Dự báo ngành ngân hàng tiếp đà bứt tốc năm 2026, lợi nhuận vượt 460.000 tỷ đồng

Ánh Tuyết
Ngành ngân hàng được dự báo bước vào chu kỳ tăng trưởng mạnh hơn, lợi nhuận trước thuế năm 2026 có thể đạt 464.000 tỷ đồng, tăng 20% cùng kỳ. Mặt bằng lãi suất thấp, tín dụng phục hồi nhờ đầu tư công, bất động sản và trái phiếu doanh nghiệp được xem là những động lực chính hỗ trợ NIM, trong khi chất lượng tài sản có khả năng cải thiện.
aa
Ngân hàng báo lãi gần 260.000 tỷ đồng, cuộc đua thứ hạng top 5 đổi ngôi ngoạn mục Tín dụng bứt tốc quý III, toàn hệ thống ngân hàng hướng đến mục tiêu 20% Tăng trưởng tín dụng lập đỉnh, không thể nới lỏng "phanh an toàn"

Đánh giá về triển vọng ngành ngân hàng năm 2026, nhóm phân tích từ Công ty cổ phần Chứng khoán Agribank (Agriseco Research) dự báo, lợi nhuận toàn ngành ngân hàng giai đoạn 2025 - 2030 ghi nhận tăng trưởng kép khoảng 17,3%/năm. Lợi nhuận trước thuế năm 2026 ước đạt khoảng 464.000 tỷ đồng, tăng 20% so với cùng kỳ, với tổng thu nhập hoạt động tăng 16%.

Đầu tư công, bất động sản cùng trái phiếu phục hồi tạo lực kéo

Agriseco Research cho rằng, sự phục hồi mạnh từ năm 2024 phản ánh hiệu quả chính sách tiền tệ nới lỏng, giúp tín dụng tăng cao và mở rộng thu nhập lãi thuần. Đồng thời, mặt bằng lãi suất thấp kỳ vọng duy trì năm 2026 hỗ trợ biên lãi ròng (NIM) cải thiện, chất lượng tài sản ổn định giúp giảm áp lực trích lập dự phòng.

Dự báo ngành ngân hàng tiếp đà bứt tốc năm 2026, lợi nhuận vượt 460.000 tỷ đồng
Dự báo ngành ngân hàng tiếp đà bứt tốc năm 2026, lợi nhuận vượt 460.000 tỷ đồng.
Ảnh minh hoạ.

Tổng thu nhập dự báo tăng trưởng đồng pha giữa lãi và ngoài lãi. Theo đó, với tốc độ tăng trưởng tín dụng duy trì hơn 15%/năm giai đoạn 2025 - 2030, thu nhập lãi thuần năm 2026 dự kiến tăng khoảng 13 - 15%. Thu nhập ngoài lãi tăng 30 - 40% nhờ phục hồi phí dịch vụ và thu hồi nợ xấu.

"Giai đoạn 2026 - 2030, tỷ lệ NIM được kỳ vọng duy trì trên 3%, cải thiện so với mức 2,9% dự phóng 2025 khi tín dụng tăng cao và CASA (tỷ lệ tiền gửi không kỳ hạn) phục hồi" - Agriseco Research nhận định.

Chỉ rõ động lực tăng trưởng tín dụng, theo Agriseco Research, đầu tiên đến từ làn sóng đầu tư công.

Tiềm năng tín dụng toàn nền kinh tế duy trì mức tăng trưởng cao. Ngân hàng tiếp tục giữ vai trò kênh dẫn vốn chủ lực, với tỷ lệ tín dụng trên GDP tăng từ 114% năm 2020 lên 135% vào 6 tháng đầu năm 2025, cao hơn nhiều quốc gia trong khu vực, phản ánh hệ thống ngân hàng vẫn là động lực chính hỗ trợ sản xuất, bất động sản, công nghiệp chế biến và đầu tư công.

Bước sang năm 2026, khi nền kinh tế được kỳ vọng bước vào chu kỳ tăng tốc, tín dụng có thể tăng khoảng 18 - 20%, phù hợp mục tiêu tăng trưởng GDP hai chữ số giai đoạn 2026 - 2030.

