Thị trường tiền tệ tuần 20/3 – 24/3:

FED tăng lãi suất nhưng lãi suất liên ngân hàng trong nước giảm sâu

Chí Tín
(TBTCO) - Động thái đáng chú ý trên thị trường tiền tệ tuần qua là việc FED tiếp tục tăng lãi suất. Tuy nhiên, mức độ tăng chỉ ở mức 0,25 điểm phần trăm cho thấy, FED đang phải cân nhắc trước nhiều bài toán vừa kiềm chế lạm phát vừa ổn định thanh khoản hệ thống. Trong khi đó, diễn biến lãi suất liên ngân hàng trong nước giảm sâu cho thấy sự ảnh hưởng của các hành động từ FED đã không còn quá lớn với thị trường trong nước.
aa

Tâm điểm từ việc FED tăng lãi suất

Hành động của Cục Dự trữ liên bang Mỹ (FED) sau cuộc họp kéo dài 2 ngày đã được giới tài chính quốc tế đợi chờ từ khá lâu và trước khi cuộc họp này diễn ra đã có nhiều phán đoán cho các kịch bản khác nhau.

Quyết định cuối cùng của FED là đã tăng 0,25 điểm phần trăm lãi suất, đưa lãi suất quỹ liên bang lên mức 4,75 - 5%. Đây là mức tăng có tính chất ôn hòa giữa 2 thái cực có thể xảy ra, bởi trước đó đã từng có phán đoán FED thậm chí có thể sẽ tăng lãi suất tới 0,5 điểm phần trăm, do tình hình lạm phát còn phức tạp. Tuy nhiên, sự cố phá sản các ngân hàng Mỹ diễn ra cũng dẫn đến những dự đoán mới xuất hiện cho rằng, FED có thể phải tạm dừng việc tăng lãi suất để tập trung ưu tiên cho xử lý khủng hoảng.

Tuy nhiên, việc FED tăng lãi suất ở mức 0,25 điểm phần trăm vẫn là kịch bản được nhận định là trung dung nhất và vô tình kịch bản này khá giống với những dự đoán từ cuối năm 2022, khi các chuyên gia thời điểm đó cho rằng, lãi suất sẽ đạt đỉnh ở 5,1%.

FED tăng lãi suất nhưng lãi suất liên ngân hàng trong nước giảm sâu
Động thái tăng lãi suất của FED thực hiện ở mức trung lập và nằm trong dự đoán. Ảnh: T.L
Những điều cần biết trước quyết định lãi suất của FED Lãi suất liên ngân hàng giảm sâu và tín hiệu tích cực kép

Lãi suất liên ngân hàng giảm sâu

Tại thị trường tiền tệ trong nước, diễn biến lãi suất trên thị trường liên ngân hàng đang đi vào chuỗi ngày giảm sâu. Hiện tại, lãi suất cho vay qua đêm trên thị trường liên ngân hàng xuống chỉ còn 1,55%. Lãi suất các kỳ hạn khác cũng đã giảm xuống mức rất thấp, với kỳ hạn 1 tuần chỉ còn 1,98%; kỳ hạn 2 tuần còn 2,26%; kỳ hạn 1 tháng cũng chỉ còn 4,44%...

Mặt bằng lãi suất liên ngân hàng thời điểm này đã giảm rất sâu so với giai đoạn tăng nóng thời điểm đầu tháng 3 và cũng đã xuyên thủng mặt bằng lãi suất thấp diễn ra giai đoạn giữa tháng 2.

Trước đó hồi đầu tháng 3/2023, lãi suất cho vay qua đêm ghi nhận có lúc đến đã đạt mốc tới 6,4%; các kỳ hạn khác cũng leo lên mặt bằng khá cao với 1 tuần là 6,54%, 2 tuần là 6,65%, 1 tháng là 7,76%...

Lãi suất liên ngân hàng giảm sâu như hiện nay cũng được coi là một tín hiệu cho thấy, tình trạng thanh khoản của hệ thống ngân hàng trong nước đang khá tốt. Điều này một mặt tạo sự yên tâm hơn đối với người gửi tiền Việt Nam trước các biến cố của ngành ngân hàng trên thế giới, thời gian gần đây. Một mặt khác, tín hiệu này cũng là một thông điệp cho thấy lãi suất huy động và cho vay có thể sẽ có điều kiện giảm thêm, giúp doanh nghiệp giảm nhẹ hơn nữa gánh nặng chi phí tài chính trong thời gian tới.

