Bộ trưởng Bộ Tài chính Hồ Đức Phớc nhấn nút ra mắt Quỹ học bổng “Chắp cánh ước mơ”

Đỗ Doãn - Gia Cư
(TBTCO) - Chiều ngày 10/12 tại TP. Hồ Chí Minh, Trường Đại học Tài chính - Marketing (UFM) tổ chức Lễ ký kết hợp tác toàn diện với Tổng công ty cổ phần Bảo Minh và ra mắt Quỹ học bổng Bảo Minh - “Chắp cánh ước mơ”. Bộ trưởng Bộ Tài chính Hồ Đức Phớc đã tham dự và nhấn nút ra mắt Quỹ.
aa

Buổi lễ còn có sự hiện diện của lãnh đạo một số đơn vị thuộc Bộ Tài chính, Tổng công ty cổ phần Bảo Minh; lãnh đạo trường và toàn thể cán bộ chủ chốt của Trường Đại học Tài chính – Marketing, cùng đông đảo sinh viên nhà trường.

Phát biểu tại buổi lễ, Bộ trưởng Hồ Đức Phớc đánh giá cao nỗ lực của lãnh đạo 2 đơn vị trong công tác thiết lập các chương trình, hành động nhằm nâng cao chất lượng đào tạo, chia sẻ và học tập lẫn nhau trong các lĩnh vực thuộc khối ngành kinh tế.

Bộ trưởng đề nghị, sau lễ ký kết, 2 bên đẩy nhanh các nội dung trong biên bản ghi nhớ hợp tác, để từ đó đẩy mạnh việc khai thác, tận dụng nguồn lực giữa các bên, nâng cao trình độ kiến thức, kỹ năng nghề nghiệp cho người học, người đi làm, triển khai thực hiện các công trình, đề tài nghiên cứu về các ngành thuộc lĩnh vực kinh tế, góp phần phục vụ sự nghiệp phát triển kinh tế - xã hội, văn hóa của đất nước.

Bộ trưởng Hồ Đức Phớc phát biểu tại buổi lễ. Ảnh Đỗ Doãn
Bộ trưởng Hồ Đức Phớc phát biểu tại buổi lễ. Ảnh Đỗ Doãn

Nói về ý tưởng hình thành Quỹ học bổng “Chắp cánh ước mơ”, Bộ trưởng Hồ Đức Phớc cho biết, nhân chuyến tiếp xúc cử tri tại Bình Định, ông có đề nghị lãnh đạo Tổng công ty Bảo Minh nên thành lập một quỹ học bổng cho sinh viên nghèo ở các trường đại học trực thuộc Bộ. Quỹ này có ý nghĩa rất quan trọng, giúp cho các em sinh viên có hoàn cảnh khó khăn nhưng đã cố gắng học giỏi.

“Tôi đánh giá cao ý tưởng gắn kết giữa nhà trường với doanh nghiệp trong công tác đào tạo, điều này sẽ giúp cho sinh viên ra trường có thể tiếp cận ngay công việc thực tế của doanh nghiệp. Quỹ ban đầu còn khiêm tốn do Bảo Minh trực tiếp tài trợ, sau này sẽ tiếp tục lan toả để có thêm nhiều đơn vị tham gia, đóng góp thêm cho quỹ học bổng, nhằm khuyến khích các sinh viên nghèo hiếu học của Trường” - Bộ trưởng Hồ Đức Phớc nói.

Trường Đại học Tài chính – Marketing và Tổng công ty Bảo Minh ký kết hợp tác toàn diện
Lãnh đạo hai bên thực hiện nghi thức ký kết hợp tác toàn diện trước sự chứng kiến của Bộ trưởng Bộ Tài chính Hồ Đức Phớc. Ảnh: Đỗ Doãn

Theo PGS. TS Phạm Tiến Đạt - Hiệu trưởng nhà trường, trong chiến lược phát triển trường từ nay đến năm 2030, định hướng đến năm 2045, Trường UFM phấn đấu được xếp hạng trong top 500 trường đại học hàng đầu khu vực Châu Á và trở thành một trường đại học theo định hướng ứng dụng hàng đầu Việt Nam; đồng thời là một trung tâm nghiên cứu, chuyển giao khoa học, công nghệ có uy tín cao trong lĩnh vực kinh doanh và quản lý của Việt Nam và khu vực ASEAN.