Do đó, cho vay đầu tư công và bất động sản tiếp tục dẫn sóng. "Với nhu cầu vốn đầu tư khoảng 280 tỷ USD/năm để đạt mục tiêu GDP 10% giai đoạn 2026 - 2030, Chính phủ đẩy mạnh khu vực tư nhân tham gia các dự án hạ tầng từ quý II/2025 phù hợp định hướng Nghị quyết số 68-NQ/TW và bối cảnh giải ngân đầu tư công tăng tốc. Nhờ đó, dư nợ cho vay xây dựng - đầu tư công năm 2026 được kỳ vọng tăng khoảng 30 - 40% so với cùng kỳ" - Agriseco Research phân tích.

Cùng với đó, tín dụng kinh doanh và đầu tư bất động sản đóng góp 30 - 35% nhờ khung pháp lý thuận lợi, mặt bằng lãi suất thấp và nhu cầu nhà ở tăng mạnh. Dư nợ nhà ở xã hội 9 tháng năm 2025 vượt 19.500 tỷ đồng và còn dư địa lớn giai đoạn 2026 - 2028.

Tín dụng bán lẻ phục hồi, dự kiến tăng 15 - 20% khi nhu cầu vay mua nhà, ô tô, sản xuất kinh doanh hộ gia đình đã phục hồi từ quý II/2025.

Ngoài ra, triển vọng thị trường trái phiếu doanh nghiệp khả quan hơn. Giá trị phát hành mười tháng năm 2025 đạt 482 nghìn tỷ đồng, tương đương 7,6% tổng tín dụng toàn hệ thống, tăng 5% so với đầu năm và cao hơn nhiều so với giai đoạn đáy 2022 - 2023.

"Bước sang năm 2026, thị trường trái phiếu doanh nghiệp được kỳ vọng phục hồi bền vững hơn nhờ: khung pháp lý minh bạch hơn theo Nghị định 65/2022/NĐ-CP và Nghị định 08/2023/NĐ-CP, giúp giảm rủi ro và củng cố niềm tin nhà đầu tư; nhu cầu vốn của doanh nghiệp, đặc biệt nhóm bất động sản sẽ tăng mạnh trong chu kỳ đầu tư mới; áp lực đáo hạn lớn giai đoạn 2023 - 2025 đã giảm, tạo điều kiện thuận lợi cho các đợt phát hành mới" - Agriseco Research đánh giá.

Nợ xấu đi ngang, song nợ nhóm 2 là biến số đáng chú ý

Về chất lượng tài sản, nhóm phân tích từ Agriseco Research cho rằng, nợ xấu duy trì thấp, giúp chất lượng tài sản cải thiện.

Dự báo ngành ngân hàng tiếp đà bứt tốc năm 2026, lợi nhuận vượt 460.000 tỷ đồng

Tính đến hết tháng 9/2025, tỷ lệ nợ xấu nội bảng là 2%, gần như đi ngang dù tín dụng tăng cao. Nợ xấu mới hình thành giảm 3% so với đầu năm 2024, nhóm nợ cần chú ý giảm từ 1,95% xuống 1,62%.

"Chúng tôi cho rằng chất lượng tài sản ngành ngân hàng đã chuyển sang trạng thái ổn định sau đỉnh năm 2023, nhờ việc thu hồi xử lý nợ xấu được đẩy mạnh khi Nghị quyết 42/2017/QH14 được luật hóa, cùng với thị trường bất động sản và dòng tiền doanh nghiệp cải thiện tích cực trong năm 2026" - Agriseco Research kỳ vọng.

Những ngân hàng được cấp hạn mức tín dụng cao, tăng trưởng bền vững, bộ đệm vốn tốt và chất lượng tài sản ổn định sẽ có triển vọng tích cực hơn trong năm 2026.

Cũng theo Công ty Cổ phần Chứng khoán Rồng Việt (VDSC), nợ xấu nội bảng toàn ngành tăng tổng cộng khoảng 7 nghìn tỷ đồng theo quý, lên mức 274 nghìn tỷ đồng quý III/2025 và tỷ lệ nợ xấu đạt 2,01% (so với mức 2,04% của quý II/2025). Tuy nhiên, diễn biến này không đáng lo ngại do nợ xấu hình thành ròng tiếp tục giảm so với quý trước, xuống mức 28 nghìn tỷ đồng và các ngân hàng chủ động thu hẹp hoạt động xử lý rủi ro trong quý xuống còn khoảng 21 nghìn tỷ đồng, thấp hơn lượng nợ xấu hình thành ròng.