FED tăng lãi suất nhưng lãi suất liên ngân hàng trong nước giảm sâu
Thị trường tiền tệ thế giới gần đây có nhiều biến cố, nhưng thanh khoản của hệ thống ngân hàng trong nước vẫn khá tốt. Ảnh: T.L

Tỷ giá vẫn giữ đà đi xuống

Tuần qua, diễn biến tỷ giá cho thấy diễn biến ổn định, có chiều hướng giảm nhẹ. Cụ thể, tỷ giá trung tâm giữ ổn định trong các ngày đầu tuần và sau đó đi vào trạng thái giảm sâu vào ngày cuối tuần. Đầu tuần, tỷ giá USD trung tâm được Ngân hàng Nhà nước (NHNN) công bố ở mức 23.619 đồng/USD, và đến hôm thứ sáu cuối tuần còn 23.600 đồng/USD, theo đó USD trung tâm giảm 19 đồng mỗi USD trong tuần vừa qua.

Các yếu tố vĩ mô đều đang có lợi cho tỷ giá

Xuất khẩu tăng trưởng tốt, dự trữ ngoại hối dồi dào và diễn biến yếu đi của đồng USD trên thị trường quốc tế đều là những yếu tố có lợi cho tỷ giá đồng Việt Nam so với USD.

Trong khi đó, tỷ giá niêm yết tại Vietcombank cũng diễn biến theo chiều hướng giảm. Mở đầu tuần, Vietcombank niêm yết tỷ giá ở mức 23.380/23.410/23.750 đồng/USD. Sau đó sau một số phiên giữ giá và một số phiên điều chỉnh giảm trong tuần, tỷ giá tại Vietcombank vào hôm cuối tuần ghi nhận ở mức 23.310/23.340/23.680 đồng/USD. Diễn biến chung trong cả tuần, tỷ giá tại Vietcombank giảm khoảng 70 đồng mỗi USD.

Tình hình chung của tỷ giá hiện nay đang có diễn biến khá thuận lợi. Ngoài yếu tố thuận lợi do tình hình xuất siêu thời gian qua, việc NHNN đã mua dự trữ ngoại tệ trong thời điểm đầu năm 2023 cho thấy khả năng kiểm soát tỷ giá của NHNN thời điểm hiện tại là đang khá tốt. Ngoài ra sau biến cố tại một số ngân hàng Mỹ, USD cũng có xu hướng bị yếu đi so với trước và điều này cũng càng ít tạo áp lực cho tỷ giá đối với VND của Việt Nam.

Giá vàng diễn biến bất ổn định

Trong những giai đoạn trước, FED tăng lãi suất thường dẫn đến động thái giảm giá vàng do nắm giữ vàng không có lãi suất, nên xu hướng đầu tư sẽ hướng sang các sản phẩm tài chính có lãi suất cố định để hưởng lãi cao hơn. Tuy nhiên, quy luật này không diễn ra trong đợt tăng lãi suất lần này của FED mà ngược lại, giá vàng quốc tế thậm chí vẫn tăng ngay ngày hôm sau khi FED chính thức tăng lãi suất.

Mặc dù vậy, diễn biến giá vàng cũng trong trạng thái bất ổn định do chịu tác động của nhiều yếu tố đan xen lẫn nhau. Một mặt, USD yếu đi khiến cho vàng trở nên có giá hơn trong mối so sánh với USD. Tuy nhiên, nhà đầu tư cũng không đổ tiền vào vàng quá nhiều dẫn việc kim loại quý này tuy có thời điểm tăng, nhưng lập tức chịu áp lực chốt lời ngay sau đó và điều chỉnh giảm trở lại.

Tại thị trường trong nước, giá vàng miếng 9999 của SJC hôm đầu tuần ngày 20/3 ghi nhận ở mức 66,65 triệu đồng/lượng mua vào và 67,37 triệu đồng/lượng bán ra, cuối tuần thấp hơn khoảng 100 nghìn đồng/lượng với 66,55 triệu đồng/lượng mua vào và 67,27 triệu đồng/lượng bán ra.

