Các quỹ bảo hiểm xã hội đóng góp kép cho an sinh và tăng trưởng

Hà My
(TBTCO) - Được sử dụng và quản lý hiệu quả, các quỹ bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp không chỉ bảo đảm nguồn chi trả chế độ cho người tham gia, mà còn góp phần ổn định thị trường vốn, hỗ trợ phát triển kinh tế quốc gia.
aa

Tổng kết dư các quỹ bảo hiểm xã hội đạt trên 1,5 triệu tỷ đồng

Bảo hiểm xã hội Việt Nam cho biết, việc quản lý, sử dụng các quỹ bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp trong năm 2025 tiếp tục được thực hiện chặt chẽ, hiệu quả, an toàn, đúng quy định.

Bộ Tài chính đã ban hành các quy định chuyên ngành quan trọng (như thông tư quy định trình tự, thủ tục giám định bảo hiểm y tế và tạm ứng, thanh quyết toán chi phí khám chữa bệnh bảo hiểm y tế; thông tư quy định quy trình kiểm tra chuyên ngành lĩnh vực bảo hiểm xã hội, bảo hiểm thất nghiệp, bảo hiểm y tế...), qua đó hoàn thiện hành lang pháp lý, tạo điều kiện thuận lợi cho Bảo hiểm xã hội Việt Nam trong việc tổ chức thực hiện nhiệm vụ.

Các quỹ bảo hiểm xã hội đóng góp kép cho an sinh và tăng trưởng
Năm 2025, toàn hệ thống Bảo hiểm xã hội Việt Nam đã giải quyết cho gần 9,1 triệu lượt người hưởng chế độ ốm đau, thai sản, dưỡng sức, phục hồi sức khỏe. Ảnh: Đức Thanh

Bám sát chỉ đạo của Bộ Tài chính về nâng cao hiệu quả sử dụng quỹ, phòng chống lạm dụng, trục lợi, Bảo hiểm xã hội Việt Nam thường xuyên rà soát, kiểm soát rủi ro; phối hợp chặt chẽ với ngành y tế và các cơ sở khám chữa bệnh triển khai các giải pháp hiện đại hóa như đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin, nâng cao hiệu quả công tác giám định chi phí khám chữa bệnh bảo hiểm y tế… Qua đó, hạn chế tối đa các chi phí bất hợp lý, góp phần vừa đảm bảo quyền lợi hợp pháp của người tham gia bảo hiểm y tế khi đi khám chữa bệnh; vừa ngăn ngừa lạm dụng, trục lợi, giúp tối ưu hóa quỹ bảo hiểm y tế.

Công tác thanh tra, kiểm tra chuyên ngành tiếp tục được tăng cường, kịp thời phát hiện, xử lý nghiêm các hành vi vi phạm pháp luật về bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo đảm quỹ an sinh được quản lý minh bạch, an toàn và đúng mục đích. Chỉ tính riêng số tiền chậm đóng bảo hiểm xã hội của các đơn vị trước thời điểm thanh tra năm 2025 là 745,64 tỷ đồng, trong đó đã thu hồi 407,83 tỷ đồng.

Đảm bảo chi trả đầy đủ, kịp thời quyền lợi cho người thụ hưởng

Năm 2025, toàn hệ thống Bảo hiểm xã hội Việt Nam tổ chức chi trả cho hơn 3,5 triệu người hưởng lương hưu, trợ cấp bảo hiểm xã hội hằng tháng; giải quyết cho hơn 1 triệu người hưởng các chế độ bảo hiểm xã hội một lần; gần 9,1 triệu lượt người hưởng chế độ ốm đau, thai sản, dưỡng sức, phục hồi sức khỏe; thực hiện tiếp nhận 759.198 quyết định hưởng trợ cấp thất nghiệp và 14.184 quyết định hưởng hỗ trợ học nghề được chi trả.

Trong năm 2025, tổng thu, chi các quỹ đạt 1.144.598 tỷ đồng. Trong đó, tổng số thu các quỹ là 616.360 tỷ đồng, vượt 5,9% so với chỉ tiêu Chính phủ giao.