Trường Đại học Tài chính - Marketing hiện đang triển khai đào tạo 14 ngành trình độ đại học với hơn 30 chuyên ngành, quy mô hàng năm khoảng 4.500 sinh viên, 3 ngành đào tạo trình độ Thạc sĩ Quản trị kinh doanh, Quản lý kinh tế, Tài chính – Ngân hàng với quy mô hơn 400 học viên/năm và 2 ngành đào tạo trình độ Tiến sĩ Quản trị kinh doanh và Tài chính – Ngân hàng với trên 30 nghiên cứu sinh/năm. Tổng quy mô hiện tại của trường là 20.897 sinh viên, học viên, nghiên cứu sinh; trong đó có 17.939 sinh viên chính quy.

Ông Phạm Tiến Đạt cũng gửi lời cảm ơn tới Tổng công ty cổ phần Bảo Minh và kỳ vọng mối quan hệ hợp tác 2 bên sẽ ngày càng bền chặt.

Theo nội dung hợp tác được công bố tại buổi lễ, hai bên cam kết hợp tác trong các lĩnh vực phù hợp với chức năng, nhiệm vụ và khả năng, trong đó tập trung vào một số nội dung chủ yếu như: xây dựng và tổ chức chương trình đào tạo, bồi dưỡng và tập huấn theo nhu cầu doanh nghiệp, chia sẻ kinh nghiệm thực tế; Kết nối thực hiện các đề tài, dự án, tư vấn, chuyển giao khoa học và công nghệ; Hợp tác về lĩnh vực truyền thông, phát triển thương hiệu.

Bộ trưởng Hồ Đức Phớc cùng lãnh đạo Trường UFM và Tập đoàn Bảo Minh thực hiện nghi thức ra mắt quỹ ''Chắp cánh ước mơ''. Ảnh Đỗ Doãn
Bộ trưởng Hồ Đức Phớc (đứng giữa) cùng lãnh đạo Trường UFM và Tập đoàn Bảo Minh thực hiện nghi thức ra mắt quỹ ''Chắp cánh ước mơ''. Ảnh Đỗ Doãn

Đặc biệt, với mong muốn được đồng hành, chia sẻ cùng các sinh viên có hoàn cảnh khó khăn của trường, nỗ lực vượt khó vươn lên trong học tập, đồng thời nhằm động viên, khen thưởng kịp thời đối với sinh viên đạt thành tích học tập xuất sắc, Tổng công ty cổ phần Bảo Minh đã quyết định thành lập Quỹ học bổng Bảo Minh – “Chắp cánh ước mơ”. Bước đầu, Tổng công ty cổ phần Bảo Minh đóng góp vào quỹ số tiền 2 tỷ đồng.

Tại buổi lễ, lãnh đạo trường cũng đã xét chọn dựa vào các tiêu chí mà Quỹ đặt ra, trao tặng cho 10 bạn sinh viên có hoàn cảnh khó khăn, có thành tích học tập xuất sắc, với mỗi suất học bổng trị giá 20 triệu đồng.

Trường Đại học Tài chính – Marketing và Tổng công ty Bảo Minh ký kết hợp tác toàn diện
Lãnh đạo Trường UFM tiếp nhận 2 tỷ đồng Tổng công ty cổ phần Bảo Minh đóng góp vào quỹ "Chắp cánh ước mơ".
Tổng công ty cổ phần Bảo Minh được thành lập vào ngày 28/11/1994. Trải qua hơn 28 năm thành lập và phát triển, đến nay Tổng công ty Cổ phần Bảo Minh đang hoạt động với mạng lưới rộng khắp toàn quốc với 62 công ty thành viên, hơn 1.600 cán bộ và 4.500 đại lý. Bảo Minh là một trong những thương hiệu thuộc top đầu thị trường bảo hiểm phi nhân thọ Việt Nam.
Đỗ Doãn - Gia Cư

