Giá vàng hôm nay ngày 15/1: Vàng miếng, vàng nhẫn đồng loạt tăng mạnh

Thu Hương
(TBTCO) - Giá vàng trong nước rạng sáng 15/1 tăng mạnh tại nhiều thương hiệu, đưa mặt bằng giao dịch lên vùng 161 - 163,5 triệu đồng/lượng. Trên thị trường quốc tế, giá vàng tiếp tục bứt phá lên vùng 4.600 USD/ounce.
aa

Giá vàng trong nước

Theo khảo sát của phóng viên, rạng sáng ngày 15/1, giá vàng miếng trong nước đồng loạt tăng mạnh so với phiên trước đó. Tại các doanh nghiệp kinh doanh vàng lớn như DOJI, Bảo Tín Minh Châu, SJC và PNJ, giá mua – bán vàng miếng cùng được điều chỉnh tăng thêm 1,5 triệu đồng/lượng, đưa mặt bằng giao dịch phổ biến lên vùng 161,5 - 163,5 triệu đồng/lượng.

Cùng xu hướng này, Tập đoàn Vàng bạc Đá quý Phú Quý niêm yết giá vàng miếng ở mức 161 triệu đồng/lượng mua vào và 163,5 triệu đồng/lượng bán ra. So với rạng sáng ngày hôm qua, mức giá này cũng tăng 1,5 triệu đồng/lượng ở cả hai chiều mua và bán.

Giá vàng hôm nay ngày 15/1: Vàng miếng, vàng nhẫn đồng loạt tăng mạnh
Giá vàng trong nước tính đến thời điểm sáng ngày 15/1. Nguồn: PV tổng hợp.

Không chỉ vàng miếng, phân khúc vàng nhẫn trong nước rạng sáng nay tiếp tục ghi nhận xu hướng tăng tại nhiều thương hiệu. Vàng nhẫn SJC được giao dịch ở mức 157,9 triệu đồng/lượng mua vào và 160,4 triệu đồng/lượng bán ra, tăng 1,4 triệu đồng/lượng so với phiên trước ở cả hai chiều giao dịch.

Tại DOJI, giá vàng nhẫn được điều chỉnh lên 158,5 triệu đồng/lượng mua vào và 161,5 triệu đồng/lượng bán ra, cao hơn rạng sáng hôm qua 1,5 triệu đồng/lượng. Trong khi đó, PNJ niêm yết vàng nhẫn ở mức 158 - 161 triệu đồng/lượng, cũng tăng 1,5 triệu đồng/lượng so với phiên trước.

Đáng chú ý, Bảo Tín Minh Châu điều chỉnh giá vàng nhẫn lên mức cao hơn mặt bằng chung, với 160,5 triệu đồng/lượng mua vào và 163,5 triệu đồng/lượng bán ra, tăng 1,5 triệu đồng/lượng.

Tại Tập đoàn Phú Quý, vàng nhẫn được giao dịch ở mức 158,5 - 161,5 triệu đồng/lượng, tăng 1,2 triệu đồng/lượng ở cả hai chiều mua và bán so với rạng sáng ngày hôm qua.

Giá vàng thế giới

Trên thị trường quốc tế, ghi nhận của phóng viên vào lúc 6 giờ sáng (theo giờ Việt Nam), giá vàng tiếp tục bứt phá mạnh mẽ khi tăng hơn 40 USD/ounce, hiện giao dịch quanh ngưỡng 4.620 USD/ounce. Với mức giá này, nếu quy đổi theo tỷ giá niêm yết tại Vietcombank, vàng thế giới tương đương khoảng 147 triệu đồng/lượng, vẫn thấp hơn vàng miếng SJC trong nước khoảng 16,5 triệu đồng/lượng.

Giá vàng hôm nay ngày 15/1: Vàng miếng, vàng nhẫn đồng loạt tăng mạnh
Diễn biến giá vàng thế giới trong 24 giờ qua. Nguồn: Kitco.

Đà tăng ấn tượng của vàng diễn ra trong bối cảnh thị trường kim loại quý toàn cầu chứng kiến một phiên giao dịch bùng nổ, khi cả vàng và bạc đồng loạt thiết lập các mức đỉnh mới. Theo giới phân tích, động lực chính đến từ việc lạm phát tại Mỹ hạ nhiệt, qua đó củng cố kỳ vọng Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed) sẽ sớm bước vào chu kỳ cắt giảm lãi suất trong năm nay. Cùng với đó, những bất ổn địa chính trị và rủi ro kinh tế ngày càng gia tăng cũng thúc đẩy dòng tiền tìm đến các tài sản trú ẩn an toàn.

Trong phiên, giá vàng giao ngay có thời điểm vọt lên 4.634,33 USD/ounce, mức cao nhất từ trước đến nay trước khi điều chỉnh nhẹ và ổn định quanh mốc 4.600 USD/ounce. Diễn biến này phản ánh tâm lý lạc quan nhưng cũng thận trọng của nhà đầu tư khi giá đã tăng lên vùng rất cao trong thời gian ngắn.

