập kỷ qua, lên hơn một phần tư, mức cao nhất trong gần 30 năm.

Mặc dù điều này phần nào phản ánh giá vàng thỏi tăng vọt, các chuyên gia cho rằng các ngân hàng trung ương cũng đang tích trữ vàng như một chính sách bảo hiểm trong một thế giới đầy biến động. Nhiều ngân hàng cũng đang gấp rút hồi hương lượng vàng dự trữ ở nước ngoài và giảm mạnh rủi ro liên quan đến đồng USD.

“Các nhà đầu tư - tư nhân và nhà nước - tin rằng dự trữ chiến lược của họ không còn an toàn tính theo USD, vì chúng có thể bị mất chỉ sau một đêm. Đồng USD đang dần mất đi vai trò độc tôn trong hệ thống tiền tệ toàn cầu bởi vì Fed đang mất uy tín, và Quốc hội Mỹ cũng đang mất uy tín”, Raphaël Gallardo, nhà kinh tế trưởng tại công ty quản lý tài sản Carmignac, nhận định.

Dự trữ ngoại hối chính thức là một phần quan trọng trong bức tranh tiền tệ toàn cầu. Đóng vai trò như một quỹ an toàn hỗ trợ các đồng tiền quốc gia, chúng thường bao gồm các loại tiền tệ như USD, Euro, Yên và Bảng Anh, cũng như vàng, trái phiếu và tài sản của Quỹ Tiền tệ quốc tế. Dự trữ được sử dụng để duy trì niềm tin của nhà đầu tư và có thể được thực hiện để ổn định tỷ giá hối đoái trong thời kỳ khủng hoảng.

Trong phần lớn thời gian của thế kỷ trước, đồng USD là loại tiền tệ dự trữ chủ yếu; là chất bôi trơn cho guồng máy tài chính toàn cầu và là phương tiện trao đổi trong phần lớn hoạt động thương mại thế giới.

Trong lịch sử, hệ thống tiền tệ neo tỷ giá các loại tiền tệ vào giá trị của vàng – các quốc gia cam kết chuyển đổi tiền giấy sang một lượng vàng cố định; phản ánh sự ám ảnh hàng nghìn năm với kim loại quý này. Tuy nhiên, mối liên hệ này đối với đồng USD – và cùng với đó là các loại tiền tệ khác được neo vào đồng USD theo thỏa thuận Bretton Woods năm 1944 – đã bị cắt đứt trong cuộc khủng hoảng kinh tế những năm 1970 dưới thời Tổng thống Mỹ Richard Nixon. Kể từ đó, tỷ giá hối đoái trên thị trường tiền tệ quốc tế đã biến động dựa trên cung và cầu.

Tuy nhiên, vị thế của đồng USD đang suy giảm; phản ánh chính sách thất thường của Tổng thống Trump – bao gồm cả sự can thiệp vào Cục Dự trữ Liên bang và tình hình tài chính công mong manh của Mỹ – cũng như sự sẵn sàng áp dụng các biện pháp trừng phạt kinh tế của Washington. Điều này bao gồm việc nhắm mục tiêu vào dự trữ của Ngân hàng trung ương Nga sau cuộc xung đột quân sự với Ukraine.

Tuy vậy, đồng USD vẫn chưa hoàn toàn biến mất. Từ khoảng 66% tổng dự trữ của các ngân hàng trung ương cách đây một thập kỷ, hiện đã giảm xuống còn khoảng 57%. Các nhà kinh tế cho rằng, điều này là do thiếu một lựa chọn thay thế rõ ràng. Các loại tiền tệ pháp định khác – như Bảng Anh, Euro, Yên Nhật hay Nhân dân tệ – thiếu tính quy mô toàn cầu. Do đó, các tổ chức đang chuyển sang sử dụng vàng – phương tiện lưu trữ giá trị đáng tin cậy lâu đời nhất trên thế giới.