Đọc thêm

Bước qua góc khuất, cuộc chuyển mình của ngành cầm đồ tỷ USD

Bước qua góc khuất, cuộc chuyển mình của ngành cầm đồ tỷ USD

(TBTCO) - Từ những tiệm cầm đồ truyền thống vốn nhiều góc khuất, ngành cầm đồ chuyển mình mạnh mẽ, nhờ công nghệ và khung pháp lý ngày càng hoàn thiện. Với quy mô dư nợ khoảng 10,3 tỷ USD, chiếm áp đảo 68% thị trường tài chính thay thế, các chuỗi cầm đồ thế hệ mới nổi lên như kênh tiếp cận vốn minh bạch, tiện lợi cho nhóm khó vay ngân hàng và tệp khách trẻ đầy tiềm năng.
Giá vàng hôm nay ngày 16/6: Giá vàng tăng mạnh, vượt mốc 150 triệu đồng/lượng

Giá vàng hôm nay ngày 16/6: Giá vàng tăng mạnh, vượt mốc 150 triệu đồng/lượng

(TBTCO) - Giá vàng trong nước đồng loạt tăng mạnh tại nhiều doanh nghiệp, với mức điều chỉnh từ 3,5 - 4,5 triệu đồng/lượng, đưa giá giao dịch phổ biến vượt mốc 150 triệu đồng/lượng.
Thanh khoản cải thiện, áp lực huy động vốn giảm dần

Thanh khoản cải thiện, áp lực huy động vốn giảm dần

(TBTCO) - Tiền gửi dân cư tiếp tục tăng mạnh, góp phần cải thiện thanh khoản hệ thống trong bối cảnh áp lực huy động vốn được dự báo giảm dần trong nửa cuối năm 2026.
Mastercard: Kết nối và niềm tin sẽ định hình giai đoạn tăng trưởng tiếp theo của kinh tế số Việt Nam

Mastercard: Kết nối và niềm tin sẽ định hình giai đoạn tăng trưởng tiếp theo của kinh tế số Việt Nam

(TBTCO) - Thanh toán số tại Việt Nam đã có những bước phát triển mạnh mẽ trong những năm gần đây. Tuy nhiên, theo Mastercard, giai đoạn tăng trưởng tiếp theo sẽ không còn được quyết định chủ yếu bởi số lượng người dùng hay số lượng giao dịch, mà bởi khả năng kết nối giữa các hệ sinh thái thanh toán và mức độ tin cậy mà người dùng dành cho các trải nghiệm số.
ABBank bổ sung hơn 362 triệu cổ phiếu, nâng vốn điều lệ lên sát 14.000 tỷ đồng

ABBank bổ sung hơn 362 triệu cổ phiếu, nâng vốn điều lệ lên sát 14.000 tỷ đồng

(TBTCO) - ABBank vừa được HNX chấp thuận đăng ký giao dịch bổ sung hơn 362 triệu cổ phiếu, nâng tổng số cổ phiếu đăng ký giao dịch lên gần 1,4 tỷ đơn vị, tương ứng vốn điều lệ 13.972,1 tỷ đồng. Động thái này nằm trong lộ trình tăng vốn lên trên 20.000 tỷ đồng, tạo nền tảng để ngân hàng duy trì đà tăng trưởng và thực hiện các mục tiêu kinh doanh lớn năm 2026.
Hà Nội kiểm soát chặt lãi suất ưu đãi "ngầm", ngăn ngân hàng cạnh tranh không lành mạnh

Hà Nội kiểm soát chặt lãi suất ưu đãi "ngầm", ngăn ngân hàng cạnh tranh không lành mạnh