Nhận định về triển vọng trung hạn, các chuyên gia của HSBC cho rằng, rủi ro địa chính trị leo thang cùng với gánh nặng nợ công toàn cầu ngày càng lớn có thể tiếp tục là lực đẩy quan trọng đối với giá vàng. Theo kịch bản của ngân hàng này, kim loại quý có thể tiến tới vùng 5.050 USD/ounce trong nửa đầu năm 2026. Tuy nhiên, họ cũng lưu ý rằng mặt bằng giá cao đồng nghĩa với khả năng xuất hiện một nhịp điều chỉnh mạnh hơn trong nửa cuối năm, khi các yếu tố hỗ trợ suy yếu dần.

Ở góc nhìn tương tự, các nhà phân tích của Citibank dự báo giá vàng sẽ vượt mốc 5.000 USD/ounce ngay trong quý I/2026, trong khi bạc có thể tiến tới ngưỡng 100 USD/ounce. Lý giải cho việc nâng mạnh dự báo, Citibank dẫn ba yếu tố chính gồm rủi ro địa chính trị gia tăng, tình trạng thiếu hụt kéo dài trên thị trường vật chất và những bất ổn mới xoay quanh tính độc lập của Fed.

Dù cả vàng và bạc đều đã lập kỷ lục mới ngay từ đầu năm, Citibank vẫn duy trì quan điểm rằng bạc có thể tiếp tục vượt trội so với vàng trong ngắn hạn. Tuy vậy, về dài hạn, ngân hàng này cho rằng vai trò dẫn dắt của nhóm kim loại cơ bản sẽ ngày càng rõ nét hơn trong bức tranh thị trường hàng hóa toàn cầu.

Trong kịch bản cập nhật mới nhất, Citibank giả định căng thẳng địa chính trị sẽ dần hạ nhiệt sau quý I, kéo theo nhu cầu đối với các kim loại quý suy yếu trong nửa cuối năm.

Trong số đó, vàng được đánh giá là tài sản dễ chịu áp lực điều chỉnh nhất. Ngược lại, các kim loại công nghiệp như nhôm và đồng vẫn được kỳ vọng sẽ có diễn biến tích cực hơn trong nửa cuối năm 2026, nhờ triển vọng phục hồi nhu cầu và các yếu tố cung - cầu thuận lợi hơn.

Thu Hương

Đọc thêm

Giá vàng hôm nay ngày 23/3: Giá vàng giao dịch quanh ngưỡng 168 - 171 triệu đồng/lượng

Giá vàng hôm nay ngày 23/3: Giá vàng giao dịch quanh ngưỡng 168 - 171 triệu đồng/lượng

(TBTCO) - Sáng ngày 23/3, giá vàng trong nước đi ngang khi các thương hiệu lớn đồng loạt giữ nguyên giá, với mặt bằng giao dịch phổ biến quanh 168 - 171 triệu đồng/lượng.
Giá vàng hôm nay ngày 22/3: Giá vàng lao dốc, “bốc hơi” hơn 5 triệu đồng/lượng

Giá vàng hôm nay ngày 22/3: Giá vàng lao dốc, “bốc hơi” hơn 5 triệu đồng/lượng

(TBTCO) - Giá vàng trong nước sáng ngày 22/3 đồng loạt giảm mạnh tại nhiều doanh nghiệp lớn, với mức giảm phổ biến hơn 5 triệu đồng/lượng, đưa mặt bằng giá lùi về quanh ngưỡng 168 - 171 triệu đồng/lượng.
Giá vàng hôm nay ngày 21/3: Giá vàng quay đầu tăng sau phiên giảm sâu

Giá vàng hôm nay ngày 21/3: Giá vàng quay đầu tăng sau phiên giảm sâu

(TBTCO) - Giá vàng trong nước sáng ngày 21/3 đảo chiều tăng trở lại tại hầu hết doanh nghiệp lớn. Mặt bằng giá được điều chỉnh tăng từ 300.000 - 600.000 đồng/lượng ở cả phân khúc vàng miếng và vàng nhẫn.
Giá vàng hôm nay ngày 20/3: Giá vàng giảm mạnh lên đến 7,5 triệu đồng/lượng

Giá vàng hôm nay ngày 20/3: Giá vàng giảm mạnh lên đến 7,5 triệu đồng/lượng

(TBTCO) - Giá vàng trong nước sáng ngày 20/3 giảm mạnh tại hầu hết doanh nghiệp, với mức điều chỉnh lên tới 7,5 triệu đồng/lượng, đưa mặt bằng giao dịch lùi về quanh 172 - 175 triệu đồng/lượng.
Bán tháo vàng và bạc tăng mạnh khi nỗi lo lạm phát bao trùm thị trường toàn cầu

