Bộ Tài chính vừa ban hành Quyết định số 100/QĐ-BTC ngày 20/1/2026 ban hành mô hình Kiến trúc Cơ sở dữ liệu doanh nghiệp (Quyết định 100). Quyết định có hiệu lực thi hành kể từ ngày ký.

Giao Cục Phát triển doanh nghiệp tư nhân và kinh tế tập thể chủ trì

Bộ Tài chính giao Cục Phát triển doanh nghiệp tư nhân và kinh tế tập thể có trách nhiệm chủ trì, phối hợp với các đơn vị duy trì và tổ chức triển khai Kiến trúc Cơ sở dữ liệu doanh nghiệp được phê duyệt tại Quyết định này; đồng thời cập nhật, điều chỉnh Kiến trúc Cơ sở dữ liệu doanh nghiệp phù hợp với điều kiện thực tế trong từng thời kỳ.

Cục cũng chủ trì, phối hợp với các đơn vị liên quan tổ chức xây dựng Cơ sở dữ liệu doanh nghiệp theo Kiến trúc Cơ sở dữ liệu doanh nghiệp đã được phê duyệt; chịu trách nhiệm xây dựng Khung quản trị, quản lý dữ liệu chi tiết đối với Cơ sở dữ liệu doanh nghiệp.

"Chủ trì xây dựng, trình cấp có thẩm quyền ban hành hoặc ban hành theo thẩm quyền các quy trình và các văn bản quy định, hướng dẫn, các tiêu chuẩn kỹ thuật liên quan đến việc liên thông, chia sẻ dữ liệu của các hệ thống thông tin với các đơn vị có liên quan đến Cơ sở dữ liệu doanh nghiệp" - Quyết định 100 nêu rõ.

Ngoài ra, hướng dẫn, kiểm tra các đơn vị trong việc xây dựng, triển khai Cơ sở dữ liệu doanh nghiệp theo Kiến trúc cơ sở dữ liệu doanh nghiệp được ban hành tại Quyết định này...

Bộ Tài chính xây dựng mô hình Kiến trúc Cơ sở dữ liệu doanh nghiệp, lộ trình đến năm 2030
Kiến trúc Hệ thống Cơ sở dữ liệu doanh nghiệp. Nguồn: Quyết định số 100/QĐ-BTC.

Các đơn vị quản lý hệ thống thông tin và cơ sở dữ liệu như: Cục Công nghệ thông tin và Chuyển đổi số, Cục Thuế, Cục Hải quan, Cục Thống kê, Bảo hiểm xã hội Việt Nam; Cục Đầu tư nước ngoài tuân thủ chặt chẽ Kiến trúc Cơ sở dữ liệu doanh nghiệp; khung quản trị, quản lý dữ liệu chi tiết đối với Cơ sở dữ liệu doanh nghiệp và các quy định của Bộ về kết nối, chia sẻ dữ liệu.

Các đơn vị nêu trên chủ động, phối hợp với Cục Phát triển doanh nghiệp tư nhân và kinh tế tập thể xây dựng, triển khai, phát triển, nâng cấp các ứng dụng, hệ thống thông tin, cơ sở dữ liệu chuyên ngành thuộc phạm vi quản lý của đơn vị; liên thông, tích hợp, đồng bộ, chia sẻ dữ liệu nguồn với Cơ sở dữ liệu doanh nghiệp.

Xây dựng "kho" dữ liệu doanh nghiệp tập trung, lộ trình 3 giai đoạn

Theo Quyết định, Kiến trúc Cơ sở dữ liệu doanh nghiệp được xây dựng nhằm đạt được các mục tiêu chiến lược theo lộ trình đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt tại Quyết định 2074/QĐ-TTg. Cơ sở dữ liệu doanh nghiệp được xác định là hệ thống dữ liệu tập trung, thống nhất, phục vụ công tác quản lý nhà nước về doanh nghiệp, hỗ trợ doanh nghiệp và minh bạch hóa thông tin.

Mục tiêu tổng quát của Kiến trúc Cơ sở dữ liệu doanh nghiệp là hình thành cơ sở dữ liệu doanh nghiệp tập trung, thống nhất trên nền tảng Cơ sở dữ liệu quốc gia về đăng ký doanh nghiệp, kết hợp tích hợp và chia sẻ dữ liệu từ 5 nguồn dữ liệu khác gồm: thuế, xuất nhập khẩu, bảo hiểm xã hội, tín dụng và lao động. Nhờ đó, giúp nắm bắt tình hình hoạt động của doanh nghiệp, phục vụ quản lý nhà nước, nâng cao chất lượng hỗ trợ doanh nghiệp và minh bạch thông tin.