(TBTCO) - Trước những tồn tại trong hoạt động huy động vốn và lãi suất huy động trên địa bàn TP. Hà Nội, Ngân hàng Nhà nước Chi nhánh Khu vực 1 nêu rõ, sẽ kiểm soát chặt chẽ các trường hợp áp dụng lãi suất thỏa thuận, lãi suất cộng thêm theo các chương trình ưu đãi, không để xảy ra tình trạng giảm lãi suất mang tính hình thức; hạn chế tình trạng cạnh tranh lãi suất không lành mạnh.
Cuộc đua tiền gửi không kỳ hạn với nhiều nhân tố dẫn dắt

Cuộc đua tiền gửi không kỳ hạn với nhiều nhân tố dẫn dắt

(TBTCO) - Cuộc cạnh tranh CASA (tiền gửi không kỳ hạn) trong ngành ngân hàng đang bước sang một giai đoạn mới. Khác với lợi thế trước đây chủ yếu đến từ "cuộc chơi" công nghệ và miễn phí dịch vụ, nay yếu tố quyết định là năng lực kiểm soát dòng tiền thực tế của khách hàng trong toàn bộ hệ sinh thái.
Lãi suất đầu vào lên mặt bằng mới, ngân hàng trước áp lực chi phí vốn và nợ xấu

Lãi suất đầu vào lên mặt bằng mới, ngân hàng trước áp lực chi phí vốn và nợ xấu

(TBTCO) - Trước áp lực chi phí vốn tăng khi lãi suất huy động, lãi suất liên ngân hàng và lãi suất phát hành trái phiếu cùng tăng lên mặt bằng mới, NIM ngân hàng tiếp tục chịu sức ép. Dù vậy, Chứng khoán Shinhan vẫn kỳ vọng lợi nhuận trước thuế toàn ngành tăng 17% năm 2026 và 16% năm 2027; đồng thời, cảnh báo nợ xấu có thể tăng nếu mặt bằng lãi suất neo cao.
Xem thêm