Bảo hiểm xã hội Việt Nam cho biết, hiện nay, tổng kết dư các quỹ bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp đạt trên 1,5 triệu tỷ đồng. Các quỹ bảo hiểm trở thành một quỹ tài chính công ngoài ngân sách có quy mô lớn, đảm bảo nguồn tài chính chi trả chế độ cho người tham gia. Theo đó, trong năm 2025, tổng số chi các quỹ là 528.238 tỷ đồng (bao gồm: quỹ bảo hiểm xã hội là 342.375 tỷ đồng, quỹ bảo hiểm thất nghiệp là 19.415 tỷ đồng, quỹ bảo hiểm y tế là 166.448 tỷ đồng).

Kênh huy động vốn quan trọng thông qua phát hành trái phiếu

Không chỉ bảo đảm nguồn chi trả chế độ cho người tham gia, các quỹ bảo hiểm xã hội còn là kênh huy động vốn thông qua phát hành trái phiếu chính phủ, góp phần tích cực phát triển thị trường vốn tại Việt Nam, giúp ổn định lãi suất và thanh khoản tại thị trường trái phiếu chính phủ, cung ứng nguồn vốn phát triển kinh tế đất nước.

Theo Nghị định số 212/2025/NĐ-CP (có hiệu lực từ ngày 25/7/2025) quy định chi tiết hoạt động đầu tư từ quỹ bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp, hoạt động đầu tư từ các quỹ này tuân thủ nguyên tắc đầu tư của từng quỹ quy định tại Luật Bảo hiểm xã hội, Luật Bảo hiểm y tế và Luật Việc làm. Việc ưu tiên đầu tư vào trái phiếu chính phủ, nhất là trái phiếu chính phủ dài hạn, do Hội đồng Quản lý Bảo hiểm xã hội quyết định tại phương án đầu tư hằng năm và được xác định bằng tỷ trọng số dư trái phiếu chính phủ so với số dư tổng danh mục đầu tư của Bảo hiểm xã hội Việt Nam.

Cụ thể, danh mục đầu tư tại thị trường trong nước bao gồm các sản phẩm công cụ nợ của Chính phủ, gồm trái phiếu chính phủ, tín phiếu kho bạc, công trái xây dựng Tổ quốc; trái phiếu chính quyền địa phương, trái phiếu được Chính phủ bảo lãnh; tiền gửi tại các ngân hàng thương mại nhà nước và ngân hàng thương mại cổ phần có vốn nhà nước trên 50% vốn điều lệ, không thực hiện đầu tư tại các ngân hàng thương mại đang được kiểm soát đặc biệt; trái phiếu, chứng chỉ tiền gửi của các ngân hàng thương mại nhà nước và ngân hàng thương mại cổ phần có vốn nhà nước trên 50% vốn điều lệ, không thực hiện đầu tư tại các ngân hàng thương mại đang được kiểm soát đặc biệt. Danh mục đầu tư tại thị trường quốc tế là trái phiếu chính phủ.

Bảo hiểm xã hội Việt Nam cho biết, tỷ lệ đầu tư vào trái phiếu chính phủ đạt trung bình trên 80% tổng số dư đầu tư quỹ đến thời điểm cuối năm 2025. Với cơ cấu đầu tư này, các quỹ bảo hiểm xã hội đã góp phần đáp ứng nhu cầu huy động vốn của ngân sách nhà nước, hỗ trợ Chính phủ trong thực hiện chính sách tài chính vĩ mô, ổn định tài chính quốc gia, cơ cấu lại nợ công, tiết kiệm chi phí vay ODA, thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội đất nước.

Trong năm 2026, cùng với các nhiệm vụ phát triển chỉ tiêu người tham gia, Bảo hiểm xã hội Việt Nam đặc biệt chú trọng nâng cao hiệu quả quản lý, sử dụng và đầu tư các quỹ bảo hiểm xã hội, theo mục tiêu mà Hội đồng Quản lý Bảo hiểm xã hội đề ra. Theo đó, thực hiện nghiêm kỷ luật tài chính trong quản lý quỹ. Đồng thời, tiếp tục đa dạng hóa danh mục và cơ cấu đầu tư các quỹ bảo hiểm theo nguyên tắc “an toàn - bền vững - hiệu quả”, chủ động, bảo đảm chi trả kịp thời khi có nhu cầu, đóng góp tích cực vào sự phát triển của thị trường vốn và nền kinh tế đất nước.