Bán tháo vàng và bạc tăng mạnh khi nỗi lo lạm phát bao trùm thị trường toàn cầu

(TBTCO) - Vàng và bạc cùng tham gia đợt bán tháo trên diện rộng vào ngày 19/3, với giá giảm lần lượt khoảng 5% và 10%, do lo ngại về cuộc chiến tại Iran và lạm phát bao trùm thị trường toàn cầu.
WGC thúc đẩy hạ tầng chung, vàng kỹ thuật số có thể trở thành tài sản thế chấp

WGC thúc đẩy hạ tầng chung, vàng kỹ thuật số có thể trở thành tài sản thế chấp

Hội đồng Vàng Thế giới (WGC) vừa công bố sáng kiến “Vàng như một dịch vụ” (Gold-as-a-Service) nhằm xây dựng hạ tầng mới, mở ra giai đoạn phát triển tiếp theo cho vàng kỹ thuật số. Mô hình này được kỳ vọng định hình lại cách phát hành, vận hành các sản phẩm, tăng tính liên thông, thanh khoản; qua đó, vàng kỹ thuật số có thể dùng làm tài sản thế chấp cho các khoản vay.
Giá vàng hôm nay ngày 19/3:  Vàng nhẫn giảm giá tại nhiều doanh nghiệp lớn

Giá vàng hôm nay ngày 19/3: Vàng nhẫn giảm giá tại nhiều doanh nghiệp lớn

(TBTCO) - Sáng ngày 19/3, giá vàng nhẫn được niêm yết quanh vùng 178,8 - 182,9 triệu đồng/lượng, ghi nhận điều chỉnh giảm tại một số doanh nghiệp lớn.
Giá vàng hôm nay ngày 17/3: Giá vàng tăng nhẹ 500.000 đồng/lượng

Giá vàng hôm nay ngày 17/3: Giá vàng tăng nhẹ 500.000 đồng/lượng

(TBTCO) - Giá vàng trong nước sáng 17/3 ghi nhận tăng nhẹ khi nhiều doanh nghiệp đồng loạt nâng giá vàng miếng và vàng nhẫn thêm khoảng 500.000 đồng/lượng.
Xem thêm
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17780 18054 18629
CAD 18528 18805 19418
CHF 32621 33005 33653
CNY 0 3470 3830
EUR 29840 30113 31141
GBP 34394 34786 35728
HKD 0 3238 3440
JPY 158 162 168
KRW 0 16 18
NZD 0 14983 15570
SGD 20001 20283 20811
THB 719 782 835
USD (1,2) 26077 0 0
USD (5,10,20) 26118 0 0
USD (50,100) 26146 26166 26357
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,137 26,137 26,357
USD(1-2-5) 25,092 - -
USD(10-20) 25,092 - -
EUR 29,921 29,945 31,186
JPY 160.54 160.83 169.53
GBP 34,535 34,628 35,609
AUD 17,934 17,999 18,566
CAD 18,694 18,754 19,327
CHF 32,838 32,940 33,708
SGD 20,114 20,177 20,847
CNY - 3,780 3,897
HKD 3,300 3,310 3,428
KRW 16.12 16.81 18.18
THB 765.32 774.77 825.43
NZD 14,937 15,076 15,430
SEK - 2,766 2,847
DKK - 4,004 4,120
NOK - 2,670 2,748
LAK - 0.93 1.28
MYR 6,189.53 - 6,948.24
TWD 743.56 - 894.69
SAR - 6,897.55 7,220.87
KWD - 83,576 88,380
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,107 26,137 26,357
EUR 29,877 29,997 31,173
GBP 34,551 34,690 35,694
HKD 3,300 3,313 3,428
CHF 32,676 32,807 33,723
JPY 161.21 161.86 169.12
AUD 17,923 17,995 18,581
SGD 20,190 20,271 20,850
THB 783 786 821
CAD 18,705 18,780 19,347
NZD 15,025 15,555
KRW 16.77 18.40
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26150 26150 26357
AUD 17917 18017 18943
CAD 18692 18792 19809
CHF 32837 32867 34454
CNY 3753.6 3778.6 3914.1
CZK 0 1185 0
DKK 0 4050 0
EUR 29990 30020 31748
GBP 34660 34710 36473
HKD 0 3355 0
JPY 161.6 162.1 172.64
KHR 0 6.097 0
KRW 0 17.1 0
LAK 0 1.172 0
MYR 0 6810 0
NOK 0 2720 0
NZD 0 15065 0
PHP 0 410 0
SEK 0 2830 0
SGD 20154 20284 21006
THB 0 748.2 0
TWD 0 810 0
SJC 9999 17050000 17050000 17350000
SBJ 15000000 15000000 17350000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,167 26,217 26,357
USD20 26,167 26,217 26,357
USD1 23,847 26,217 26,357
AUD 17,973 18,073 19,192
EUR 30,143 30,143 31,577
CAD 18,652 18,752 20,073
SGD 20,242 20,392 20,971
JPY 162.11 163.61 168.28
GBP 34,570 34,920 36,015
XAU 17,048,000 0 17,352,000
CNY 0 3,666 0
THB 0 783 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 26/03/2026 13:00
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80