Ví dụ điển hình là vào tháng 6 năm ngoái - được thúc đẩy bởi giá vàng tăng vọt – vàng đã vượt qua đồng Euro để trở thành tài sản dự trữ quan trọng thứ hai thế giới sau đồng USD.

“Không có gì có thể thay thế đồng USD. Vì vậy, vàng đang tỏa sáng một cách mặc định”, Gallardo nói.

Vì sao các ngân hàng trung ương đang đua nhau tích trữ vàng?
Các hầm chứa tiền của Ngân hàng Trung ương Anh, nằm sâu dưới lòng đất London, chứa khoảng 400.000 thỏi vàng, trị giá hơn nửa nghìn tỷ USD. Ảnh TL

Vàng luôn là nơi trú ẩn an toàn

Theo khảo sát của công ty quản lý tài sản Invesco với 50 ngân hàng trung ương, khoảng một nửa có kế hoạch tăng tỷ lệ dự trữ vàng. Hai phần ba cũng có kế hoạch chuyển lượng vàng dự trữ đang nắm giữ bên ngoài biên giới về các kho chứa trong nước để bảo quản an toàn.

“Vàng luôn là nơi trú ẩn an toàn tối thượng. Vì vậy, trong thời kỳ bất ổn chính trị, bạn sẽ thấy giá vàng tăng vọt do các ngân hàng trung ương. Nó là một hình thức bảo vệ và là chỗ dựa nếu các loại tiền tệ truyền thống mất giá”, Rod Ringrow, người đứng đầu bộ phận các tổ chức chính thức tại Invesco, cho biết.

Trong lịch sử, nhiều ngân hàng trung ương đã cất giữ lượng vàng dự trữ của họ ở London, Thụy Sĩ và New York – những trung tâm của hoạt động buôn bán vàng thỏi toàn cầu, nơi có lịch sử ổn định chính trị và kinh tế.

Ngân hàng Trung ương Anh là trung tâm tài chính quan trọng nhất thế giới. Phục vụ khoảng 70 tổ chức chính thức trên toàn cầu, các hầm chứa sâu dưới lòng đất London của ngân hàng này chứa khoảng 400.000 thỏi vàng, trị giá hơn nửa nghìn tỷ USD.

Gần đây, những lời kêu gọi các ngân hàng trung ương hồi hương lượng vàng dự trữ của họ – và những khó khăn mà việc này có thể gây ra – đã trở nên nổi bật: Venezuela có lượng vàng trị giá 2 tỷ USD bị giữ tại Ngân hàng Trung ương Anh, mà nước này không thể tiếp cận chừng nào chính phủ Anh còn từ chối công nhận chế độ Caracas. Nga cũng đã đe doạ Bỉ, nơi cất giữ phần lớn lượng dự trữ ngoại tệ bị đóng băng của Moscow.

Cùng với Serbia, các chính phủ khác cũng tìm cách hồi hương dự trữ vàng của mình, bao gồm Ấn Độ, Hungary và Thổ Nhĩ Kỳ. Ba Lan đã thu hồi hàng trăm tấn vàng thỏi mà nước này vận chuyển đến London, Mỹ và Canada trong thời điểm bùng nổ Chiến tranh thế giới thứ hai.

Trong những năm 2010, Đức là một trong những quốc gia tiên phong trong việc hồi hương dự trữ vàng, giữa áp lực chính trị buộc phải trả lại hàng nghìn tấn vàng thỏi từ Mỹ và Pháp, nơi dự trữ của nước này đã được chuyển đến do lo ngại Liên Xô trong thời kỳ Chiến tranh Lạnh.

Tiền điện tử cũng khó thay thế được vàng

Các nhà kinh tế cho rằng, những quốc gia tích trữ vàng nhiều nhất thường là những quốc gia dễ bị ảnh hưởng bởi căng thẳng địa chính trị. Theo Hội đồng Vàng Thế giới, lượng vàng mua vào của các ngân hàng trung ương đã tăng 10% trong năm 2025 tính đến tháng 9, dẫn đầu là Ba Lan, Kazakhstan, Azerbaijan và Trung Quốc.