Trích quỹ dự phòng rủi ro hằng năm không quá 2% số tiền sinh lời của hoạt động đầu tư

Nghị định số 212/2025/NĐ-CP quy định, tiền sinh lời của hoạt động đầu tư được sử dụng để trích lập quỹ dự phòng rủi ro trong hoạt động đầu tư từ quỹ bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp.

Mức trích quỹ dự phòng rủi ro hằng năm tối đa không quá 2% số tiền sinh lời của hoạt động đầu tư cho đến khi số dư quỹ dự phòng rủi ro bằng 5% số dư nợ đầu tư vào các sản phẩm quy định tại Danh mục đầu tư của năm trước liền kề. Mức trích cụ thể do Giám đốc Bảo hiểm xã hội Việt Nam quyết định.

Quỹ dự phòng rủi ro trong thời gian chưa sử dụng được đầu tư vào công cụ nợ của Chính phủ. Phần còn lại được phân bổ vào các quỹ bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp theo tỷ lệ số tiền sinh lời đóng góp của từng quỹ trên tổng số tiền sinh lời của các quỹ trong năm.

Hà My

Đọc thêm

Vietnam Airlines lãi gần 4.700 tỷ đồng, trên nền doanh thu trăm nghìn tỷ và nhân đôi danh mục đầu tư

Vietnam Airlines lãi gần 4.700 tỷ đồng, trên nền doanh thu trăm nghìn tỷ và nhân đôi danh mục đầu tư

(TBTCO) - Lũy kế 9 tháng năm 2026, Vietnam Airlines đạt doanh thu thuần 114.264,6 tỷ đồng, tăng 28,5% so với cùng kỳ, hướng tới năm thứ ba liên tiếp vượt mốc 100.000 tỷ đồng. Lợi nhuận trước thuế hợp nhất của Hãng đạt 4.652,4 tỷ đồng, được hỗ trợ bởi nguồn thu tài chính với danh mục đầu tư tăng hơn gấp đôi lên 16.853 tỷ đồng.
Tín dụng MB tăng gần 19% vượt 1,3 triệu tỷ đồng, thu nhập lãi thuần dẫn dắt tăng trưởng

Tín dụng MB tăng gần 19% vượt 1,3 triệu tỷ đồng, thu nhập lãi thuần dẫn dắt tăng trưởng

(TBTCO) - Lũy kế 9 tháng năm 2026, ngân hàng MB báo lãi trước thuế đạt 30.518,4 tỷ đồng, tăng 31,9% cùng kỳ, với động lực từ thu nhập lãi thuần. Đáng chú ý, thu nhập lãi và các khoản tương tự lần đầu vượt 100.000 tỷ đồng, cao hơn cả năm 2025, trong bối cảnh tổng tín dụng đạt hơn 1,31 triệu tỷ đồng, tăng 18,9% so với đầu năm.
ABBank kết nối hệ sinh thái, gia tăng giải pháp tài chính cho khách hàng

ABBank kết nối hệ sinh thái, gia tăng giải pháp tài chính cho khách hàng

(TBTCO) - Liên tiếp ký kết hợp tác với 4 đối tác trong lĩnh vực bảo hiểm, tư vấn tài chính, công nghệ và Đại học Kinh tế Quốc dân, ABBank mở rộng liên kết nguồn lực, phát triển hệ sinh thái dịch vụ tài chính đa dạng, đồng thời đầu tư đào tạo, nghiên cứu và tạo cơ hội nghề nghiệp cho nguồn nhân lực trẻ.
Doanh nghiệp muốn vay vốn phải minh bạch, không có chuyện hai bảng cân đối kế toán

Doanh nghiệp muốn vay vốn phải minh bạch, không có chuyện hai bảng cân đối kế toán

