| Mở rộng phát hành và hoàn thiện cấu trúc là trọng tâm của thị trường trái phiếu |
Mở lối vốn dài hạn từ tín nhiệm và bảo lãnh
Tại Hội nghị triển khai nhiệm vụ phát triển thị trường chứng khoán năm 2026, vấn đề phát triển thị trường vốn nợ, đặc biệt là trái phiếu doanh nghiệp, được đặt trong mối liên hệ trực tiếp với yêu cầu huy động nguồn lực cho tăng trưởng dài hạn. Theo ông Nguyễn Quang Thuân - Chủ tịch HĐQT FiinGroup, để thị trường này vận hành hiệu quả và bền vững, cần tập trung vào ba trụ cột chính gồm: cải thiện xếp hạng tín nhiệm quốc gia, phát triển mô hình quỹ bảo lãnh trái phiếu và phát triển dịch vụ định giá trái phiếu.
Trong đó, nâng hạng tín nhiệm quốc gia được xem là yếu tố nền tảng, có tác động lan tỏa đến chi phí vốn của toàn bộ nền kinh tế. Việt Nam hiện đặt mục tiêu đạt mức Investment Grade, tối thiểu BBB- trước năm 2030 theo Quyết định 412/QĐ-TTg. Tuy nhiên, xếp hạng hiện tại theo S&P mới ở mức BB+, thấp hơn một số quốc gia cạnh tranh trong khu vực. Khoảng cách này không chỉ phản ánh đánh giá về rủi ro quốc gia mà còn ảnh hưởng trực tiếp đến khả năng tiếp cận vốn quốc tế của Chính phủ và doanh nghiệp.
![]() |
| Ông Nguyễn Quang Thuân phát biểu tại hội nghị. Ảnh: Đức Minh. |
Việc rút ngắn lộ trình nâng hạng sẽ mang lại nhiều lợi ích, từ giảm chi phí huy động vốn nước ngoài, hỗ trợ thu hút nhà đầu tư nước ngoài vào thị trường vốn trong nước, đến cải thiện chi phí tài chính trong hoạt động thương mại quốc tế. Trong bối cảnh thị trường cổ phiếu đang hướng tới mục tiêu nâng hạng, việc cải thiện tín nhiệm quốc gia gắn với thị trường vốn nợ sẽ đóng vai trò bổ trợ quan trọng trong bài toán huy động vốn cho tăng trưởng.
Xét về nền tảng, Việt Nam có nhiều điểm tương đồng với các quốc gia đạt mức Investment Grade trong khu vực về triển vọng kinh tế và vị thế tài khóa. Tuy nhiên, dư địa cải thiện vẫn tập trung ở các yếu tố cấu trúc như nâng cao chất lượng thể chế, tăng tính minh bạch và khả năng dự báo của chính sách, củng cố ổn định hệ thống tài chính, cải thiện dự trữ ngoại hối, sức khỏe ngân hàng, cũng như chuẩn hóa công bố thông tin theo thông lệ quốc tế. Những yếu tố này sẽ quyết định tốc độ và tính bền vững của quá trình nâng hạng.
| Theo ông Nguyễn Quang Thuân, thị trường vốn, bao gồm thị trường trái phiếu và cổ phiếu, ngày càng đóng vai trò quan trọng trong việc cung cấp nguồn lực trung và dài hạn, qua đó góp phần giảm phụ thuộc vào tín dụng ngân hàng. |
Song song với đó, phát triển mô hình quỹ bảo lãnh trái phiếu được xem là mảnh ghép quan trọng để hoàn thiện cấu trúc thị trường vốn. Ông Thuân cho biết, cơ chế này giúp giảm rủi ro tín dụng thông qua bảo lãnh thanh toán, từ đó góp phần hạ chi phí vốn, mở rộng tệp nhà đầu tư, đặc biệt là các định chế dài hạn như bảo hiểm và tăng niềm tin thị trường. Đồng thời, quỹ bảo lãnh cũng tạo điều kiện cho các doanh nghiệp có mức tín nhiệm chưa cao tiếp cận thị trường trái phiếu và thúc đẩy các sản phẩm như trái phiếu xanh.