Bên cạnh đó, các ngân hàng tiếp tục tăng cường trích lập dự phòng cụ thể với giá trị 34 nghìn tỷ đồng, giúp tỷ lệ bao phủ nợ xấu của toàn ngành cải thiện nhẹ lên mức 96% (so với mức 91% của quý II/2025). Mặc dù vậy, theo VDSC, nợ nhóm 2 hình thành tăng trở lại, lên hơn 50 nghìn tỷ đồng, là yếu tố cần tiếp tục được đánh giá./.

Ánh Tuyết

Đọc thêm

Khách hàng may mắn “đón lộc” hơn 686 triệu đồng từ BIDV

Khách hàng may mắn “đón lộc” hơn 686 triệu đồng từ BIDV

(TBTCO) - Ngày 24/03/2026, tại Hà Tĩnh, Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam (BIDV) đã tổ chức lễ trao giải thưởng Đại Phát Lộc (Sổ tiết kiệm trị giá 686.868.686 đồng) đến khách hàng may mắn trong chương trình “Đón mùa lễ hội - Tiết kiệm bội quà”.
ADB công bố gói hỗ trợ tài chính giúp giảm thiểu tác động từ xung đột Trung Đông

ADB công bố gói hỗ trợ tài chính giúp giảm thiểu tác động từ xung đột Trung Đông

(TBTCO) - Ngân hàng Phát triển châu Á (ADB) ngày 24/3 đã công bố gói hỗ trợ tài chính nhằm giúp các quốc gia thành viên đang phát triển (DMC) giảm thiểu các tác động kinh tế và tài chính do xung đột ở Trung Đông gây ra.
OCB phấn đấu tăng lợi nhuận 39%, nâng vốn điều lệ vượt 30.000 tỷ đồng

OCB phấn đấu tăng lợi nhuận 39%, nâng vốn điều lệ vượt 30.000 tỷ đồng

Năm 2026, OCB đặt nhiều mục tiêu chiến lược, nổi bật là lợi nhuận trước thuế đạt 6.960 tỷ đồng (tăng 39%); tổng tài sản 354.214 tỷ đồng (tăng 10%). Ngân hàng dự kiến nâng vốn điều lệ lên 30.625 tỷ đồng nhằm mở rộng quy mô, tăng năng lực cạnh tranh; đồng thời, kiện toàn Hội đồng quản trị phục vụ giai đoạn tăng trưởng mới.
Eximbank khai trương trụ sở chính tại Hà Nội, đánh dấu bước chuyển mình trong chiến lược phát triển

Eximbank khai trương trụ sở chính tại Hà Nội, đánh dấu bước chuyển mình trong chiến lược phát triển

(TBTCO) - Ngày 24/3/2026, Ngân hàng TMCP Xuất nhập khẩu Việt Nam (Eximbank) chính thức khai trương trụ sở chính tại tòa nhà số 27 - 29 Lý Thái Tổ, phường Hoàn Kiếm, Hà Nội. Việc đặt trụ sở tại Thủ đô là bước triển khai quan trọng trong định hướng phát triển của ngân hàng đã được thông qua tại Đại hội đồng cổ đông năm 2025.
Sau cú tăng tới 300 điểm cơ bản, VDSC chỉ ra yếu tố giúp lãi suất huy động cân bằng

Sau cú tăng tới 300 điểm cơ bản, VDSC chỉ ra yếu tố giúp lãi suất huy động cân bằng

Báo cáo VDSC cho thấy năm 2026, ngành ngân hàng đón cả những cơ hội, lẫn những ràng buộc mang tính cấu trúc khác biệt. Trong ngắn hạn, áp lực thanh khoản là thách thức lớn khi lãi suất huy động đã tăng 100 - 300 điểm cơ bản, nhưng huy động vốn chỉ tăng 0,8%. VDSC dự đoán, lãi suất huy động tiếp tục tăng khi tỷ lệ LDR, tỷ lệ vốn ngắn hạn cho vay trung dài hạn được kiểm soát tốt hơn.
Ngân hàng Đầu tư châu Âu công bố khoản tín dụng 200 triệu EUR cho các dự án khí hậu tại Việt Nam