(TBTCO) - Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Phạm Đức Ấn cho biết doanh nghiệp phải minh bạch tài chính, chứng minh khả năng trả nợ để ngân hàng có cơ sở cấp tín dụng. Không thể có tình trạng doanh nghiệp dùng một bảng cân đối kế toán để nộp thuế, một bảng để vay ngân hàng.
Eximbank công bố kết quả kinh doanh Quý III: Tiếp tục định hướng phát triển thận trọng và bền vững

Eximbank công bố kết quả kinh doanh Quý III: Tiếp tục định hướng phát triển thận trọng và bền vững

(TBTCO) - Trong 9 tháng đầu năm 2026, Eximbank ghi nhận tổng thu nhập hoạt động thuần đạt 4.692 tỷ đồng. Ngân hàng tiếp tục tăng cường kỷ luật tài chính, tối ưu hóa vận hành với chi phí hoạt động ở mức 2.831 tỷ đồng, giảm 1,9% so với cùng kỳ, đồng thời duy trì nguồn lực đầu tư cho các sáng kiến chiến lược.
HDBank đạt 18.379 tỷ đồng lợi nhuận 9 tháng, tổng tài sản vượt 1,14 triệu tỷ đồng

HDBank đạt 18.379 tỷ đồng lợi nhuận 9 tháng, tổng tài sản vượt 1,14 triệu tỷ đồng

(TBTCO) - Lợi nhuận tăng 24,2%, hệ sinh thái phục vụ hơn 34 triệu khách hàng; HDBank tiếp tục mở rộng nguồn vốn quốc tế, thúc đẩy tài chính số và đồng hành cùng các động lực tăng trưởng của nền kinh tế.
Tỷ giá USD hôm nay 31/10: USD phân hóa giữa tuần 4 trong 5 ngân hàng trung ương lớn giữ nguyên lãi suất

Tỷ giá USD hôm nay 31/10: USD phân hóa giữa tuần 4 trong 5 ngân hàng trung ương lớn giữ nguyên lãi suất

(TBTCO) - Sáng 31/10, tỷ giá trung tâm tăng 10 đồng so với cuối tuần trước, lên 25.637 đồng, trong khi USD tại các ngân hàng đồng loạt giảm. Chỉ số DXY biến động hẹp trong tuần, song giữ đà tăng lên 101,96 điểm, giữa bối cảnh 5 ngân hàng trung ương lớn công bố quyết định lãi suất, trong đó Canada tăng lãi suất, 4 ngân hàng còn lại giữ nguyên.
Lãi 9 tháng hơn 5.400 tỷ đồng nhờ đà tăng lãi thuần, MSB rục rịch chào bán cổ phiếu

Lãi 9 tháng hơn 5.400 tỷ đồng nhờ đà tăng lãi thuần, MSB rục rịch chào bán cổ phiếu

(TBTCO) - Lũy kế 9 tháng 2026, MSB lãi trước thuế đạt 5.439,8 tỷ đồng, tăng 14,3%, nhờ thu nhập lãi thuần tăng 21,7%, chi phí dự phòng giảm. Tổng tài sản ngân hàng tiến sát 440.000 tỷ đồng, để tiếp tục mở rộng quy mô hoạt động, MSB đang triển khai kế hoạch chào bán cổ phiếu và lên kế hoạch mở rộng hệ sinh thái tài chính.
Xem thêm