Về mục tiêu cụ thể theo giai đoạn, Quyết định 100 nêu rõ, trong giai đoạn 1 (năm 2025), tập trung xây dựng cơ sở dữ liệu doanh nghiệp cơ bản, tích hợp 4 nguồn dữ liệu gồm: đăng ký doanh nghiệp, thuế, bảo hiểm xã hội và xuất nhập khẩu.

Đồng thời, ban hành và vận hành Bộ chỉ số đo lường sức khỏe doanh nghiệp phiên bản cơ bản.

Giai đoạn 2 (năm 2026), cơ sở dữ liệu doanh nghiệp được nâng cấp để tích hợp thêm dữ liệu tín dụng và đầu tư; đồng thời, phát triển các công cụ phân tích nâng cao AI và Machine Learning.

Giai đoạn 3 (2027 - 2030), hệ sinh thái dữ liệu được hoàn thiện, mở rộng tích hợp các lĩnh vực lao động, sở hữu trí tuệ, đổi mới sáng tạo; phát triển dữ liệu mở và các dịch vụ dữ liệu gia tăng.

Bộ Tài chính xây dựng mô hình Kiến trúc Cơ sở dữ liệu doanh nghiệp, lộ trình đến năm 2030
Mô hình kết nối, chia sẻ dữ liệu.

Mô hình kiến trúc tổng thể 8 lớp bao gồm: (1) nền tảng hạ tầng công nghệ và quản trị vận hành; (2) nguồn dữ liệu; (3) tích hợp và xử lý dữ liệu đầu vào; (4) lưu trữ dữ liệu lõi; (5) phân tích dữ liệu và tính toán bộ chỉ số sức khỏe doanh nghiệp; (6) cổng truy cập và giao tiếp (API Gateway); (7) ứng dụng và dịch vụ cung cấp; (8) đối tượng sử dụng và hưởng lợi. Xuyên suốt các lớp của hệ thống là lớp an toàn thông tin để đảm bảo tất cả các dữ liệu được bảo mật.

Trên cơ sở lấy Cơ sở dữ liệu quốc gia về đăng ký doanh nghiệp làm nền tảng, hệ thống thực hiện tích hợp và chia sẻ có chọn lọc dữ liệu từ các hệ thống thông tin và nguồn dữ liệu khác nhau.

Đó là: cơ sở dữ liệu quốc gia về đăng ký doanh nghiệp do Cục Phát triển doanh nghiệp tư nhân và kinh tế tập thể quản lý; cơ sở dữ liệu chuyên ngành quản lý thuế do Cục Thuế quản lý; cơ sở dữ liệu thống kê quốc gia, bảo hiểm; đầu tư nước ngoài và đầu tư ra nước ngoài.

Cùng với đó là cơ sở dữ liệu của các bộ, ngành khác như: Bộ Khoa học và Công nghệ, Bộ Công thương, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, Bộ Nội vụ; cùng với dữ liệu mở và các nguồn dữ liệu công khai khác.

Đối tượng sử dụng và hưởng lợi bao gồm các cá nhân, tổ chức trực tiếp tương tác với hệ thống và khai thác các giá trị, lợi ích do Hệ thống Cơ sở dữ liệu doanh nghiệp mang lại.

Trong đó, cơ quan quản lý nhà nước (Chính phủ, các bộ, ngành, địa phương) là nhóm đối tượng sử dụng trọng tâm của hệ thống, sử dụng thông tin và các công cụ phân tích từ hệ thống để phục vụ công tác hoạch định và điều chỉnh chính sách, theo dõi, giám sát tình hình hoạt động của doanh nghiệp, đánh giá tác động chính sách, quản lý rủi ro, cũng như hỗ trợ công tác chỉ đạo, điều hành phát triển kinh tế - xã hội ở các cấp.

Bên cạnh đó, doanh nghiệp, hợp tác xã, hộ kinh doanh, nhà đầu tư, các tổ chức nghiên cứu và người dân khai thác hệ thống để tra cứu thông tin doanh nghiệp theo quy định, thực hiện tự đánh giá tình hình hoạt động và mức độ “sức khỏe” của doanh nghiệp, tiếp cận các dịch vụ hỗ trợ phù hợp.

Đồng thời, cộng đồng có thể tiếp cận nguồn thông tin minh bạch và sử dụng các tập dữ liệu mở phục vụ nghiên cứu, phân tích và phát triển các sáng kiến, ứng dụng mới.

Ngoài ra, các tổ chức liên quan như Liên đoàn Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI), các hiệp hội doanh nghiệp, tổ chức tài chính và các tổ chức trung gian khác sử dụng thông tin từ hệ thống để hỗ trợ hoạt động của hội viên, thực hiện các nghiên cứu, phân tích thị trường, đánh giá tín dụng, quản trị rủi ro và xây dựng các sản phẩm, dịch vụ phục vụ cộng đồng doanh nghiệp./.