Ngân hàng Đầu tư châu Âu công bố khoản tín dụng 200 triệu EUR cho các dự án khí hậu tại Việt Nam

(TBTCO) - Ngày 24/3, tại Hà Nội, Ngân hàng Đầu tư châu Âu (EIB) và Ngân hàng thương mại cổ phần kỹ thương Việt Nam (Techcombank) đã công bố thỏa thuận tài trợ trị giá 200 triệu EUR nhằm đẩy nhanh các dự án hành động vì khí hậu, môi trường và phát triển bền vững trên khắp Việt Nam.
PVI chi đậm cổ tức trên 770 tỷ đồng, kinh doanh vượt “bão” thiên tai

PVI chi đậm cổ tức trên 770 tỷ đồng, kinh doanh vượt “bão” thiên tai

PVI dự kiến tiếp tục chi đậm cổ tức gần 773 tỷ đồng, khi trình cổ đông phương án chia cổ tức năm 2025 ở mức 33%, gồm 23% bằng tiền mặt và 10% bằng cổ phiếu, sau khi ghi nhận kết quả kinh doanh tích cực. Năm 2025, công ty ghi dấu ấn với doanh thu hợp nhất lần đầu cán mốc 1 tỷ USD, nhiều chỉ tiêu vượt kế hoạch; đồng thời nâng tổng tài sản lên 44.512 tỷ đồng, tăng 41%.
Sửa quy định về xử phạt vi phạm hành chính lĩnh vực kinh doanh bảo hiểm

Sửa quy định về xử phạt vi phạm hành chính lĩnh vực kinh doanh bảo hiểm

(TBTCO) - Chính phủ vừa ban hành Nghị định số 78/2026/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 174/2024/NĐ-CP ngày 30/12/2024 quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực kinh doanh bảo hiểm, có hiệu lực thi hành từ 1/5/2025.
Xem thêm