Mới nhất Đọc nhiều

PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 133,600 137,600
Hà Nội - PNJ 133,600 137,600
Đà Nẵng - PNJ 133,600 137,600
Miền Tây - PNJ 133,600 137,600
Tây Nguyên - PNJ 133,600 137,600
Đông Nam Bộ - PNJ 133,600 137,600
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 13,600 13,900
Miếng SJC Nghệ An 13,600 13,900
Miếng SJC Thái Bình 13,600 13,900
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 13,400 13,800
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 13,400 13,800
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 13,400 13,800
Trang sức 99.9 13,080 13,680
Trang sức 99.99 13,090 13,690
Vàng 99.9 12,550
Vàng 99.99 12,700
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 136 139
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 136 13,902
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 136 13,903
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,318 1,358
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,318 1,359
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,298 1,348
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 126,465 133,465
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 9,146 10,126
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 82,023 91,823
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 72,586 82,386
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 68,946 78,746
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 46,567 56,367
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 136 139
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 136 139
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 136 139
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 136 139
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 136 139
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 136 139
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 136 139
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 136 139
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 136 139
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 136 139
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 136 139
Cập nhật: 02/11/2026 01:00
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17606 17879 18468
CAD 17934 18209 18825
CHF 30632 31008 31646
CNY 0 3835 3931
EUR 28164 28379 29467
GBP 33752 34141 35078
HKD 0 3158 3361
JPY 157 160 167
KRW 0 18 20
NZD 0 14212 14810
SGD 19642 19923 20507
THB 680 743 796
USD (1,2) 25541 0 0
USD (5,10,20) 25579 0 0
USD (50,100) 25606 25620 25990
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 25,600 25,600 25,980
USD(1-2-5) 24,576 - -
USD(10-20) 24,576 - -
EUR 28,265 28,288 29,635
JPY 159.23 159.52 169.21
GBP 33,914 34,006 35,181
AUD 17,787 17,851 18,530
CAD 18,105 18,163 18,837
CHF 30,955 31,051 31,974
SGD 19,762 19,823 20,602
CNY - 3,798 3,944
HKD 3,220 3,230 3,366
KRW 17.82 18.58 20.22
THB 729.58 738.59 790.91
NZD 14,209 14,341 14,769
SEK - 2,578 2,670
DKK - 3,792 3,927
NOK - 2,744 2,843
LAK - 0.87 1.21
MYR 5,942.82 - 6,708.6
TWD 713.71 - 864.77
SAR - 6,753.85 7,115.12
KWD - 81,408 86,635
AED - 6,767 7,292
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 25,580 25,610 25,990
EUR 28,275 28,417 29,646
GBP 33,899 34,069 35,104
HKD 3,215 3,234 3,352
CHF 30,825 30,980 31,925
JPY 159.11 160.72 168.70
AUD 17,784 17,909 18,507
SGD 19,739 19,918 20,516
THB 734 749 786
CAD 18,077 18,204 18,802
NZD 14,304 14,859
KRW 18.62 20.60
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 25600 25600 26000
AUD 17782 17882 18812
CAD 18132 18232 19245
CHF 31001 31031 32620
CNY 3817.4 3842.4 3977.6
CZK 0 1130 0
DKK 0 3845 0
EUR 28447 28477 30200
GBP 34145 34195 35953
HKD 0 3300 0
JPY 160.49 160.99 171.52
KHR 0 6.097 0
KRW 0 19 0
LAK 0 1.0945 0
MYR 0 6450 0
NOK 0 2778 0
NZD 0 14351 0
PHP 0 373 0
SEK 0 2605 0
SGD 19820 19950 20671
THB 0 710.3 0
TWD 0 785 0
SJC 9999 13840000 13840000 14140000
SBJ 12500000 12500000 14140000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 25,490 25,640 26,000
USD20 25,460 25,640 26,000
USD1 25,440 25,640 26,000
AUD 17,711 17,861 19,054
EUR 28,208 28,308 30,008
CAD 18,055 18,155 19,490
SGD 19,877 20,027 20,900
JPY 160.92 162.42 168.22
GBP 33,976 34,126 35,455
XAU 13,838,000 0 14,142,000
CNY 0 3,794 0
THB 0 746 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 02/11/2026 01:00
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
BIDV 0,10 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
VietinBank 0,10 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
Agribank 0,20 - - - 2,60 2,60 2,90 4,00 4,00 5,90 6,00
ACB 0,50 - - - 4,00 4,20 4,40 4,50 4,70 5,30 5,40
Sacombank 0,50 - - - 4,75 4,75 4,75 6,30 6,30 6,10 6,80
Techcombank 0,05 - - - 4,20 4,20 4,50 6,20 6,20 6,40 5,50
LPBank 0,20 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 4,60 4,60
Vikki Bank 0,49 0,49 - - 4,64 4,64 4,64 5,75 5,52 5,76 5,43
Eximbank 0,20 0,20 0,20 0,20 2,80 3,00 3,10 4,20 4.00 4,70 5,30