Bắc Kinh đã ồ ạt mua sắm, tích trữ hơn 2.000 tấn – ước tính đứng thứ sáu trên thế giới – trong nỗ lực cạnh tranh với Washington. Tuy nhiên, với hơn 8.000 tấn, Mỹ vẫn được cho là quốc gia dẫn đầu thế giới – mặc dù số lượng trong kho Fort Knox của họ chưa từng được kiểm toán chính thức kể từ năm 1953.

Các quốc gia khác lại đi theo hướng ngược lại. Chính phủ Anh là một bên bán đáng chú ý trong thời gian ông Gordon Brown làm Bộ trưởng Tài chính thuộc đảng Lao động vào cuối những năm 1990 và đầu những năm 2000 – bán ra 401 tấn vàng trong tổng số 715 tấn dự trữ – vào thời điểm giá vàng ở mức thấp kỷ lục.

Một số nhà kinh tế tin rằng, tiền điện tử có thể ngày càng trở nên quan trọng, cạnh tranh với các loại tiền tệ truyền thống và vàng như một tài sản dự trữ. Tuy nhiên, các ngân hàng trung ương cho đến nay vẫn tỏ ra thận trọng đối với một thị trường mới nổi và đầy biến động, nơi vẫn còn những lo ngại về an ninh, và nơi mà các tài sản ổn định nhất vẫn được neo vào giá trị của đồng USD hoặc vàng.

Jonathan Fortun, một nhà kinh tế học tại Viện Tài chính Quốc tế, cho biết mặc dù vàng đang lên ngôi và tiền điện tử có thể sẽ tiếp bước, nhưng hiện tại rất ít tài sản có thể cạnh tranh được với đồng USD.

“Tôi không nghĩ việc đồng USD bị truất ngôi sẽ là mối lo ngại chính nếu chúng ta đạt đến giai đoạn giao dịch bằng vàng. Đó sẽ là hiệu ứng vòng thứ hai khi chúng ta sẽ gặp nhiều vấn đề khác”, Jonathan Fortun nói.

Hoàng Lê

Đọc thêm

Giá vàng hôm nay ngày 21/9: Vàng thế giới giữ mốc 4.300 USD, trong nước đứng giá

Giá vàng hôm nay ngày 21/9: Vàng thế giới giữ mốc 4.300 USD, trong nước đứng giá

(TBTCO) - Giá vàng thế giới duy trì trên mốc 4.300 USD/ounce, trong khi giá vàng miếng tiếp tục giao dịch ở vùng giá 144,6 - 147,6 triệu đồng/lượng.
Giá vàng hôm nay ngày 20/9: Vàng thế giới phục hồi, trong nước đi ngang

Giá vàng hôm nay ngày 20/9: Vàng thế giới phục hồi, trong nước đi ngang

(TBTCO) - Giá vàng thế giới tiếp tục tăng lên 4.378 USD/ounce sau một tuần biến động, trong khi giá vàng trong nước đi ngang, với vàng miếng bán ra ở mức 147,6 triệu đồng/lượng.
Giá vàng hôm nay ngày 19/9: Giá vàng thế giới và trong nước đồng loạt tăng

Giá vàng hôm nay ngày 19/9: Giá vàng thế giới và trong nước đồng loạt tăng

(TBTCO) - Giá vàng thế giới phục hồi lên 4.379 USD/ounce, mức cao nhất trong một tuần. Trong nước, vàng miếng và vàng nhẫn đồng loạt tăng mạnh, với mức tăng tới 1,8 triệu đồng/lượng.
Giá vàng hôm nay ngày 18/9: Vàng thế giới phục hồi, trong nước đảo chiều

Giá vàng hôm nay ngày 18/9: Vàng thế giới phục hồi, trong nước đảo chiều

(TBTCO) - Giá vàng thế giới tăng vượt mốc 4.300 USD/ounce, trong khi giá vàng trong nước đồng loạt giảm tới 700.000 đồng/lượng.
Giá vàng hôm nay ngày 17/9: Vàng thế giới và trong nước diễn biến trái chiều