Thực tế tại Việt Nam, hoạt động bảo lãnh hiện chủ yếu do ngân hàng thương mại hoặc các doanh nghiệp trong cùng tập đoàn thực hiện, trong khi khu vực tư nhân mới chỉ có sự tham gia của một số tổ chức quốc tế như GuarantCo và CGIF. Tuy nhiên, các mô hình xuyên biên giới này còn hạn chế về hạn mức, cơ chế pháp lý và chưa tận dụng được nguồn lực trong nước. Vì vậy, việc xây dựng mô hình quỹ bảo lãnh nội địa là cần thiết để tạo cơ chế linh hoạt hơn, phù hợp với đặc thù thị trường.
Dù vậy, thách thức đặt ra là khuôn khổ pháp lý cho mô hình này vẫn chưa hoàn thiện, đặc biệt đối với sự tham gia của khu vực tư nhân. Bên cạnh đó, quy mô thị trường cần đủ lớn để đảm bảo hiệu quả vận hành, nếu không sẽ khó đạt được tác động lan tỏa như kỳ vọng.
Chuẩn hóa định giá để hoàn thiện thị trường trái phiếu
Bên cạnh hai trụ cột về tín nhiệm và bảo lãnh, việc hoàn thiện cơ chế định giá cũng được xem là yếu tố then chốt còn lại để nâng cao chất lượng thị trường. Theo đại diện FiinGroup, ở trụ cột thứ ba, dịch vụ định giá trái phiếu được coi là yếu tố kỹ thuật nhưng mang ý nghĩa cốt lõi trong việc nâng cao chất lượng thị trường. Hiện nay, thị trường trái phiếu doanh nghiệp vẫn thiếu dữ liệu giao dịch đủ sâu để hình thành mức giá tham chiếu đáng tin cậy, trong khi thông tin còn phân mảnh và tồn tại bất đối xứng. Điều này khiến việc định giá dễ sai lệch, đặc biệt với các trái phiếu kém thanh khoản.
![]() |
| Nguồn: FiinGroup. |
Giải pháp đặt ra là xây dựng hệ thống định giá dựa trên dòng tiền tương lai, đường cong lãi suất và mức độ rủi ro tín dụng. Các phương pháp như chiết khấu dòng tiền, nội suy lợi suất hay mark-to-model cần được áp dụng đồng bộ, qua đó phản ánh sát hơn giá trị hợp lý của tài sản. Không chỉ hỗ trợ kỹ thuật, hệ thống định giá còn góp phần chuẩn hóa dữ liệu, tăng minh bạch và hỗ trợ tuân thủ các chuẩn mực quốc tế như IFRS.
Việc phát triển các đơn vị định giá độc lập cũng giúp giảm xung đột lợi ích so với mô hình tự định giá nội bộ, đồng thời hỗ trợ hiệu quả cho giao dịch thứ cấp, thị trường repo và việc xác định giá trị tài sản ròng của các quỹ đầu tư. Ở góc độ quản trị rủi ro, các chỉ báo như credit spread hay các công cụ định lượng sẽ giúp phát hiện sớm dấu hiệu suy giảm chất lượng tín dụng.
Kinh nghiệm quốc tế cho thấy, tại các thị trường phát triển, khả năng cung cấp giá tham chiếu đã trở nên phổ biến, chênh lệch mua - bán thu hẹp và các tổ chức định giá độc lập đóng vai trò then chốt. Trong khi đó, các thị trường ASEAN đang chứng kiến sự gia tăng của trái phiếu bền vững, đòi hỏi mô hình định giá tích hợp thêm các yếu tố ESG. Tại Việt Nam, nền tảng dữ liệu giá bước đầu đã hình thành, song vẫn cần tiếp tục hoàn thiện để tiệm cận thông lệ quốc tế.
Nhìn tổng thể, ba trụ cột nêu trên có mối liên kết chặt chẽ và bổ trợ lẫn nhau. Nâng hạng tín nhiệm quốc gia tạo nền tảng giảm chi phí vốn ở cấp độ vĩ mô; quỹ bảo lãnh trái phiếu giúp củng cố niềm tin và mở rộng khả năng tiếp cận vốn; trong khi hệ thống định giá chuẩn hóa giúp thị trường vận hành minh bạch và hiệu quả. Khi được triển khai đồng bộ, các giải pháp này sẽ góp phần khơi thông dòng vốn trung và dài hạn, qua đó nâng cao vai trò của thị trường trái phiếu doanh nghiệp trong cấu trúc tài chính và phục vụ mục tiêu tăng trưởng trong giai đoạn mới./.