USD yếu khiến việc tăng lãi suất lần này của FED không gây áp lực tăng giá USD như các lần trước

Điều đáng chú ý trong lần tăng lãi suất lần này của FED là áp lực tăng giá USD cũng không xảy ra như những lần trước, bởi trong giai đoạn hỗ trợ thanh khoản các ngân hàng thì Chính phủ Mỹ cũng phải tăng cung USD. Theo đó, các quốc gia khác cũng sẽ ít chịu sức ép phải tăng lãi suất theo FED để giữ giá trị đồng tiền bản tệ như những lần tăng lãi suất trước đây của FED.

Chí Tín

Đọc thêm

Tỷ giá USD hôm nay (28/5): USD biến động hẹp, thị trường thận trọng trước đàm phán Mỹ - Iran

Tỷ giá USD hôm nay (28/5): USD biến động hẹp, thị trường thận trọng trước đàm phán Mỹ - Iran

(TBTCO) - Sáng ngày 28/5, tỷ giá trung tâm được Ngân hàng Nhà nước công bố ở mức 25.137 đồng, giữ nguyên so với phiên trước. Trong khi đó, DXY hiện ở mức 99,29 điểm, biến động nhẹ khi giới đầu tư tiếp tục theo dõi các cuộc đàm phán giữa Mỹ - Iran; đồng thời thận trọng chờ loạt dữ liệu kinh tế quan trọng của Mỹ về lạm phát và tăng trưởng công bố cuối tuần.
Tỷ giá USD hôm nay (26/5): USD tự do giảm mạnh kéo chênh lệch với ngân hàng co hẹp

Tỷ giá USD hôm nay (26/5): USD tự do giảm mạnh kéo chênh lệch với ngân hàng co hẹp

(TBTCO) - Sáng ngày 26/5, tỷ giá trung tâm được công bố ở mức 25.138 đồng, tăng 2 đồng. Trong khi đó, USD tự do giảm mạnh khoảng 100 đồng, thu hẹp đáng kể chênh lệch với giá USD tại ngân hàng thương mại. Chỉ số DXY ở mức 99,03 điểm với kỳ vọng Mỹ và Iran có thể đạt được thỏa thuận, bao gồm khả năng mở lại eo biển Hormuz.
Tỷ giá USD hôm nay (25/5): Tỷ giá trung tâm nhích nhẹ, đồng USD được hỗ trợ bởi kỳ vọng Fed tăng lãi suất

Tỷ giá USD hôm nay (25/5): Tỷ giá trung tâm nhích nhẹ, đồng USD được hỗ trợ bởi kỳ vọng Fed tăng lãi suất

(TBTCO) - Sáng ngày 25/5, tỷ giá trung tâm đầu tuần được Ngân hàng Nhà nước công bố ở mức 25.136 đồng, tăng 2 đồng. Trong khi chỉ số DXY duy trì quanh 99,24 điểm, tiến gần ngưỡng tâm lý 100 điểm. Đồng USD được hỗ trợ bởi kỳ vọng Fed có thể tiếp tục nâng lãi suất trước cuối năm, trong bối cảnh thị trường theo dõi sát diễn biến địa chính trị và áp lực lạm phát.
Tỷ giá USD hôm nay (23/5): USD tự do tăng 120 đồng tuần qua, DXY giữ vùng cao khi lợi suất trái phiếu Mỹ tăng vọt

Tỷ giá USD hôm nay (23/5): USD tự do tăng 120 đồng tuần qua, DXY giữ vùng cao khi lợi suất trái phiếu Mỹ tăng vọt

(TBTCO) - Sáng ngày 23/5, tỷ giá trung tâm phiên cuối tuần ở mức 25.134 đồng, tăng 3 đồng tuần qua. USD tự do giao dịch phổ biến quanh 26.480 - 26.520 VND/USD, tăng khoảng 120 đồng sau nhiều tuần giảm sâu. Trong khi đó, chỉ số DXY chốt tuần quanh 99,3 điểm, tăng nhẹ 0,02% tuần qua, áp lực lãi suất tiếp tục gia tăng khi lợi suất trái phiếu chính phủ Mỹ tăng mạnh ở nhiều kỳ hạn.
Thị trường tiền tệ tuần 18 - 22/5: Bơm ròng 8.000 tỷ đồng, lãi suất liên ngân hàng dự báo duy trì vùng cân bằng 6%