Giá vàng hôm nay ngày 17/9: Vàng thế giới và trong nước diễn biến trái chiều

(TBTCO) - Giá vàng thế giới giảm gần 30 USD/ounce sau quyết định tăng lãi suất của Fed, trong khi vàng miếng và vàng nhẫn trong nước đồng loạt tăng.
Giá vàng hôm nay ngày 16/9: Vàng thế giới lùi về dưới 4.300 USD, vàng trong nước tiếp tục giảm

Giá vàng hôm nay ngày 16/9: Vàng thế giới lùi về dưới 4.300 USD, vàng trong nước tiếp tục giảm

(TBTCO) - Giá vàng thế giới lùi dưới mốc 4.300 USD/ounce trước áp lực từ đồng USD và lợi suất trái phiếu Mỹ, trong khi giá vàng trong nước tiếp tục giảm ở cả vàng miếng và vàng nhẫn.
Giá vàng hôm nay ngày 15/9: Giá vàng trong nước và thế giới cùng giảm

Giá vàng hôm nay ngày 15/9: Giá vàng trong nước và thế giới cùng giảm

(TBTCO) - Giá vàng thế giới giảm hơn 20 USD/ounce, xuống dưới mốc 4.300 USD/ounce. Trong nước, giá vàng miếng và vàng nhẫn đồng loạt giảm, mức cao nhất 600.000 đồng/lượng.
Giá vàng hôm nay ngày 14/9: Vàng thế giới lùi về 4.333 USD/ounce