Mới nhất Đọc nhiều

DOJI Giá mua Giá bán
SJC -Bán Lẻ 14,950 ▲150K 15,150 ▲100K
Kim TT/AVPL 15,000 ▲150K 15,200 ▲100K
NHẪN TRÒN 9999 HƯNG THỊNH VƯỢNG 15,000 ▲150K 15,200 ▲100K
Nguyên Liệu 99.99 14,300 ▼100K 14,500 ▼100K
Nguyên Liệu 99.9 14,250 ▼100K 14,450 ▼100K
NỮ TRANG 9999 - BÁN LẺ 14,650 ▲150K 15,050 ▲150K
NỮ TRANG 999 - BÁN LẺ 14,600 ▲150K 15,000 ▲150K
Nữ trang 99 - Bán Lẻ 14,530 ▲150K 14,980 ▲150K
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 148,500 ▲1000K 151,500 ▲1000K
Hà Nội - PNJ 148,500 ▲1000K 151,500 ▲1000K
Đà Nẵng - PNJ 148,500 ▲1000K 151,500 ▲1000K
Miền Tây - PNJ 148,500 ▲1000K 151,500 ▲1000K
Tây Nguyên - PNJ 148,500 ▲1000K 151,500 ▲1000K
Đông Nam Bộ - PNJ 148,500 ▲1000K 151,500 ▲1000K
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 14,950 ▲150K 15,150 ▲100K
Miếng SJC Nghệ An 14,950 ▲150K 15,150 ▲100K
Miếng SJC Thái Bình 14,950 ▲150K 15,150 ▲100K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 14,900 ▲150K 15,150 ▲100K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 14,900 ▲150K 15,150 ▲100K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 14,900 ▲150K 15,150 ▲100K
NL 99.90 13,950 ▲50K
NL 99.99, Nhẫn Tròn Thái Bình 14,000 ▲50K
Trang sức 99.9 14,340 ▲100K 15,040 ▲100K
Trang sức 99.99 14,350 ▲100K 15,050 ▲100K
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,495 ▲1347K 1,515 ▲10K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,495 ▲1347K 15,152 ▲100K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,495 ▲1347K 15,153 ▲100K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,494 ▲15K 1,514 ▲10K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,494 ▲15K 1,515 ▲10K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,474 ▲15K 1,499 ▲10K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 141,416 ▲990K 148,416 ▲990K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 103,086 ▲750K 112,586 ▲750K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 92,592 ▲680K 102,092 ▲680K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 82,098 ▲610K 91,598 ▲610K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 7,805 ▼69662K 8,755 ▼78212K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 53,165 ▲417K 62,665 ▲417K
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,495 ▲1347K 1,515 ▲10K
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,495 ▲1347K 1,515 ▲10K
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,495 ▲1347K 1,515 ▲10K
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,495 ▲1347K 1,515 ▲10K
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,495 ▲1347K 1,515 ▲10K
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,495 ▲1347K 1,515 ▲10K
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,495 ▲1347K 1,515 ▲10K
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,495 ▲1347K 1,515 ▲10K
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,495 ▲1347K 1,515 ▲10K
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,495 ▲1347K 1,515 ▲10K
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,495 ▲1347K 1,515 ▲10K
Cập nhật: 16/06/2026 16:00
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 18036 18310 18883
CAD 18242 18518 19133
CHF 32447 32830 33469
CNY 0 3851 3944
EUR 29872 30095 31173
GBP 34488 34880 35806
HKD 0 3228 3430
JPY 157 161 167
KRW 0 16 18
NZD 0 15001 15589
SGD 19978 20260 20826
THB 724 787 841
USD (1,2) 26041 0 0
USD (5,10,20) 26082 0 0
USD (50,100) 26111 26125 26423
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,103 26,103 26,423
USD(1-2-5) 25,059 - -
USD(10-20) 25,059 - -
EUR 29,967 29,991 31,350
JPY 159.79 160.08 169.34
GBP 34,644 34,738 35,847
AUD 18,218 18,284 18,931
CAD 18,434 18,493 19,129
CHF 32,685 32,787 33,671
SGD 20,083 20,145 20,891
CNY - 3,818 3,955
HKD 3,292 3,302 3,432
KRW 16.05 16.74 18.17
THB 770.93 780.45 833.62
NZD 14,963 15,102 15,512
SEK - 2,750 2,841
DKK - 4,009 4,141
NOK - 2,706 2,798
LAK - 0.91 1.26
MYR 6,050.47 - 6,812.64
TWD 752.43 - 908.81
SAR - 6,893.7 7,243.87
KWD - 83,439 88,569
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,083 26,103 26,423
EUR 29,919 30,039 31,227
GBP 34,647 34,786 35,804
HKD 3,288 3,301 3,417
CHF 32,539 32,670 33,586
JPY 160.04 160.68 168.50
AUD 18,242 18,315 18,908
SGD 20,149 20,230 20,816
THB 788 791 826
CAD 18,454 18,528 19,091
NZD 15,058 15,594
KRW 16.67 18.29
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26095 26095 26423
AUD 18179 18279 19209
CAD 18407 18507 19522
CHF 32640 32670 34252
CNY 3829 3854 3989.4
CZK 0 1210 0
DKK 0 4060 0
EUR 29987 30017 31742
GBP 34714 34764 36522
HKD 0 3355 0
JPY 160.56 161.06 171.61
KHR 0 6.097 0
KRW 0 16.9 0
LAK 0 1.165 0
MYR 0 6720 0
NOK 0 2770 0
NZD 0 15066 0
PHP 0 395 0
SEK 0 2776 0
SGD 20101 20231 20962
THB 0 752.3 0
TWD 0 820 0
SJC 9999 14950000 14950000 15150000
SBJ 13000000 13000000 15150000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,115 26,165 26,423
USD20 26,115 26,165 26,423
USD1 23,907 26,165 26,423
AUD 18,268 18,368 19,472
EUR 30,156 30,156 31,565
CAD 18,376 18,476 19,783
SGD 20,186 20,336 20,896
JPY 161.03 162.53 167.09
GBP 34,632 34,982 36,149
XAU 14,798,000 0 15,052,000
CNY 0 3,738 0
THB 0 786 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 16/06/2026 16:00
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80