Thị trường tiền tệ tuần 18 - 22/5: Bơm ròng 8.000 tỷ đồng, lãi suất liên ngân hàng dự báo duy trì vùng cân bằng 6%

(TBTCO) - Diễn biến nổi bật trên thị trường tiền tệ tuần qua từ ngày 18 - 22/5 cho thấy, Ngân hàng Nhà nước bơm ròng khoảng 8.000 tỷ đồng qua kênh OMO trong bối cảnh lãi suất liên ngân hàng duy trì quanh vùng 6% - mức được xem là đủ để hỗ trợ tỷ giá nhưng chưa tạo áp lực lớn lên lãi suất huy động. Trong khi đó, tỷ giá trung tâm tăng chậm lại, song áp lực từ đồng USD quốc tế neo cao vẫn hiện hữu.
Tỷ giá USD hôm nay (22/5): Tỷ giá trung tâm lùi nhẹ, USD giữ đà tăng khi Fed đối mặt áp lực từ lãi suất thực âm

Tỷ giá USD hôm nay (22/5): Tỷ giá trung tâm lùi nhẹ, USD giữ đà tăng khi Fed đối mặt áp lực từ lãi suất thực âm

(TBTCO) - Sáng ngày 22/5, Ngân hàng Nhà nước công bố tỷ giá trung tâm phiên cuối tuần ở mức 25.134 đồng, giảm 1 đồng so với phiên trước, trong khi chỉ số DXY tăng 0,04% lên 99,24 điểm. Đồng USD tiếp tục được hỗ trợ khi lãi suất thực tại Mỹ lần đầu rơi vào vùng âm sau 03 năm, gia tăng kỳ vọng Fed sẽ duy trì chính sách tiền tệ thắt chặt lâu hơn.
Tỷ giá USD hôm nay (21/5): USD tự do tăng lên 26.500 đồng, lợi suất trái phiếu Nhật Bản tăng vọt thành tâm điểm

Tỷ giá USD hôm nay (21/5): USD tự do tăng lên 26.500 đồng, lợi suất trái phiếu Nhật Bản tăng vọt thành tâm điểm

(TBTCO) - Sáng ngày 21/5, tỷ giá trung tâm được giữ ở mức 25.135 đồng, trong khi USD tự do tăng lên quanh 26.500 đồng. DXY duy trì quanh 99,11 điểm, gần vùng cao nhất nhiều tuần do kỳ vọng Fed sẽ duy trì chính sách tiền tệ thắt chặt lâu hơn. Cùng lúc, lợi suất trái phiếu Nhật Bản tăng vọt lên mức cao nhất nhiều thập kỷ, khiến giới đầu tư toàn cầu chú ý.
Tỷ giá USD hôm nay (20/5): Tỷ giá trung tâm tiếp tục tăng, DXY giữ đà phục hồi trên 99 điểm

Tỷ giá USD hôm nay (20/5): Tỷ giá trung tâm tiếp tục tăng, DXY giữ đà phục hồi trên 99 điểm

(TBTCO) - Sáng ngày 20/5, tỷ giá trung tâm được Ngân hàng Nhà nước nâng lên 25.135 đồng, tăng 2 đồng. Chỉ số DXY hiện ở mức 99,3 điểm, giữ đà phục hồi sau một đợt điều chỉnh mạnh vào ngày trước đó, phản ánh kỳ vọng Fed chưa sớm cắt giảm lãi suất trong năm nay. Đồng yên tiếp tục chịu áp lực mất giá dù kinh tế Nhật Bản tăng trưởng vượt dự báo.
Xem thêm