Giá vàng hôm nay ngày 14/9: Vàng thế giới lùi về 4.333 USD/ounce

(TBTCO) - Giá vàng thế giới giảm 34 USD/ounce, xuống 4.333 USD/ounce. Trong nước, giá vàng giao dịch trong khoảng 142,5 - 147 triệu đồng/lượng.
Xem thêm
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 142,500 ▲600K 145,500 ▲600K
Hà Nội - PNJ 142,500 ▲600K 145,500 ▲600K
Đà Nẵng - PNJ 142,500 ▲600K 145,500 ▲600K
Miền Tây - PNJ 142,500 ▲600K 145,500 ▲600K
Tây Nguyên - PNJ 142,500 ▲600K 145,500 ▲600K
Đông Nam Bộ - PNJ 142,500 ▲600K 145,500 ▲600K
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 14,250 ▲60K 14,550 ▲60K
Miếng SJC Nghệ An 14,250 ▲60K 14,550 ▲60K
Miếng SJC Thái Bình 14,250 ▲60K 14,550 ▲60K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 14,200 ▲60K 14,600 ▲60K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 14,200 ▲60K 14,600 ▲60K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 14,200 ▲60K 14,600 ▲60K
NL 99.99 13,550
Nhẫn Tròn Thái Bình 13,450
Trang sức 99.9 13,910 ▲60K 14,510 ▲60K
Trang sức 99.99 13,920 ▲60K 14,520 ▲60K
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,425 ▲6K 1,455 ▲6K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,425 ▲6K 14,552 ▲60K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,425 ▲6K 14,553 ▲60K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 142 ▼1272K 145 ▼1299K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 142 ▼1272K 1,451 ▲6K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,395 ▲6K 144 ▼1290K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 135,574 ▲122076K 142,574 ▲128376K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 98,361 ▲450K 108,161 ▲450K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 8,828 ▼79044K 9,808 ▼87864K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 78,199 ▲366K 87,999 ▲366K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 7,431 ▼66530K 8,411 ▼75350K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 50,404 ▲250K 60,204 ▲250K
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,425 ▲6K 1,455 ▲6K
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,425 ▲6K 1,455 ▲6K
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,425 ▲6K 1,455 ▲6K
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,425 ▲6K 1,455 ▲6K
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,425 ▲6K 1,455 ▲6K
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,425 ▲6K 1,455 ▲6K
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,425 ▲6K 1,455 ▲6K
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,425 ▲6K 1,455 ▲6K
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,425 ▲6K 1,455 ▲6K
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,425 ▲6K 1,455 ▲6K
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,425 ▲6K 1,455 ▲6K
Cập nhật: 23/09/2026 17:30
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17877 18151 18735
CAD 17932 18207 18826
CHF 30940 31317 31972
CNY 0 3835 3931
EUR 29030 29250 30343
GBP 33726 34115 35065
HKD 0 3185 3387
JPY 157 161 168
KRW 0 18 20
NZD 0 14505 15095
SGD 19807 20089 20659
THB 697 760 814
USD (1,2) 25741 0 0
USD (5,10,20) 25780 0 0
USD (50,100) 25808 25822 26192
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 25,800 25,800 26,180
USD(1-2-5) 24,768 - -
USD(10-20) 24,768 - -
EUR 29,109 29,132 30,514
JPY 160.34 160.63 170.38
GBP 33,977 34,069 35,261
AUD 18,115 18,180 18,874
CAD 18,108 18,166 18,835
CHF 31,235 31,332 32,259
SGD 19,938 20,000 20,793
CNY - 3,801 3,947
HKD 3,246 3,256 3,393
KRW 17.71 18.47 20.1
THB 746.35 755.57 809.01
NZD 14,495 14,630 15,070
SEK - 2,591 2,685
DKK - 3,904 4,042
NOK - 2,698 2,795
LAK - 0.88 1.23
MYR 5,958.4 - 6,728.7
TWD 739.4 - 895.83
SAR - 6,802.09 7,165.12
KWD - 82,284 87,558
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 25,770 25,800 26,180
EUR 29,145 29,262 30,460
GBP 33,995 34,132 35,154
HKD 3,246 3,259 3,376
CHF 31,100 31,225 32,170
JPY 160.94 161.59 169.57
AUD 18,119 18,192 18,784
SGD 20,017 20,097 20,687
THB 763 766 804
CAD 18,123 18,196 18,784
NZD 14,585 15,126
KRW 18.40 20.38
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 25825 25825 26185
AUD 18064 18164 19089
CAD 18112 18212 19228
CHF 31186 31216 32794
CNY 3817.6 3842.6 3977.9
CZK 0 1170 0
DKK 0 3970 0
EUR 29211 29241 30977
GBP 34032 34082 35840
HKD 0 3315 0
JPY 161.21 161.71 172.23
KHR 0 6.097 0
KRW 0 18.8 0
LAK 0 1.0945 0
MYR 0 6490 0
NOK 0 2745 0
NZD 0 14615 0
PHP 0 380 0
SEK 0 2635 0
SGD 19968 20098 20820
THB 0 726.4 0
TWD 0 810 0
SJC 9999 14250000 14250000 14550000
SBJ 13000000 13000000 14550000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 25,716 25,836 26,210
USD20 25,686 25,836 26,210
USD1 25,666 25,836 26,210
AUD 18,188 18,288 19,397
EUR 29,098 29,198 30,864
CAD 18,074 18,174 19,487
SGD 20,082 20,232 20,801
JPY 161.98 163.48 169.08
GBP 34,058 34,208 35,281
XAU 14,188,000 0 14,492,000
CNY 0 3,731 0
THB 0 765 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 23/09/2026 17:30
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
BIDV 0,10 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
VietinBank 0,10 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
Agribank 0,20 - - - 2,60 2,60 2,90 4,00 4,00 5,90 6,00
ACB 0,50 - - - 4,00 4,20 4,40 4,50 4,70 5,30 5,40
Sacombank 0,50 - - - 4,75 4,75 4,75 6,30 6,30 6,10 6,80
Techcombank 0,05 - - - 4,20 4,20 4,50 6,20 6,20 6,40 5,50
LPBank 0,20 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 4,60 4,60
Vikki Bank 0,49 0,49 - - 4,64 4,64 4,64 5,75 5,52 5,76 5,43
Eximbank 0,20 0,20 0,20 0,20 2,80 3,00 3,10 4,20 4.00 4,70 5,30