Mới nhất Đọc nhiều

DOJI Giá mua Giá bán
SJC -Bán Lẻ 17,050 ▲330K 17,350 ▲330K
Kim TT/AVPL 17,060 ▲330K 17,360 ▲330K
NHẪN TRÒN 9999 HƯNG THỊNH VƯỢNG 17,050 ▲330K 17,350 ▲330K
Nguyên Liệu 99.99 16,350 ▲550K 16,550 ▲550K
Nguyên Liệu 99.9 16,300 ▲550K 16,500 ▲550K
NỮ TRANG 9999 - BÁN LẺ 16,900 ▲500K 17,300 ▲500K
NỮ TRANG 999 - BÁN LẺ 16,850 ▲500K 17,250 ▲500K
Nữ trang 99 - Bán Lẻ 16,780 ▲500K 17,230 ▲500K
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 170,500 ▲3500K 173,500 ▲3500K
Hà Nội - PNJ 170,500 ▲3500K 173,500 ▲3500K
Đà Nẵng - PNJ 170,500 ▲3500K 173,500 ▲3500K
Miền Tây - PNJ 170,500 ▲3500K 173,500 ▲3500K
Tây Nguyên - PNJ 170,500 ▲3500K 173,500 ▲3500K
Đông Nam Bộ - PNJ 170,500 ▲3500K 173,500 ▲3500K
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 17,050 ▲330K 17,350 ▲330K
Miếng SJC Nghệ An 17,050 ▲330K 17,350 ▲330K
Miếng SJC Thái Bình 17,050 ▲330K 17,350 ▲330K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 17,050 ▲330K 17,350 ▲330K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 17,050 ▲330K 17,350 ▲330K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 17,050 ▲330K 17,350 ▲330K
NL 99.90 16,270 ▲800K
NL 99.99, Nhẫn Tròn Thái Bình 16,300 ▲800K
Trang sức 99.9 16,540 ▲330K 17,240 ▲330K
Trang sức 99.99 16,550 ▲330K 17,250 ▲330K
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 ▲33K 1,735 ▲33K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,705 ▲33K 17,352 ▲330K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,705 ▲33K 17,353 ▲330K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,703 ▲1536K 1,733 ▲1563K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,703 ▲1536K 1,734 ▲33K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,683 ▲1518K 1,718 ▲33K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 163,599 ▲3267K 170,099 ▲3267K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 120,113 ▲2475K 129,013 ▲2475K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 108,086 ▲2245K 116,986 ▲2245K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 96,058 ▲2013K 104,958 ▲2013K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 91,419 ▲1924K 100,319 ▲1924K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 62,898 ▲1376K 71,798 ▲1376K
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 ▲33K 1,735 ▲33K
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 ▲33K 1,735 ▲33K
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 ▲33K 1,735 ▲33K
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 ▲33K 1,735 ▲33K
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 ▲33K 1,735 ▲33K
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 ▲33K 1,735 ▲33K
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 ▲33K 1,735 ▲33K
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 ▲33K 1,735 ▲33K
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 ▲33K 1,735 ▲33K
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 ▲33K 1,735 ▲33K
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 ▲33K 1,735 ▲33K
Cập nhật: 25/03/2026 23:00
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17832 18106 18682
CAD 18571 18848 19462
CHF 32708 33093 33738
CNY 0 3470 3830
EUR 29935 30208 31236
GBP 34503 34895 35829
HKD 0 3238 3440
JPY 159 163 169
KRW 0 16 18
NZD 0 15021 15608
SGD 20048 20331 20860
THB 722 786 839
USD (1,2) 26084 0 0
USD (5,10,20) 26125 0 0
USD (50,100) 26153 26173 26359
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,139 26,139 26,359
USD(1-2-5) 25,094 - -
USD(10-20) 25,094 - -
EUR 30,003 30,027 31,269
JPY 161.07 161.36 170.07
GBP 34,604 34,698 35,678
AUD 18,016 18,081 18,653
CAD 18,748 18,808 19,385
CHF 32,919 33,021 33,792
SGD 20,142 20,205 20,878
CNY - 3,758 3,858
HKD 3,297 3,307 3,425
KRW 16.18 16.87 18.24
THB 766.78 776.25 826.5
NZD 14,967 15,106 15,460
SEK - 2,772 2,854
DKK - 4,016 4,132
NOK - 2,664 2,742
LAK - 0.93 1.29
MYR 6,211.87 - 6,971.6
TWD 743.5 - 895.18
SAR - 6,895.13 7,218.34
KWD - 83,583 88,386
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,109 26,139 26,359
EUR 30,029 30,150 31,328
GBP 34,728 34,867 35,873
HKD 3,297 3,310 3,426
CHF 32,853 32,985 33,909
JPY 162.03 162.68 170
AUD 18,064 18,137 18,725
SGD 20,262 20,343 20,925
THB 791 794 829
CAD 18,792 18,867 19,438
NZD 15,128 15,659
KRW 16.91 18.56
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26219 26219 26359
AUD 17999 18099 19024
CAD 18748 18848 19864
CHF 32939 32969 34548
CNY 3758.2 3783.2 3918.8
CZK 0 1185 0
DKK 0 4050 0
EUR 30103 30133 31856
GBP 34783 34833 36593
HKD 0 3355 0
JPY 162.25 162.75 173.29
KHR 0 6.097 0
KRW 0 17.1 0
LAK 0 1.172 0
MYR 0 6810 0
NOK 0 2720 0
NZD 0 15121 0
PHP 0 410 0
SEK 0 2830 0
SGD 20203 20333 21066
THB 0 751 0
TWD 0 810 0
SJC 9999 17050000 17050000 17350000
SBJ 15000000 15000000 17350000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,175 26,225 26,359
USD20 26,175 26,225 26,359
USD1 26,175 26,225 26,359
AUD 18,065 18,165 19,280
EUR 30,242 30,242 31,656
CAD 18,717 18,817 20,130
SGD 20,292 20,442 21,453
JPY 162.64 164.14 168.74
GBP 34,660 35,010 35,884
XAU 17,048,000 0 17,352,000
CNY 0 3,670 0
THB 0 785 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 25/03/2026 23:00
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80