Mới nhất Đọc nhiều

DOJI Giá mua Giá bán
SJC -Bán Lẻ 15,600 15,900
Kim TT/AVPL 15,600 15,900
NHẪN TRÒN 9999 HƯNG THỊNH VƯỢNG 15,600 15,900
Nguyên Liệu 99.99 14,550 14,750
Nguyên Liệu 99.9 14,500 14,700
NỮ TRANG 9999 - BÁN LẺ 15,200 15,600
NỮ TRANG 999 - BÁN LẺ 15,150 15,550
Nữ trang 99 - Bán Lẻ 15,080 15,530
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 156,000 159,000
Hà Nội - PNJ 156,000 159,000
Đà Nẵng - PNJ 156,000 159,000
Miền Tây - PNJ 156,000 159,000
Tây Nguyên - PNJ 156,000 159,000
Đông Nam Bộ - PNJ 156,000 159,000
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 15,600 15,900
Miếng SJC Nghệ An 15,600 15,900
Miếng SJC Thái Bình 15,600 15,900
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 15,600 15,900
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 15,600 15,900
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 15,600 15,900
NL 99.90 14,200
NL 99.99, Nhẫn Tròn Thái Bình 14,250
Trang sức 99.9 15,090 15,790
Trang sức 99.99 15,100 15,800
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 156 159
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 156 15,902
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 156 15,903
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,558 1,588
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,558 1,589
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,538 1,573
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 149,243 155,743
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 109,237 118,137
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 98,225 107,125
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 87,213 96,113
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 82,965 91,865
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 56,851 65,751
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 156 159
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 156 159
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 156 159
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 156 159
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 156 159
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 156 159
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 156 159
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 156 159
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 156 159
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 156 159
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 156 159
Cập nhật: 31/05/2026 10:00
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 18361 18636 19213
CAD 18535 18812 19430
CHF 33019 33405 34057
CNY 0 3847 3940
EUR 30037 30311 31344
GBP 34603 34996 35934
HKD 0 3226 3429
JPY 158 162 168
KRW 0 16 18
NZD 0 15443 16028
SGD 20061 20344 20872
THB 723 786 842
USD (1,2) 26041 0 0
USD (5,10,20) 26082 0 0
USD (50,100) 26111 26125 26395
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,125 26,125 26,395
USD(1-2-5) 25,080 - -
USD(10-20) 25,080 - -
EUR 30,185 30,209 31,517
JPY 160.99 161.28 170.29
GBP 34,795 34,889 35,942
AUD 18,527 18,594 19,218
CAD 18,755 18,815 19,425
CHF 33,213 33,316 34,153
SGD 20,213 20,276 20,985
CNY - 3,820 3,949
HKD 3,297 3,307 3,431
KRW 16.13 16.82 18.22
THB 772.31 781.85 833.27
NZD 15,364 15,507 15,900
SEK - 2,802 2,888
DKK - 4,039 4,164
NOK - 2,797 2,883
LAK - 0.91 1.27
MYR 6,214.15 - 6,983.75
TWD 758.63 - 915.14
SAR - 6,905.73 7,242.67
KWD - 83,643 88,617
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,115 26,135 26,395
EUR 30,113 30,234 31,425
GBP 34,770 34,910 35,930
HKD 3,292 3,305 3,421
CHF 33,019 33,152 34,100
JPY 161.43 162.08 169.44
AUD 18,503 18,577 19,173
SGD 20,270 20,351 20,941
THB 789 792 827
CAD 18,755 18,830 19,406
NZD 15,418 15,960
KRW 16.80 18.44
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26155 26155 26395
AUD 18476 18576 19501
CAD 18694 18794 19806
CHF 33197 33227 34810
CNY 3826.2 3851.2 3986.4
CZK 0 1220 0
DKK 0 4140 0
EUR 30171 30201 31924
GBP 34787 34837 36595
HKD 0 3355 0
JPY 161.61 162.11 172.62
KHR 0 6.097 0
KRW 0 17 0
LAK 0 1.165 0
MYR 0 6920 0
NOK 0 2850 0
NZD 0 15488 0
PHP 0 400 0
SEK 0 2840 0
SGD 20199 20329 21057
THB 0 752.5 0
TWD 0 820 0
SJC 9999 15550000 15550000 15850000
SBJ 13500000 13500000 15850000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,046 26,046 26,395
USD20 26,046 26,046 26,395
USD1 26,046 26,046 26,395
AUD 18,507 18,607 19,799
EUR 30,297 30,297 31,705
CAD 18,644 18,744 20,051
SGD 20,279 20,429 20,990
JPY 162.12 163.62 168.15
GBP 34,668 35,018 35,882
XAU 15,548,000 0 15,852,000
CNY 0 3,736 0
THB 0 788 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 31/05/2026 10:00
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80